|
(VietCatholicNews
07/12/2007)
THÔNG ĐIỆP
SPE SALVI
CỦA ĐỨC THÁNH CHA
BÊNÊĐÍCTÔ XVI
GỞI CÁC ĐỨC GIÁM MỤC
CÁC LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ
CÁC NAM NỮ TU SĨ
VÀ TẤT CẢ ANH CHỊ EM TÍN HỮU
VỀ NIỀM HY VỌNG KITÔ GIÁO
Dẫn Nhập
1. “SPE SALVI facti sumus ” —Chúng ta được cứu rỗi trong hy vọng,
Thánh Phaolô đă nói như thế với dân chúng thành Rôma, cũng như với chúng
ta (Rom 8:24). Theo niềm tin Kitô, “ơn cứu chuộc” – hay ơn cứu độ
- không chỉ đơn giản là một điều được trao ban. Ơn cứu chuộc được ban
cho chúng ta theo nghĩa là chúng ta đă được trao cho hy vọng – một niềm
hy vọng đáng tin cậy, qua đó, chúng ta có thể đối diện với thực tại của
chúng ta: thực tại mà cho dù là cam go đi nữa cũng có thể sống được và
chấp nhận được nếu nó dẫn đến một mục đích, nếu chúng ta có thể được bảo
đảm về mục đích này, và nếu mục đích này cao cả đến mức biện minh được
cho nỗ lực cam go của cuộc hành tŕnh. Giờ đây, một câu hỏi được đặt ra
là: niềm hy vọng nào có thể biện minh được cho khẳng định là, trên cơ sở
của niềm hy vọng đó và chỉ v́ niềm hy vọng đó tồn tại, mà chúng ta được
cứu chuộc? Và ở đây mức độ chắc chắn là bao nhiêu?
Đức Tin là Hy Vọng
2. Trước khi hướng đến những câu hỏi thời sự này, chúng ta cần lắng nghe
gần hơn một chút với chứng tá của Thánh Kinh về hy vọng. “Hy vọng”, thực
ra, là một từ chủ yếu trong Thánh Kinh – đến mức trong nhiều đoạn những
từ “đức tin” và “hy vọng” dường như có thể hoán chuyển cho nhau. V́ thế
Thư Do Thái liên kết chặt chẽ “sự viên măn của đức tin” (10:22)
với “sự tuyên xưng cách quả quyết niềm hy vọng của chúng ta” (10:23).
Cũng thế, trong thư Thứ Nhất, khi Thánh Phêrô khích lệ các Kitô hữu hăy
luôn luôn sẵn sàng đưa ra câu trả lời liên quan đến logos – ư
nghĩa và lư do –cho niềm hy vọng của họ (x. 3:15), th́ từ “hy vọng” là
tương đương với từ “đức tin”. Chúng ta thấy sự hiểu biết về chính ḿnh
của các tín hữu Kitô sơ khai đă được h́nh thành mạnh mẽ đến mức nào khi
họ nhận được hồng ân của một niềm hy vọng đáng tin cậy, hay khi chúng ta
so sánh cuộc sống Kitô với cuộc sống trước khi có đức tin, hay với t́nh
trạng của các tín hữu thuộc các tôn giáo khác. Thánh Phaolô nhắc nhở dân
thành Êphêsô rằng trưóc khi gặp gỡ Chúa Kitô, họ sống “không hy vọng và
không có Thiên Chúa trên đời” (Eph 2:12). Dĩ nhiên, thánh nhân
biết rơ họ đă từng có những thần minh, ngài biết là họ đă từng có tín
ngưỡng, nhưng những thần minh của họ đă cho thấy là đáng ngờ vực, và
chẳng có tia hy vọng nào loé lên từ những huyền thoại đối kháng nhau.
Dù có bao nhiêu thần minh đi nữa, họ sống “không có Thiên Chúa” và hệ
quả là họ thấy ḿnh sống trong một thế giới tối tăm, đối diện với tương
lai mịt mù. Một điếu văn trong thời kỳ này có đoạn viết: In nihil ab
nihilo quam cito recidimus (Chúng ta nhanh chóng rơi từ hư vô này
đến hư vô khác) 1. Trong câu này, chúng ta thấy những khía
cạnh bất định mà Thánh Phaolô đă chỉ ra. Cũng thế, ngài nói với dân
thành Thêsalônia: anh em “đừng buồn sầu như những kẻ không có niềm hy
vọng” (1 Th 4:13). Ở đây, chúng ta thấy một dấu chỉ nổi bật của
những tín hữu Kitô: họ có tương lai, không phải là họ biết tường tận chi
tiết về những ǵ đang chờ đợi họ, nhưng họ biết cách tổng quát là cuộc
sống của họ không kết thúc trong hư không. Khi tương lai được bảo đảm
như một thực tại tích cực th́ lúc đó hiện tại trở nên có thể sống được.
V́ thế, giờ đây chúng ta có thể nói rằng: Kitô Giáo không chỉ là một
“tin mừng” – theo nghĩa là một thông điệp về một điều chưa từng được
biết. Trong ngôn ngữ thời nay, chúng ta có thể nói: thông điệp Kitô Giáo
không chỉ là có tính “thông tin” (“informative”) nhưng c̣n có tính “tác
động” (“performative”). Nghĩa là: Tin Mừng không chỉ là một thông truyền
về những sự việc có thể thông biết – nhưng là một điều khiến các sự kiện
xảy ra và thay đổi cuộc sống. Cánh cửa mịt mù tăm tối của thời gian, của
tương lai, đă được mở toang. Ai có niềm hy vọng th́ sống khác biệt hẳn;
v́ người có niềm hy vọng đă được ban cho cho hồng ân một cuộc sống mới.
3, Nhưng, ở đây lại nảy sinh một câu hỏi khác: niềm hy vọng này chứa
đựng điều ǵ khi được coi là niềm hy vọng “giải thoát”? Cốt lơi của câu
trả lời được chỉ ra trong một câu từ Thư gởi các tín hữu thành Êphêsô
được trích dẫn bên trên: các tín hữu thành Êphêsô trước khi gặp gỡ Chúa
Kitô đă sống không có niềm hy vọng v́ họ sống “không có Chúa trong đời”.
Nhận biết Thiên Chúa - Thiên Chúa thật – nghĩa là nhận lấy hy vọng.
Chúng ta, những người đă từng luôn sống với khái niệm Kitô Giáo về Thiên
Chúa, và đă trở nên quen thuộc với khái niệm này, dường như đă ngừng chú
ư rằng chúng ta mang trong ḿnh một niềm hy vọng nảy sinh từ cuộc gặp gỡ
với vị Thiên Chúa này. Gương của một vị thánh trong thời đại chúng ta, ở
một mức độ nào đó, có thể giúp hiểu được ư nghĩa của cuộc gặp gỡ thực sự
lần đầu tiên với vị Thiên Chúa đó. Tôi nghĩ đến thánh nữ Josephine
Bakhita người Phi Châu, đă được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong
hiển thánh. Ngài sinh tại Darfur bên Sudan khoảng 1869 – chính ngài
không biết ngày sinh chính xác của ḿnh là ngày nào. Khi lên 9, ngài bị
bắt cóc bởi những kẻ buôn bán nô lệ, bị đánh đập đổ máu, và bị bán đi
bán lại đến 5 lần trong các chợ buôn nô lệ tại Sudan. Cuối cùng, ngài
sống như nô lệ trong nhà thân mẫu và phu nhân của một vị tướng, và ở đó,
hàng ngày ngài bị đánh đập toé máu; và hệ quả là ngài phải mang trong
người 144 vết thẹo đến hết cuộc đời. Cuối cùng, năm 1882, một thương gia
người Ư đă mua ngài cho viên lănh sự Ư Callisto Legnani, người đă trở về
Italia khi quân Mahdists nổi dậy. Ở đó, sau “những ông chủ” đáng sợ,
những người đă làm chủ ngài cho đến lúc đó, Bakhita đă biết đến một “tôn
chủ” hoàn toàn khác hẳn, một tôn chủ mà ngài đă dùng từ “Paron”
trong phương ngữ Vênêtia, thứ tiếng ngài đang học, để nói về Thiên Chúa
hằng sống, về Chúa Giêsu Kitô. Cho đến khi đó, ngài chỉ biết đến những
ông chủ khinh miệt và đối xử tàn tệ với ngài, hay cùng lắm là coi ngài
như một con nô lệ hữu dụng. Tuy nhiên, giờ đây, ngài nghe nói đến một
“Paron” vượt lên mọi ông chủ, Chúa của các chúa, và vị Thiên Chúa đó
thiện hảo, một sự thiện hảo tự trong bản tính. Ngài nhận ra rằng Thiên
Chúa thậm chí c̣n biết đến ngài, và Người đă tạo ra ngài, và yêu thương
ngài thật sự. Bakhita cũng đă được yêu thương, không phải bởi ai khác
hơn là vị “Paron” tối cao này, Đấng mà trước mặt Người mọi thứ
ông chủ khác, chính họ, không hơn ǵ những tôi tớ thấp hèn. Bakhita thấy
ḿnh được biết đến, được yêu thương, và được chờ đón. Hơn thế nữa, chính
vị tôn chủ này cũng đă từng chấp nhận số phận bị đánh đ̣n và giờ đây
Ngài đang chờ Bakhita ở “bên hữu Chúa Cha”. Giờ đây Bakhita có “hy vọng”
– không phải cái hy vọng khiêm nhường là t́m được một ông chủ ít tàn
nhẫn nhất nhưng là một niềm hy vọng lớn lao: “Tôi nhất định được yêu
thương và dù điều ǵ xảy đến cho tôi – tôi vẫn đang được chờ đón bởi
T́nh Yêu này. Và v́ thế đời tôi thật là đẹp”. Nhờ nhận biết niềm hy vọng
này, ngài được “giải thoát”, không c̣n là một nô lệ nữa nhưng là một con
cái tự do của Thiên Chúa. Bakhita hiểu được điều mà Thánh Phaolô đă nhắc
nhở dân thành Êphêsô là trước đây họ sống vô vọng và không có Thiên Chúa
trong đời – không có hy vọng v́ không có Thiên Chúa. Thành thử,
khi sắp được đưa trở lại Sudan, Bakhita đă từ khước; ngài không muốn bị
tách biệt lần nữa khỏi “Paron” của ḿnh. Ngày 9 tháng Giêng năm
1890, ngài được rửa tội, được chịu phép thêm sức và được rước Ḿnh Thánh
Chúa lần đầu từ tay vị Thượng Phụ thành Venice. Ngày 8 tháng Mười Hai
năm 1896, tại Verona, ngài được tuyên khấn trong Cộng Đoàn các Nữ Tu
ḍng Canossia và từ đó bên cạnh công việc trong pḥng thánh và trong nhà
trực cửa tại tu viện, ngài đă thực hiện nhiều chuyến du hành ṿng quanh
Italia nhằm đề cao việc truyền giáo: Ngài thấy rằng ơn giải thoát mà
ngài đă nhận được qua sự gặp gỡ với Chúa Kitô cần phải được mở rộng, cần
phải được trao cho những người khác, đông hết sức có thể. Niềm hy vọng
đă hạ sinh trong ngài, đă “giải thoát” ngài, không thể chỉ giữ cho riêng
ḿnh; niềm hy vọng đó phải được lan tỏa đến nhiều người, đến mọi người.
Khái niệm về niềm hy vọng trên cơ sở đức tin trong Tân Ước và
trong Giáo Hội sơ khai
4. Chúng ta đă nêu lên câu hỏi là liệu cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa - Đấng
mà nơi Chúa Kitô đă tỏ lộ cho chúng ta thấy thiên nhan của Ngài, và mở
ḷng Ngài ra cho chúng ta - có thể không chỉ có tính “thông tin” mà c̣n
có tính “tác động” – nghĩa là cuộc gặp gỡ đó có thể thay đổi cuộc đời ta
để ta nhận ra là ḿnh đă được giải thoát qua niềm hy vọng thể hiện nơi
cuộc gặp gỡ này hay không? Trước khi cố gắng trả lời câu hỏi này, chúng
ta hăy trở lại lần nữa với Giáo Hội sơ khai. Không khó để nhận ra rằng
kinh nghiệm của thiếu nữ nô lệ Phi Châu Bakhita cũng là kinh nghiệm
trong thời kỳ h́nh thành Kitô Giáo của nhiều người, những người đă bị
đánh đập và bị kết án làm nô lệ. Kitô Giáo không mang lại một sứ điệp
cách mạng xă hội kiểu như cuộc cách mạng bất hạnh của Spartacus, người
mà cuộc tranh đấu đă dẫn đến đổ máu nhiều hơn nữa. Chúa Giêsu không phải
là Spartacus, Ngài không dấn thân trong một cuộc chiến giải phóng chính
trị như Barabbas hay Bar- Kochba. Chúa Giêsu, chính Ngài, đă chịu chết
trên Thánh Giá, mang lại cho chúng ta những ǵ hoàn toàn khác: một cuộc
gặp gỡ với Chúa của các chúa, một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống,
và qua đó gặp gỡ một niềm hy vọng c̣n mạnh hơn những cơ cực của kiếp nô
lệ, một niềm hy vọng, do đó, thay đổi cuộc sống và thế giới tự bản chất
bên trong. Cái mới ở đây có thể được nh́n thấy với một sự minh bạch nhất
trong Thư gởi Philêmôn của Thánh Phaolô. Đây là một lá thư rất
riêng tư, mà Thánh Phaolô đă viết từ trong tù và được trao cho người nô
lệ chạy trốn Ônêsimô để trao cho chủ là Philêmôn. Thật thế, Thánh Phaolô
đă gởi người nô lệ này lại cho ông chủ mà anh ta đă bỏ trốn “Tôi van xin
anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đă sinh ra trong cảnh xiềng xích..
tôi xin gửi nó về cho anh; xin anh hăy đón nhận nó như người ruột thịt
của tôi… Nó đă xa anh một thời gian, có lẽ chính là để anh được lại nó
vĩnh viễn, không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay v́ một người
nô lệ, th́ được một người anh em rất thân mến..” (Plm 1:10-16).
Xét về vị thế dân sự mà nói, con người có thể là tôn chủ hay nô lệ.
Nhưng họ đă trở nên anh chị em với nhau v́ họ đều là thành viên của một
Giáo Hội duy nhất – đó chính là cách thế những Kitô hữu đối xử với nhau.
Qua phép Rửa Tội họ được tái sinh, họ được uống cùng một Thần Khí và
cùng nhau lănh nhận Ḿnh Thánh Chúa. Cho dù cấu trúc bên ngoài vẫn giữ
nguyên, điều này đă thay đổi xă hội trần thế từ bên trong. Khi Thư
gởi các tín hữu Do Thái nói rằng những Kitô hữu trên trần gian này
không có một quê hương vĩnh cửu, nhưng t́m kiếm một quê hương trong
tương lai (x Dt 11:13-16; Phil 3:20), th́ điều này không
có nghĩa là họ chỉ sống cho tương lai: người Kitô hữu xem xă hội hiện
tại như một nơi tha hương; họ thuộc về một xă hội mới là mục đích của
cuộc lữ hành trần thế, và là điều luôn được trông mong trong suốt cuộc
lữ hành này.
5. Chúng ta cần thêm vào một nhận định nữa. Thư Thứ Nhất gởi các tín
hữu thành Côrintô (1:18-31) nói với chúng ta rằng đa số các tín hữu
Kitô tiên khởi thuộc về tầng lớp xă hội thấp, và chính v́ thế họ sẵn
sàng đón nhận niềm hy vọng mới, như chúng ta thấy trong trường hợp của
thánh nữ Bakhita. Nhưng ngay từ buổi đầu cũng đă có nhiều cuộc cải đạo
trong hàng quư tộc và giới trí thức, v́ chính họ cũng đang sống “vô vọng
và không có Chúa trong đời”. Huyền thoại đă mất đi tính khả tín của nó;
tôn giáo của Đế Chế La Mă đă suy thoái thành một thứ nghi lễ đơn thuần
được cử hành thận trọng nhưng không ǵ khác hơn là một “tôn giáo chính
trị”. Triết học duy lư đă giới hạn những thần minh bên trong phạm trù
của những ǵ không thực. Tuy người ta có thể cảm nhận được Thần Thánh
trong những cách thế khác nhau nơi những lực của vũ trụ, nhưng một Thiên
Chúa mà người ta có thể cầu nguyện với Ngài th́ không hiện hữu. Thánh
Phaolô đă minh họa khá chính xác vấn nạn then chốt của tôn giáo trong
thời kỳ này khi ngài tương phản cuộc sống “theo Chúa Kitô” với cuộc sống
dưới sự khống chế của “các lực vũ trụ” (Cl 2:8). Về phương diện
này, một đoạn văn của Thánh Grêgôriô thành Nazianzen có thể giúp soi
sáng. Ngài nói rằng chính khi Ba Nhà Đạo Sĩ, được hướng dẫn bởi v́ sao,
thờ lạy Chúa Kitô vị Tân Vương, th́ khoa chiêm tinh đă đến hồi kết thúc,
v́ các v́ sao giờ đây di chuyển trong một quỹ đạo được xác định bởi Chúa
Kitô. 2 Cảnh tượng này thực ra lật ngược thế giới quan của
thời đó, một thế giới quan trong một cách thế khác đă trở nên thịnh hành
một lần nữa trong thời đại hôm nay. Không phải những lực lượng trong vũ
trụ, những luật vật chất, chi phối tối hậu thế giới và nhân loại, nhưng
chính Thiên Chúa cai quản các v́ sao, nghĩa là vũ trụ; không phải những
định luật về vật chất và tiến hóa có tiếng nói sau cùng nhưng là lư trí,
ư chí, t́nh yêu – một Ngôi Vị. Và chúng ta biết Ngôi Vị này, và Ngài
cũng biết đến chúng ta, thành ra, thực sự là thế lực mù quáng của các
yếu tố vật chất không c̣n tiếng nói sau cùng; chúng ta không phải là
những nô lệ của vũ trụ và các định luật của nó, chúng ta là những người
tự do. Trong những thời cổ đại, sự suy xét lư trí cách thành thực cũng
nhận ra điều này. Thiên đàng không phải là hư vô. Đời sống không chỉ là
hệ quả của những định luật và sự ngẫu nhiên, nhưng bên trong mọi thứ và
cùng lúc vượt lên mọi thứ là một ư chí, một Thần Khí mà qua Đức Giêsu đă
tỏ lộ chính Ngài cho chúng ta như một T́nh Yêu. 3
6. Những mộ đá thời Kitô giáo tiên khởi đă minh họa ư niệm này một cách
hữu h́nh – trong bối cảnh của cái chết, khi phải đối diện với câu hỏi
không thể nào né tránh được liên quan tới ư nghĩa cuộc sống. H́nh ảnh
Đức Kitô được diễn giải trên các mộ đá gồm hai h́nh ảnh chính: đó là
h́nh ảnh triết gia và h́nh ảnh người chăn chiên. Triết học vào thời kỳ
đó thường không được coi là một ngành học bài bản khó hiểu, như ta thấy
ngày nay. Trái lại, triết gia là người biết cách dạy nghệ thuật thiết
yếu này: là thuật làm người một cách chính danh – nghệ thuật sống và
chết. Chắc chắn là từ lâu người ta đă nhận ra là có nhiều người đi đây
đó khoác vào ḿnh bộ áo triết gia, hoặc giả làm thầy dạy đời, nhưng thực
chất chỉ là những kẻ lừa đảo, kiếm tiền bằng môi miệng với lời nói phỉnh
lừa, trong khi không có ǵ để nói về cuộc sống thật. Thành ra, vị triết
gia chân chính, người chỉ ra được nẻo đường sự sống, th́ măi măi vẫn
luôn được tôn kính và được người đời t́m đến. Cho tới cuối thế kỉ thứ
III, trên mộ phần của một em bé ở Rôma, lần đầu tiên chúng ta t́m được,
dưới nhăn kiến sự sống lại của Lazarô, h́nh ảnh Đức Kitô như là triết
gia chân thật, một tay Ngài cầm cuốn Phúc Âm, tay khác cầm gậy lữ hành
của triết gia. Với chiếc gậy của ḿnh, Ngài đă chiến thắng sự chết; sách
Phúc Âm mang lại chân lư mà các triết gia trước đó đă đi t́m kiếm trong
vô vọng. Nơi h́nh ảnh này, h́nh ảnh đă trở thành một nét chung trong
nghệ thuật bia mộ trong một thời gian dài, chúng ta thấy rơ điều mà cả
người học thức lẫn người b́nh dân đều có thể t́m thấy nơi Đức Kitô:
Người nói cho chúng ta biết con người thực sự là ai và con người phải
làm ǵ để trở thành nhân bản thực sự. Người chỉ cho chúng ta con đường,
và con đường này là sự thật. Chính Người vừa là Đường và là Sự Thật, và
v́ thế Người cũng là Sự Sống mà tất cả chúng ta đang t́m kiếm. Người
cũng chỉ cho chúng ta con đường sau cái chết; chỉ có ai làm được điều
này mới thật sự là thầy dạy của sự sống. Điều này cũng trở nên tỏ tường
nơi h́nh ảnh người chăn chiên. Cũng như h́nh ảnh triết gia, qua h́nh ảnh
người chăn chiên, Giáo Hội sơ khai đă có thể nói lên căn tính của ḿnh
với những kiểu mẫu nghệ thuật La Mă hiện hành. Ở đó, người chăn chiên
thường được coi là một diễn đạt chung về ước mơ một cuộc sống thanh b́nh
và đơn sơ, mà thị dân của những thành thị lớn luôn ngưỡng vọng đến giữa
những băn khoăn của cuộc sống. Giờ đây, h́nh ảnh đó được đọc lên như một
phần của một bối cảnh mới, mang đến cho nó một ư niệm sâu xa hơn: “Chúa
là Đấng Chăn Chiên của tôi: tôi không thiếu ǵ... dù tôi bước qua thung
lũng tối tăm sự chết, tôi không sợ sự dữ nào, bởi v́ Chúa ở cùng tôi...
” (Tv 23 [22]:1, 4). Người chăn chiên thực là người biết cả đến những
nẽo đường băng qua thung lũng sự chết; người mà bước đi với tôi dẫu là
nẻo đường cuối cùng của hiu quạnh, nơi mà không ai có thể bước với tôi,
hướng đạo cho tôi đi qua: th́ chính Người đă bước qua nẻo đường đó,
Người đă xuống tận cơi chết, đă chiến thắng sự chết, và giờ đây đă trở
về để dẫn đưa chúng ta và cho chúng ta niềm xác tín rằng, cùng với Người,
chúng ta t́m ra một con đường đi qua được. Sự nhận thức rằng c̣n có Một
Đấng dù trong sự chết vẫn bước theo tôi, và với “cây roi và cây trượng
của Người an ủi phấn chấn tôi, do đó “tôi không c̣n sợ chi” (cf. Tv 23
[22]:4) — Đó chính là “hy vọng” mới đă phát sinh trên cuộc sống của các
tín hữu.
7. Chúng ta cần phải quay lại Tân Ước một lần nữa. Trong chương 11 của
Thư Do Thái (câu 1) chúng ta t́m thấy một dạng định nghĩa về đức
tin trong đó liên kết chặt chẽ nhân đức này với đức cậy. Từ thời Phục
Hưng đă có những tranh căi giữa những nhà chú giải Thánh Kinh trên từ
trọng tâm của câu này, nhưng ngày nay một cách thế hướng đến sự diễn
dịch đại kết dường như đang khơi gợi lại vấn đề một lần nữa. Tạm thời,
tôi sẽ giữ nguyên không dịch từ trọng tâm này. Thành ra, câu đó sẽ được
đọc như sau: “Đức tin là hypostasis cho những điều ta hy vọng, là
bằng chứng cho những điều ta không thấy”. Đối với các Nghị Phụ và các
nhà thần học thời Trung Cổ, từ Hy Lạp hypostasis đă được giữ lại
trong tiếng La Tinh bằng thuật ngữ substantia. Thành ra, bản dịch
La Tinh của đoạn văn vào thời Giáo Hội sơ khai được đọc là: Est autem
fides sperandarum substantia rerum, argumentum non apparentium “Đức
tin là bản chất của những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho
những điều ta không thấy”. Thánh Tôma Aquinas, 4 khi dùng
thuật ngữ này của triết học truyền thống mà ngài thuộc về, đă giải thích
điều đó như sau: đức tin là một habitus, nghĩa là, một xu hướng ổn định
tinh thần, qua đó cuộc sống vĩnh cửu đâm rễ trong chúng ta và lư trí
được dẫn dắt đến chỗ tán thành điều nó không thấy được. Khái niệm “bản
chất”, do đó, được thay đổi theo nghĩa là qua đức tin, từ lúc phôi thai,
hay có thể nói là khi “c̣n trong trứng nước” - và như thế là theo “bản
chất” – đă hiện diện trong ta những điều chúng ta hy vọng: đó là cuộc
sống tổng thể, và chân thật. Và v́ chính điều này đă hiện diện, sự hiện
hữu này của điều sẽ xảy đến cũng tạo ta sự chắc chắn: “điều” chắc chắn
phải xảy đến này tuy chưa hữu h́nh với thế giới bên ngoài (nó không
“xuất hiện”), nhưng v́ sự kiện là chúng ta mang nó bên trong ta như một
thực tại sơ khởi và năng động, một cảm nhận nào đó về nó cũng tồn tại
ngay lúc này. Đối với Luther, người đặc biệt không thích Thư Do Thái,
khái niệm “chất liệu”, trong bối cảnh quan điểm về đức tin của ông ta,
chẳng có nghĩa ǵ. V́ thế, ông ta hiểu thuật ngữ hypostasis/substance
không theo nghĩa khách quan (như một thực tại hiện diện bên trong ta),
nhưng theo nghĩa chủ quan, như là một thái độ nội tâm, và v́ thế đương
nhiên ông phải hiểu từ argumentum như một xu hướng của chủ thể.
Trong thế kỷ 20, sự diễn dịch này rất thịnh hành – ít nhất là tại Đức –
cả nơi những nhà chú giải Thánh Kinh Công Giáo, đến mức bản dịch đại kết
cuốn Tân Ước bằng tiếng Đức, được các Đức Giám Mục phê chuẩn, đă dịch
như sau: Glaube aber ist: Feststehen in dem, was man erhofft,
berzeugtsein von dem, was man nicht sieht (Đức tin là kiên định
trong những điều ta hy vọng, là tin tưởng nơi những điều ta không
thấy). Điều này tự nó không phải là sai, nhưng đó không phải là ư nghĩa
của đoạn văn, v́ bản tiếng Hy Lạp dùng từ elenchos là từ không có
nghĩa chủ thể của từ “tin tưởng” nhưng có một nghĩa như đối tượng của từ
“bằng chứng”. Do đó, gần đây các nhà chú giải Thánh Kinh Tin Lành đă đạt
đến một diễn dịch khác: “Tuy chưa phải là một vấn nạn nhưng hiểu biết cổ
điển của Tin Lành là không thể đứng vững được” 5. Đức tin
không chỉ đơn thuần là sự vươn tới của cá nhân hướng về những điều sẽ
xảy đến nhưng đến nay vẫn hoàn toàn vắng bóng: đức tin c̣n đem lại cho
chúng ta điều ǵ đó. Đức tin đem đến cho ta ngay cả lúc này đây những
phần của thực tại chúng ta đang trông chờ, và thực tại này đem đến cho
chúng ta một “bằng chứng” về những điều c̣n chưa thấy. Đức tin kéo tương
lai về với hiện tại đến mức tương lai không c̣n đơn thuần là một điều ǵ
đó “chưa đến”. Sự kiện là tương lai đang hiện hữu thay đổi hiện tại;
hiện tại này được thực tại trong tương lai tác động đến, và v́ thế những
ǵ của tương lai tuôn trào vào những ǵ của hiện tại và những ǵ của
hiện tại tuôn trào vào những ǵ của tương lai.
8. Lối giải thích này càng được củng cố và liên hệ với đời sống hàng
ngày hơn nữa nếu chúng ta xét đến câu 34 trong Thư Do Thái, được
liên kết qua từ vựng và nội dung với định nghĩa về
đức-tin-chất-chứa-hy-vọng và lót đường cho định nghĩa đó. Ở đây, tác giả
đề cập với các tín hữu, những người đă phải trải qua kinh nghiệm của
bách hại và ngài nói với họ “anh em đă thông phần đau khổ với những
người bị tù tội, và đă vui mừng để cho người ta tước đoạt của cải (hyparchonton
—Vg. bonorum), bởi biết rằng ḿnh có những của (hyparxin
—Vg. substantiam) vừa quư giá hơn lại vừa bền vững”.
Hyparchonta chỉ về tài sản, là điều góp phần tạo nên phương tiện
nâng đỡ trên trần thế, thực ra là cơ sở, là “chất liệu” cho cuộc sống mà
chúng ta phải phụ thuộc. “Chất liệu” này, nguồn bảo đảm cuộc sống b́nh
thường, đă bị tước đi khỏi các Kitô hữu khi họ bị bắt bớ. Dù vậy, họ đă
đứng vững, bởi họ xem chất liệu vật chất này nhẹ như lông hồng. Họ có
thể từ bỏ nó v́ họ t́m thấy một “cơ sở” tốt hơn cho sự hiện hữu của ḿnh
– một cơ sở trường tồn, mà không ai tước mất đi được. Chúng ta không thể
bỏ qua sự liên kết giữa hai dạng “chất liệu”, giữa phương tiện nâng đỡ
hay cơ sở vật chất và đức tin như một “cơ sở”, một “chất liệu” bền vững.
Đức tin tạo cho cuộc sống một cơ sở mới, một nền tảng giúp chúng ta đứng
vững, một nền tảng làm tương đối hóa cái nền tảng thông thường là sự phụ
thuộc vào thu nhập vật chất. Một h́nh thái tự do mới nảy sinh liên quan
đến nền tảng thông thường của cuộc sống, là điều dường như chỉ có thể
đưa ra sự nâng đỡ, mặc dù hiển nhiên là ta không thể phủ nhận ư nghĩa
thông thường của nó. H́nh thái tự do mới này, sự nhận thức về “chất liệu”
mới mà chúng ta đă được ban cho, được diễn tả không chỉ riêng trong việc
tử đạo, khi con người chống lại cường quyền của ư thức hệ và các cơ cấu
chính trị, và qua cái chết của ḿnh, canh tân thế giới. Trên tất cả, sự
tự do đó được nh́n thấy nơi những hành vi từ bỏ ḿnh, từ các tu sĩ thời
xa xưa tới Thánh Phanxicô thành Assisi và những vị trong thời đại chúng
ta đă bước vào những ḍng tu và những phong trào hiện đại, bỏ lại sau
lưng tất cả v́ t́nh yêu dành cho Chúa Kitô, và để giúp những ai đang đau
khổ trong thân xác và tâm hồn. Trong trường hợp của họ, “chất liệu” mới
được chứng minh là “chất liệu” thật; từ hy vọng của những vị này, những
người đă rung động v́ Đức Kitô, hy vọng vươn lên cho những ai đang sống
trong tăm tối và vô vọng. Trường hợp của các vị này cho thấy cuộc sống
mới thực sự làm chủ và là “chất liệu” đem đến cuộc sống cho tha nhân.
Với chúng ta, những người đang chiêm ngắm những h́nh ảnh này, cách thức
hành động và sống của họ là một “bằng chứng” thực sự cho thấy
những ǵ sẽ xảy đến, lời hứa của Chúa Kitô, không chỉ là một thực tại mà
chúng ta chờ đón, nhưng là một thực tại hiện hữu: Ngài thật là một
“triết gia” và một “mục tử” Đấng chỉ ra cho chúng ta sự sống là ǵ và có
thể t́m thấy nó nơi đâu.
9. Để hiểu sâu xa hơn suy tư về hai dạng chất liệu này - hypostasis
và hyparchonta - và về hai lựa chọn trong cuộc sống thể hiện nơi
những thuật ngữ này, chúng ta cần tiếp tục với một suy tư ngắn về hai từ
có liên quan đến cuộc tranh luận được t́m thấy nơi chương thứ Mười của
Thư Do Thái. Tôi muốn đề cập đến hai từ hypomone (10:36)
và hypostole (10:39). Hypo- mone thường được dịch là “nhẫn
nại” – bền đỗ, kiên định. Biết cách chờ đợi như thế nào, trong khi nhẫn
nại chịu đựng thử thách, là điều cần thiết cho các tín hữu để “nhận được
điều đă hứa” (10:36). Trong bối cảnh tôn giáo của Do Thái Giáo cổ, từ
này được dùng để thể hiện cho ḷng kỳ vọng Thiên Chúa, Đấng được coi là
biểu tượng của Israel, cũng như cho sự trung tín kiên định với Thiên
Chúa trên cơ sở vững tin vào Giao Ước trong một thế giới thù địch với
Ngài. V́ thế, từ này chỉ một hy vọng sống động, một cuộc sống dựa trên
sự chắc chắn của niềm hy vọng. Trong Tân Ước, ḷng kỳ vọng Thiên Chúa,
thái độ vững tin nơi Thiên Chúa này, có một ư nghĩa mới: trong Chúa Kitô,
Thiên Chúa đă mạc khải chính ḿnh. Ngài đă thông truyền cho chúng ta
“chất liệu” của những ǵ đang đến, và v́ thế ḷng trông mong Thiên Chúa
đạt đến một sự chắc chắn mới. Đó là ḷng trông đợi những ǵ sẽ đến từ
viễn ảnh của một hồng ân đă được trao ban. Đó là sự trông đợi- hướng về
phía trước từ sự hiện diện của Chúa Kitô, với Đức Kitô, Đấng đang hiện
diện, mà hướng đến sự hoàn hảo của Nhiệm Thể Ngài, hướng đến sự quang
lâm chắc chắn của Ngài. Từ hypostole, ngược lại, có nghĩa là thu
ḿnh lại do thiếu can đảm nói công khai và thẳng thắn một sự thật có thể
đem đến hiểm nguy. Ẩn dấu do sự khiếp sợ dẫn tới “hư vong” (Dt
10:39). Trái lại, “Thiên Chúa đă chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm
cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta
được đầy sức mạnh, t́nh thương, và biết tự chủ” là cách thế tuyệt đẹp mà
Thư Thứ Hai gởi Timôthêô (2 Tm 1:7) đă diễn tả về thái độ
căn bản của người Kitô hữu.
Sự sống đời đời – Điều này là ǵ vậy?
10. Đến nay chúng ta đă đề cập đến đức tin và niềm hy vọng trong Tân Ước
và trong thời kỳ Kitô Giáo tiên khởi; nhưng luôn luôn rơ là chúng ta
đang đề cập đến không chỉ quá khứ mà thôi. Thật vậy, toàn bộ suy tư này
liên quan đến sống và chết cách đại cương, và do đó, nó cũng liên quan
đến chúng ta nơi đây và hiện nay. V́ thế, chúng ta phải thẳng thắn đặt
câu hỏi: liệu đức tin Kitô Giáo cũng dành cho chúng ta ngày nay một niềm
hy vọng đổi-đời và nâng đỡ-cuộc-sống hay không?
Liệu niềm hy vọng đó có tính chất “tác động” với chúng ta – đó có phải
là một sứ điệp nhào nặn cuộc đời ta trong một cách thế mới, hay nó chỉ
mang tính chất “thông tin” mà, lúc này đây, chúng ta gác qua một bên, và
thông tin đó đối với chúng ta giờ đây dường như đang bị đè bẹp bởi những
thông tin khác mới mẻ hơn? Để t́m ra câu trả lời, tôi muốn bắt đầu với
h́nh thức đối thoại cổ điển trong nghi thức Rửa Tội được cử hành khi
tiếp rước một hài nhi sơ sinh vào trong cộng đoàn các tín hữu và chào
đón ơn tái sinh của hài nhi trong Chúa Kitô. Đầu tiên, vị linh mục hỏi
cha mẹ xem ông bà đặt tên cho con trẻ là ǵ, và ngài tiếp tục với câu
hỏi: “Ông bà anh chị em xin điều ǵ nơi Giáo Hội?” Thưa: “Đức tin”. “Đức
tin đó đem lại cho ông bà anh chị em điều ǵ?” “Sự sống đời đời”. Theo
đoạn đối thoại này, các bậc cha mẹ đang t́m kiếm đức tin cho con cái họ,
và sự hiệp thông với các tín hữu, v́ họ thấy nơi đức tin ch́a khóa dẫn
đến “sự sống đời đời”.
Ngày nay cũng như trong quá khứ, đó là toàn bộ ư nghĩa của việc được rửa
tội, được trở nên Kitô hữu: đó không phải chỉ là một hành động xă giao
trong cộng đoàn, không đơn thuần là một sự tiếp đón vào Giáo Hội. Các
bậc cha mẹ trông đợi nhiều hơn cho con trẻ được rửa tội: họ mong rằng
đức tin, bao gồm cả bản tính trần thế của Giáo Hội và các phép bí tích
sẽ đem lại sự sống cho đứa trẻ - một sự sống đời đời. Đức tin là chất
liệu của hy vọng. Nhưng, một câu hỏi được đặt ra: liệu chúng ta có thực
sự mong muốn điều này – là được sống đời đời không? Có lẽ nhiều người
ngày nay từ khước đức tin chỉ v́ họ không thấy hứng thú nơi viễn ảnh của
cuộc sống đời đời. Điều họ muốn không phải là sự sống đời đời một chút
nào, nhưng là cuộc sống hiện nay, cuộc sống mà đức tin vào sự sống đời
đời dường như trở nên một điều ǵ đó gây ngăn trở. Tiếp tục sống đời đời
– không chấm dứt – dường như là một lời nguyền hơn là một ân sủng. Sự
chết, phải thừa nhận, là ta muốn tŕ hoăn nó bao lâu có thể. Nhưng sống
hoài, không dứt – điều này, xét cho cùng, có thể là ngao ngán và tối hậu
là không thể chịu đựng nổi. Đây chính là một luận điểm được đưa ra,
chẳng hạn, bởi Thánh Ambrose, một trong các Giáo Phụ của Giáo Hội, trong
bài điếu văn cho người anh em quá cố của ngài là Satyrus: “Sự Chết không
phải là một phần của tự nhiên, nhưng đă trở nên tự nhiên. Tự thuở ban
đầu Thiên Chúa đă không truyền án phạt phải chết; Ngài phải đề ra nó như
một phương dược. Cuộc sống con người, v́ tội lỗi.. đă bắt đầu cảm nhận
gánh nặng của sự bơ phờ trong lao động không ngơi và trong buồn sầu
không thể chịu nổi. Cần phải có giới hạn cho những đau khổ của cuộc sống;
cái chết phải phục hồi lại điều sự sống đă tước mất. Không có sự trợ
giúp của ơn sủng, bất tử trở thành một gánh nặng nhiều hơn là một ơn
phúc” 6. Trước đó ít lâu, Thánh Ambrose đă nói: “Cái chết, do
đó, không phải là duyên cớ để khóc lóc, v́ nó là căn cớ cho ơn cứu độ
của nhân loại”.7
11. Dù chính xác là Thánh Ambrose muốn nói ǵ qua những lời này đi chăng
nữa, thật đúng là việc loại trừ sự chết hay tŕ hoăn nó dù đến vô hạn
hay không đều đặt trái đất và nhân loại trong một t́nh huống không thể
được, và ngay cả cá nhân cũng không được lợi ǵ. Hiển nhiên có một mâu
thuẫn trong thái độ chúng ta, là điều cho thấy một mâu thuẫn nội tại sâu
xa trong chính sự hiện hữu của chúng ta. Một mặt chúng ta không muốn
chết; trước tiên là v́ những người thân của chúng ta không muốn chúng ta
chết. Nhưng mặt khác, chúng ta chẳng muốn tiếp tục sống vô hạn và trái
đất cũng chẳng được tạo thành theo quan điểm đó. Chúng ta thật sự muốn
cái ǵ đây? Thái độ bất nhất của chúng ta dẫn tới một câu hỏi sâu xa hơn:
thực ra sự sống là ǵ? Và “đời đời” nghĩa là sao? Có những lúc nào đó
đột nhiên chúng ta thấy dường như là rơ ràng: vâng, “sự sống” thật là
đây - đây chính là điều mà sự sống phải là. Bên cạnh đó, điều mà chúng
ta gọi là “sự sống” trong ngôn ngữ hàng ngày chẳng phải là “sự sống”
thật chút nào. Thánh Augustinô, trong một lá thư ngỏ về cầu nguyện mà
ngài gởi cho bà Proba, một mệnh phụ phu nhân góa và là thân mẫu của ba
viên lănh sự, có lần đă viết: tối hậu là chúng ta chỉ muốn điều này –
một “cuộc sống đầy ơn phúc”, một cuộc sống đơn giản, một “hạnh phúc” đơn
sơ. Trong phân tích cuối cùng, chúng ta không xin ǵ khác hơn trong kinh
nguyện của chúng ta. Cuộc lữ hành trần thế của chúng ta không có mục
tiêu nào khác – tất cả chỉ nhằm mục đích đó. Nhưng khi đó, Thánh
Augustinô cũng nói: khi nh́n kỹ hơn, chúng ta không biết tối hậu điều
chúng ta ao ước là ǵ, thực ra chúng ta mong muốn cái ǵ. Chúng ta chẳng
biết ǵ về thực tại này; ngay cả trong những thời điểm chúng ta nghĩ là
có thể vươn tới và động chạm đến nó, nó vượt khỏi chúng ta. “Chúng ta
không biết điều mà chúng ta nên cầu xin như chúng ta phải làm”, ngài nói
thế khi trích dẫn Thánh Phaolô Tông Đồ (Rom 8:26). Tất cả điều
chúng ta biết là điều đó không phải như thế này, thế nọ. Dù không biết
tường tận, chúng ta cũng biết là thực tại này phải tồn tại. Ngài viết:
“Thành ra, trong chúng ta có một mức độ ngu dốt có ư thức (docta
ignorantia ) nào đó, có thể nói như thế”. Chúng ta không biết điều
chúng ta thực sự muốn; chúng ta không biết “sự sống” thật này; nhưng
chúng ta biết rằng chắc chắn có một điều chúng ta không biết mà chúng ta
vẫn cảm thấy bị lôi cuốn về đó. 8
12. Tôi nghĩ là trong cách thế rất chính xác luôn có giá trị này, Thánh
Augustinô đang diễn tả t́nh trạng thiết yếu của con người, một t́nh
trạng đưa đến tất cả những nghịch lư và hy vọng của anh ta. Một mặt,
chúng ta muốn chính sự sống, sự sống thật, không bị động chạm đến ngay
cả bởi cái chết; nhưng một mặt chúng ta lại không biết về điều chúng ta
cảm thấy bị lôi cuốn hướng đến. Chúng ta không thể ngừng vươn tới để đạt
được nó, nhưng chúng ta lại biết là tất cả những ǵ chúng ta có thể vươn
tới hay đạt được lại không phải là điều chúng ta ước vọng. “Cái” chưa
biết này là “hy vọng” thực sự thúc đẩy chúng ta, và đồng thời sự kiện là
nó chưa tường minh là căn cớ cho mọi h́nh thái thất vọng, và cả cho tất
cả những nỗ lực, dù tích cực hay hủy hoại, hướng đến sự chân thật trần
thế hay nhân loại. Thuật ngữ “sự sống đời đời” đă được đưa ra để đặt tên
cho “cái biết là không biết” này. Dĩ nhiên, không thể tránh khỏi, thuật
ngữ không đầy đủ này đă tạo ra ngộ nhận. Thật vậy, “Đời đời” gợi cho
chúng ta ư tưởng về điều ǵ đó không chấm dứt, và điều đó làm chúng ta
lo sợ; “sự sống” khiến chúng ta nghĩ đến cuộc sống mà chúng ta biết và
yêu mến nó, cũng như không muốn đánh mất đi, dù rằng thường khi nó mang
lại nhiều phiền nhiễu hơn là thỏa măn, đến mức một mặt chúng ta muốn,
một mặt chúng ta lại không muốn cuộc sống đó. Hăy tưởng tượng chúng ta
đang được đứng bên ngoài cơi tạm đang giam cầm chúng ta và ở một mức nào
đó cảm thấy được rằng đời đời không phải là một chuỗi vô hạn những ngày
tháng kế tiếp nhau của thời gian, nhưng là điều ǵ đó giống giây phút
tột cùng của thỏa măn hơn, trong đó tổng thể ôm lấy chúng ta và chúng ta
ôm lấy tổng thể - chúng ta chỉ có thể thử nghĩ như vậy. Nó giống như là
nhào vào đại dương của t́nh yêu vô hạn, một thời khắc trong đó thời gian
– trước và sau - không c̣n hiện hữu nữa. Chúng ta chỉ có thể nắm bắt ư
tưởng là một thời khắc như vậy là cuộc sống đầy đủ ư nghĩa, một sự nhận
ch́m mới mẻ chưa từng có vào trong cơi bao la của nhân sinh, trong đó
chúng ta ngập tràn niềm vui. Đó chính là cách Chúa Giêsu đă diễn tả
trong Tin Mừng theo Thánh Gioan: “Thầy sẽ gặp lại anh em, ḷng anh em sẽ
vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được” (Ga
16:22). Chúng ta cần suy tư theo những ḍng này nếu chúng ta muốn hiểu
đối tượng của niềm hy vọng Kitô Giáo, muốn hiểu về điều mà đức tin của
chúng ta, chất Kitô hữu của chúng ta, khiến chúng ta trông mong.9
Niềm hy vọng Kitô Giáo có phải là một niềm hy vọng cá nhân?
13. Theo ḍng lịch sử, các Kitô hữu đă cố gắng diễn tả điều “biết là
không biết” này qua phương tiện những h́nh ảnh thể hiện ra được, và họ
đă phát triển h́nh ảnh về “Thiên Đàng” c̣n rất xa với điều mà, nói cho
cùng, chỉ có thể biết đến một cách rất tiêu cực, v́ không biết. Tất cả
những cố gắng diễn tả hy vọng này đă đem đến cho nhiều người, qua các
thế kỷ, một linh hứng để sống theo đức tin và do đó từ bỏ hyparchonta –
cơ sở vật chất cho cuộc sống của họ. Tác giả của Thư Do Thái,
trong chương thứ Mười Một, đă tổng kết một h́nh thức lịch sử về những ai
sống trong hy vọng, và về cuộc hành tŕnh của họ, một lịch sử kéo dài từ
thời Abel cho tới thời của tác giả. H́nh thái hy vọng này đă là đối
tượng cho một thứ chỉ trích ngày càng gay gắt trong thời buổi hiện nay:
nó bị coi là một niềm hy vọng duy cá nhân, một cách thế chối bỏ thế giới
với những đau khổ của nó và t́m nương náu nơi một h́nh thái giải thoát
vĩnh cửu có tính cách riêng tư. Henri de Lubac, trong lời phi lộ của
cuốn sách có thế giá Catholicisme. Aspects sociaux du dogme (Giáo lư
Công Giáo – Những khía cạnh xă hội của tín lư) đă tổng hợp một số
những phát biểu đặc trưng của quan điểm này, một trong số đó đáng để
trích ra nơi đây: “Tôi đă t́m thấy niềm vui chăng? Không …chỉ là niềm
vui của tôi, và đó là điều thật khác biệt.. Niềm vui của Chúa
Giêsu có thể là riêng tư. Nó chỉ thuộc về một con người đơn độc và Ngài
được giải thoát. Ngài được an b́nh.. bây giờ và măi măi, nhưng Ngài cô
đơn. Tính chất cô lập của niềm vui này không làm Ngài khó chịu. Trái lại,
v́ Ngài là người được chọn! Trong ơn phúc của Ngài, Ngài bước qua những
băi chiến trường với một bông hồng trên tay”10
14. Chống lại quan điểm này, khi trưng ra hàng loạt những luận điểm thần
học của các Giáo Phụ, de Lubac đă có thể chứng minh rằng ơn cứu độ luôn
được xem là một thực tại “xă hội”. Thật vậy, Thư Do Thái đề cập
đến một “thành phố” (x 11:10, 16; 12:22; 13:14) và do đó về ơn cứu độ
tập thể. Nhất quán với quan điểm này, các Giáo Phụ luôn coi tội lỗi là
sự huỷ hoại sự hiệp nhất của nhân loại, là sự đổ vỡ và chia rẽ. Tháp
Babel, nơi các ngôn ngữ rối loạn, nơi của phân ly, được coi như một biểu
tượng cho thấy tội lỗi về căn bản nghĩa là ǵ. Do đó, “ơn cứu chuộc”
xuất hiện như sự phục hồi t́nh hiệp nhất, trong đó chúng ta lại cùng đến
với nhau trong sự hiệp thông được bắt đầu h́nh thành nơi cộng đoàn các
tín hữu. Chúng ta không cần quan tâm đến tất cả mọi văn bản trong đó nói
lên tính chất xă hội của niềm hy vọng Kitô Giáo. Ở đây, chúng ta hăy chú
tâm đến Thư gởi cho Proba trong đó Thánh Augustinô cố gắng minh
họa ở một mức độ nào đó điều “biết là không biết” mà chúng ta đang t́m
kiếm. Khởi điểm của ngài đơn giản là thành ngữ “cuộc sống đầy ơn phúc”.
Sau đó, ngài trích dẫn Thánh Vịnh 144 [143]:15 “Hạnh phúc thay
dân nào được Thiên Chúa là Chúa”. Và ngài tiếp tục: “Để có thể được kể
trong hàng dân tộc này và đạt được …sự sống đời đời với Thiên Chúa,
‘Lệnh truyền đó tối hậu phải đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong
sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả h́nh’ (1 Tm 1:5)
11. Sự sống thật mà chúng ta hằng vươn tới được liên kết với
một sự hiệp thông sống động với một “dân tộc”, và với mỗi cá nhân, sự
sống ấy chỉ có thể đạt được trong cái “chúng tôi” này. Điều này giả định
rằng chúng ta phải thoát ra được tù ngục là “cái tôi” của ḿnh, v́ chỉ
trong sự cởi mở của chủ thể vũ trụ này, chúng ta mới có thể hướng nh́n
đến nguồn mạch của niềm vui, đến chính t́nh yêu – nghĩa là đến Thiên
Chúa.
15. Trong khi viễn kiến hướng đến cộng đoàn của “cuộc sống đầy ơn phúc”
chắc chắn là vượt lên thế giới hiện nay, viễn kiến này cũng liên quan
đến việc xây đắp thế giới trước mắt – trong những cách thức đa dạng, tùy
thuộc vào bối cảnh lịch sử và những khả năng được trao cho hay bị tước
mất đi. Trong thời của Thánh Augustinô, những cuộc xâm nhập của các dân
tộc mới đe dọa tính chất mạch lạc của thế giới, thành ra cần phải có một
sự bảo đảm nào đó về luật pháp và cuộc sống trong một xă hội trật tự
pháp quyền; nên vào lúc đó, vấn đề là phải tăng cường các nền tảng căn
bản cho sự cộng sinh trong ḥa b́nh, ngơ hầu có thể tồn tại được trong
một thế giới đang chuyển biến. Giờ đây, chúng ta hăy xem xét một vài
giai đoạn được chọn ngẫu nhiên ở mức nào đó trong thời Trung Cổ, nhằm
minh họa một vài khía cạnh về điều chúng ta đang đề cập. Thông thường,
người ta cho rằng các ḍng tu là những nơi trốn tránh thế giới (contemptus
mundi ) và những nơi trốn chạy trách nhiệm với thế giới, nhằm t́m
cho ḿnh ơn giải thoát cá vị. Thánh Bernard thành Clairvaux, người đă
linh hướng đông đảo những thanh niên bước vào những tu viện thuộc ḍng
cải cách của ngài, có một cái nh́n khác xa về điều này. Theo quan điểm
của ngài, các tu sĩ thực thi một công việc cho toàn thể Giáo Hội và do
đó, cho toàn thế giới. Ngài đă dùng nhiều h́nh ảnh để minh họa cho bổn
phận mà các tu sĩ phải gánh vác trước toàn thể Giáo Hội, và đương nhiên
là trước nhân loại; ngài áp dụng cho họ những lời của Pseudo-Rufinus:
“Nhân loại sống nhờ vào một vài người; nếu không có họ, thế giới sẽ bị
hủy diệt…”12. Ngài cho biết các tu sĩ chiêm niệm -
contemplantes - phải trở thành những người lao động nông nghiệp -
laborantes. Tính chất cao thượng của lao động, mà Kitô Giáo kế thừa
từ Do Thái Giáo, đă được thể hiện trong những luật ḍng Augustinô và
ḍng Biển Đức. Thánh Bernard đă lấy lại ư tưởng này lần nữa. Những thanh
niên cao thượng tuôn đến những tu viện của ngài đă phải tham gia vào
những việc lao động chân tay. Thật ra, Thánh Bernard đă minh nhiên khẳng
định rằng tu viện không chỉ phục hồi Vườn Địa Đàng, nhưng ngài nhấn mạnh
rằng, như một nơi “cầy tung sỏi đá” cách thực tiễn và thiêng liêng, tu
viện phải chuẩn bị cho Vườn Địa Đàng mới. Một lô đất hoang trong rừng
được khai phá mầu mỡ - và trong tiến tŕnh đó, những cây kiêu ngạo bị đổ
xuống, bất cứ nơi nào cỏ lùng đâm rễ trong tâm hồn đều được nhổ sạch, và
miếng đất, do đó, được chuẩn bị cho bánh ḿ của thân xác và linh hồn có
thể trổ sinh hoa trái. 13 Không lẽ chúng ta không nh́n thấy
lần nữa, trong ánh sáng của lịch sử hiện nay, là không có một trật tự
thế giới tích cực nào có thể vươn lên nơi những tâm hồn đă quá chai đá?
Sự biến hóa của đức tin-hy vọng Kitô trong thời đại tân tiến
16. V́ đâu mà lại nảy sinh ra cái ư tưởng cho rằng thông điệp của Chúa
Giêsu chỉ hạn hẹp trong chiều kích riêng tư và chỉ nhắm vào từng cá nhân
đơn lẻ? Làm sao chúng ta lại đi đến diễn dịch coi “ơn cứu độ linh hồn”
như là cuộc trốn chạy toàn bộ trách nhiệm, và cớ sự nào lại ra nông nỗi
coi dự án Kitô Giáo như một cuộc t́m kiếm ích kỷ ơn cứu độ, trong đó
khước từ ư tưởng phục vụ tha nhân. Để t́m ra một câu trả lời, chúng ta
phải nh́n vào những nền tảng của thời đại tân tiến. Những nền tảng này
hiện rơ đặc biệt trong ư tưởng của Francis Bacon. Không thể phủ nhận
rằng một thời kỳ mới đă xuất hiện thông qua việc khám phá ra Châu Mỹ, và
những thành tựu kỹ thuật đă làm cho sự phát triển thời kỳ mới này trở
nên khả thi. Nhưng cơ sở của thời đại mới này là ǵ? Đó là sự tương quan
mới giữa thực nghiệm và phương pháp luận cho phép con người đạt đến một
diễn dịch về thiên nhiên dựa theo những định luật của nó và v́ thế cuối
cùng đạt được “sự toàn thắng của nghệ thuật trên tự nhiên” (victoria
cursus artis super naturam).14 Cái mới - theo cách nh́n
của Bacon – nằm nơi mối tương quan giữa khoa học và ứng dụng [bản tiếng
Anh: science and praxi - bản tiếng Ư: scienza e prassi – Chú thích của
người dịch: Triết gia Aristotle chia các hoạt động con người thành 3
loại căn bản theoria (tư duy lư thuyết), poiesis (sản xuất) và praxis (hành
động)]. Điều này cũng dẫn đến một hệ quả thần học: mối tương quan mới
giữa khoa học và ứng dụng sẽ có nghĩa là quyền năng thống trị trên tạo
vật - được Chúa ban cho nhân loại và bị mất đi v́ tội nguyên tội – sẽ
được phục hồi. 15
17. Bất cứ ai đọc và suy tư những khẳng định này một cách kỹ càng đều
nhận ra là một bước đáng kinh sợ đă xảy ra: cho đến lúc đó, việc phục
hồi lại cái mà con người đă đánh mất khi bị trục xuất khỏi Vườn Địa Đàng
vẫn trông cậy nơi đức tin vào Chúa Giêsu Kitô: nơi đặt để “ơn cứu độ”.
Nhưng, giờ đây, ơn cứu độ này, việc phục hồi lại “Vườn Địa Đàng” đă mất,
không c̣n cần đến đức tin nữa, nhưng sẽ nhờ vào cái liên kết mới được
khám phá giữa khoa học và thực tiễn. Không phải đức tin đơn giản là bị
từ bỏ; nhưng nó bị đặt sang một lănh vực khác – lănh vực của những
chuyện thuần tuư riêng tư và thuộc về một thế giới khác – và đồng thời
đức tin trở nên một điều ǵ đó không ăn chung ǵ với thế giới này. Quan
điểm máy móc này đă vạch ra con đường của thời đại mới và cũng h́nh
thành nên cuộc khủng hoảng đức tin ngày nay, một cuộc khủng hoảng về cơ
bản là cuộc khủng hoảng hy vọng Kitô Giáo. V́ thế, theo Bacon, hy vọng
cũng khoác lên ḿnh một h́nh thái mới. Giờ đây, nó được gọi là: niềm
tin vào tiến bộ. Đối với Bacon, rơ ràng là làn sóng những khám phá
và phát minh chỉ mới là khởi đầu; thông qua tác động hỗ tương giữa khoa
học và ứng dụng, những khám phá hoàn toàn mới mẻ sẽ diễn ra, một thế
giới hoàn toàn mới sẽ xuất hiện, đó là vương quốc loài người. 16
Bacon c̣n đưa ra một viễn kiến với những phát minh có thể thấy trước
được – bao gồm máy bay và tầu ngầm. Khi ư thức hệ về tiến bộ tiến xa hơn
nữa, niềm hân hoan phấn khích trước những bước tiến nh́n thấy được của
tiềm năng nhân loại sẽ tiếp tục tăng cường một niềm tin vào tiến bộ
như thế.
18. Đồng thời, có hai phạm trù ngày càng trở nên trung tâm của lư thuyết
tiến bộ: đó là lư trí và tự do. Tiến bộ được gắn chủ yếu với sự thống
trị ngày càng mạnh của lư trí, và lư trí này hiển nhiên được xem là một
lực thiện và một lực cho điều thiện. Tiến bộ là vượt lên mọi h́nh thái
của lệ thuộc – đó là một tiến tŕnh hướng đến tự do hoàn toàn. Cũng thế,
tự do được xem thuần tuư như một lời hứa, trong đó con người trở nên
càng ngày càng hoàn toàn là chính ḿnh. Trong cả hai khái niệm đó – tự
do và lư trí – có một khía cạnh chính trị. Thực ra, vương quốc của lư
trí được trông đợi như một t́nh trạng mới của nhân loại một khi nó đạt
được tự do hoàn toàn. Tuy vậy, những điều kiện chính trị của một vương
quốc lư trí và tự do như thế thoạt nh́n đă thấy ngay là một điều ǵ đó
được định nghĩa bệnh hoạn. Lư trí và tự do dường như có thể tự ḿnh bảo
đảm, do bởi bản thiện nội tại của chúng, cho một cộng đồng nhân loại mới
và hoàn thiện. Nhưng hai cái khái niệm then chốt là “lư trí” và “tự do”
này đă được hiểu ngầm là xung khắc với những trói buộc của đức tin và
của Giáo Hội, cũng như của những cơ cấu chính trị đương đại. Thành thử,
cả hai khái niệm đó đều chứa đựng một tiềm năng cách mạng của một lực
bùng nổ quy mô.
19. Chúng ta cần nh́n qua hai giai đoạn thiết yếu trong việc hiện thực
hóa chính trị niềm hy vọng này, v́ chúng có tầm quan trọng to lớn trên
sự phát triển của niềm hy vọng Kitô, để rồi chúng ta có thể hiểu đúng về
niềm hy vọng đó và về những lư do cho sự dai dẳng của nó. Trước hết, đó
là cuộc cách mạng Pháp – một cố gắng để thiết lập luật lư trí và tự do
như một thực tại chính trị. Thoạt đầu, châu Âu của thời Khai Sáng nh́n
những biến cố này rất hào hứng, nhưng rồi, trong tiến tŕnh của chúng,
chúng đă khiến người ta phải suy tư một cách mới mẻ hơn về lư trí và tự
do. Một minh họa tốt cho hai giai đoạn trong việc đón nhận những biến cố
này tại Pháp được t́m thấy trong hai bài luận văn của Immanuel Kant
trong đó ông suy tư về những ǵ đă xảy ra. Năm 1792, ông viết cuốn
Der Sieg des guten Prinzips ber das bưse und die Grndung eines Reiches
Gottes auf Erden (“Chiến thắng của Sự Thiện trên Nguyên Tắc Tàn Ác
và Việc H́nh Thành một Nước Trời trên Trần Gian”). Trong bản văn đó, ông
viết như sau: “Việc chuyển dần niềm tin giáo hội sang sự thống trị độc
quyền của niềm tin thuần tuư tôn giáo là sự quang lâm của Nước Trời”17.
Ông c̣n nói với chúng ta rằng các cuộc cách mạng có thể gia tốc tiến
tŕnh chuyển từ niềm tin giáo hội đến niềm tin lư trí. “Nước Trời” được
Chúa Giêsu công bố giờ đây được khoác cho một định nghĩa mới và một dạng
thức hiện diện mới; một “kỳ vọng tức khắc” mới, có thể nói như thế; và
“Nước Trời” ấy đang đến: “Nước Trời” đến khi “niềm tin giáo hội” bị đánh
bại và bị đè bẹp bởi “niềm tin tôn giáo”, nghĩa là, bởi một thứ đức tin
thuần lư. Năm 1795, trong cuốn Das Ende aller Dinge (“Cáo chung
của tất cả mọi thứ’”) một h́nh ảnh khác hẳn đă xuất hiện. Giờ đây, Kant
xem xét khả năng là bên cạnh kết thúc tự nhiên của mọi thứ có thể có một
thứ khác không tự nhiên, với một kết cục quái lạ. Ông ta viết về điểm
này như sau: “Nếu có một ngày nào đó Kitô Giáo ngừng không đáng được ưa
chuộng nữa.. th́ lúc đó tâm tư thịnh hành trong nhân loại sẽ là từ chối
và chống lại nó; và tên Chống Chúa.. sẽ bắt đầu triều đại - dù chóng qua
- của hắn ( được giả định đặt cơ sở trên sợ hăi và ích kỷ); nhưng khi đó,
v́ Kitô Giáo dù đă được định là tôn giáo thế giới, trong thực tế lại
không được ưa chuộng như đă định, th́ trên phương diện luân lư mà nói,
điều này sẽ dẫn đến một sự cáo chung (quái lạ) cho tất cả mọi thứ”
18
20. Thế kỷ 19 gia tăng niềm tin nơi tiến bộ như một h́nh thái hy vọng
nhân loại mới, và nó tiếp tục coi lư trí và tự do như những ngôi sao
hướng dẫn trên nẻo đường hy vọng. Dẫu sao, sự tiến bộ nhanh chóng của
phát triển kỹ thuật và hiện tượng kỹ nghệ hóa gắn liền với nó nhanh
chóng đưa tới một t́nh trạng xă hội hoàn toàn mới: xuất hiện một tầng
lớp những người thợ công nghiệp và cái gọi là “giai cấp vô sản”, những
người mà các điều kiện sống thê thảm của họ đă được Friedrich Engels mô
tả một cách đáng báo động vào năm 1845. Với những độc giả của ông ta,
câu kết luận là rất rơ: điều này không thể tiếp tục; một sự thay đổi là
cần thiết. Tuy nhiên, sự thay đổi này sẽ lật nhào toàn bộ cấu trúc của
xă hội tư sản. Sau cuộc cách mạng tư sản năm 1789, giờ đă điểm cho một
cuộc cách mạng mới, cách mạng vô sản: tiến bộ không thể tiếp tục với
những bước nhỏ và tiệm tiến. Một sự nhảy vọt có tính chất cách mạng là
điều cần thiết. Karl Marx đón lấy khát vọng của quần chúng, và áp dụng
thứ ngôn ngữ kích động và khôn ngoan vào trong công tác phát động một
bước tiến mới mẻ to lớn và, như ông ta nghĩ, là bước quyết định trong
lịch sử hướng về ơn cứu độ - hướng về điều mà Kant mô tả là “Nước Trời”.
Một khi chân lư về tương lai bị phủ nhận, th́ vấn đề đặt ra là thiết lập
chân lư ngay đây và ngay bây giờ. Phê phán về Thiên Đàng được chuyển
thành phê phán về trần thế, chỉ trích thần học giờ đây trở thành chỉ
trích chính trị. Tiến bộ hướng về điều tốt hơn, về một thế giới thực sự
là tốt, không c̣n đến từ khoa học nữa nhưng từ chính trị - từ một thứ
chính trị mang mầu sắc khoa học trong đó xem xét cấu trúc của lịch sử và
xă hội và từ đó chỉ ra con đường hướng đến cách mạng, hướng đến một sự
thay đổi tổng thể. Marx đă mô tả khá chính xác t́nh trạng trong thời ông
ta, dầu với sự lệch lạc một chiều nhất định, và với kỹ năng phân tích
sắc xảo, ông ta đă nêu ra những con đường dẫn đến cách mạng – và không
chỉ lư thuyết mà thôi: qua phương tiện cụ thể là Đảng Cộng Sản xuất hiện
từ trong Cương Lĩnh Cộng Sản 1848, ông ta đă khởi động cuộc cách mạng
này. Lời hứa hẹn, cộng thêm với sự sắc xảo trong phân tích của ông cũng
như chỉ dẫn tường tận về phương tiện tạo ra thay đổi cấp tiến này, đă và
tiếp tục là một nguồn phấn khích bất tận. Cách mạng thực sự đă nổ ra
trong cách thế cấp tiến nhất tại Nga.
21. Dù thế, cùng với thắng lợi của cách mạng, sai lầm căn bản của Marx
cũng bộc lộ hiển nhiên. Ông ta chỉ ra chính xác cách thức lật đổ trật tự
hiện nay, nhưng ông ta không nói cách thế tiến hành sau đó. Ông ta đơn
giản giả định rằng với sự tước đoạt tài sản của giai cấp cầm quyền, với
sự sụp đổ quyền lực chính trị và xă hội hoá các phương tiện sản xuất,
một thành Giêrusalem mới sẽ thành hiện thực. Khi đó, cố nhiên, mọi mâu
thuẫn sẽ được giải quyết, con người và thế giới cuối cùng tự ḿnh cũng
t́m ra được giải pháp. Khi đó mọi thứ sẽ tự thân vận động theo đúng
đường, v́ mọi thứ sẽ thuộc về mọi người và ai cũng mong điều tốt nhất
cho nhau. Thành ra, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng, Lênin mới nhận
thức ra là những tác phẩm của ông thầy chẳng hề chỉ ra bước kế tiếp là
phải làm sao. Đúng thật là Marx có đề cập đến thời kỳ chuyên chế vô sản
quá độ như một điều cần thiết mà đến ngày đến giờ th́ nó sẽ tự động
không c̣n cần thiết nữa. Tất cả chúng ta đều biết quá rơ cái “thời kỳ
quá độ” này, và chúng ta cũng biết là nó đă được phát triển sau đó ra
sao, không thúc đẩy một thế giới hoàn thiện hơn, nhưng bỏ lại đàng sau
một loạt những hủy diệt kinh hoàng. Marx quên không chỉ ra cách thức làm
sao tổ chức thế giới mới này - điều mà, dĩ nhiên, được cho là không cần
thiết. Sự yên lặng của ông ta về vấn đề này diễn ra cách hợp lư từ lựa
chọn của ông ta. Sai lầm của ông càng sâu nặng hơn nữa. Ông ta quên rằng
con người luôn là con người. Ông ta quên con người và quên luôn tự do
của con người. Ông ta quên rằng tự do luôn vẫn c̣n là tự do làm điều ác.
Ông ta nghĩ rằng khi nền kinh tế đă được điều chỉnh đúng, mọi sự sẽ tự
nhiên ổn thoả hết. Sai lầm thật sự của ông ta là chủ nghĩa duy vật: con
người thực ra không phải chỉ là thành quả của các điều kiện kinh tế, và
không thể giải thoát con người chỉ từ bên ngoài bằng cách tạo ra một môi
trường kinh tế thuận lợi.
22. Chúng ta lại thấy ḿnh đối diện với câu hỏi: như vậy liệu chúng ta
có thể hy vọng điều ǵ? Một thái độ tư phê b́nh của thuyết hiện đại là
cần thiết trong cuộc đối thoại với Kitô Giáo và với niềm hy vọng Kitô.
Trong cuộc đối thoại này, cả người Kitô hữu, trong bối cảnh kiến thức và
kinh nghiệm của ḿnh, cũng phải canh tân nhận thức là niềm hy vọng của
ḿnh thực sự chứa đựng điều ǵ, họ phải đem lại những ǵ cho thế giới và
những ǵ họ không thể đem lại. Ḥa với thái độ tự phê này của thời hiện
đại cũng phải có một thái độ tự phê của Kitô Giáo hiện đại, trong đó
chúng ta phải thường xuyên canh tân nhận thức về chính ḿnh khởi đi từ
cội rễ. Về đề tài này, tất cả những ǵ chúng ta có thể cố gắng ở đây là
một vài quan sát ngắn gọn. Đầu tiên chúng ta phải tự hỏi: “tiến bộ” thực
ra có nghĩa là ǵ; nó hứa hẹn những ǵ và nó không hứa hẹn những ǵ?
Trong thế kỷ 19, niềm tin vào tiến bộ đă là đối tượng bị phê phán. Trong
thế kỷ 20, Theodor W. Adorno đă đúc kết vấn đề niềm tin vào tiến bộ một
cách kiệt xuất: ông nói rằng tiến bộ, nh́n cho chính xác, là tiến bộ từ
cái ná tới bom nguyên tử. Đây là một khía cạnh của tiến bộ mà không được
phép che đậy. Nói khác đi: tính chất mơ hồ của của tiến bộ đă trở nên
hiển nhiên. Không nghi ngờ ǵ, nó đem đến nhiều triển vọng cho điều tốt,
nhưng nó cũng mở ra những triển vọng đáng kinh sợ cho sự dữ - những
triển vọng mà trước đó không hề tồn tại. Chúng ta tất cả đă chứng kiến
cách thế trong đó tiến bộ, trong bàn tay sai trái, có thể trở thành và
thực sự đă trở thành một tiến bộ kinh hoàng trong sự ác. Nếu tiến bộ kỹ
thuật không đi kèm với tiến bộ tương ứng trong việc h́nh thành luân lư
con người, trong sự tăng trưởng nội tâm (x Eph 3:16; 2 Cor
4:16), th́ nó chẳng là tiến bộ ǵ cả, nhưng là một mối đe dọa cho con
người và cho thế giới.
23. Đối với hai chủ đề lớn là “lư trí” và “tự do”, ở đây chúng ta chỉ có
thể đề cập đến những vấn nạn gắn liền với chúng. Thật ra, lư trí là hồng
ân Thiên Chúa ban cho con người, và sự chiến thắng của lư trí trên những
điều không hợp lư cũng là một mục tiêu của đời sống Kitô. Nhưng khi nào
th́ lư trí thực sự vinh thắng? Khi nó được tách ra khỏi Thiên Chúa
chăng? Khi nó trở nên mù ḷa trước Thiên Chúa chăng? Có phải lư trí đằng
sau hành động và khả năng hành động là toàn bộ lư trí? Nếu tiến bộ, để
thực sự là tiến bộ, cần đến sự tăng trưởng luân lư về phía nhân loại,
th́ lư trí đằng sau hành động và khả năng hành động cũng cấp thiết cần
đến một sự hội nhập với khả năng phân biệt được thiện ác thông qua sự
cởi mở của lư trí với những lực giải thoát của đức tin. Chỉ có như thế
lư trí mới trở nên thực sự nhân bản. Nó chỉ trở nên nhân bản khi nó có
thể hướng dẫn ư chí theo nẻo chính, và nó chỉ có thể làm được điều đó
nếu nó nh́n xa hơn chính ḿnh. Nếu không, t́nh trạng con người, trong
bối cảnh của sự mất quân b́nh giữa khả năng vật chất và t́nh trạng mất
đi sự phán đoán nơi con tim, sẽ trở nên một mối họa cho con người và cho
tạo vật. Thành ra, nơi đâu tự do được đề cập đến, ở đó chúng ta phải nhớ
rằng tự do con người luôn đ̣i hỏi một sự hội tụ các h́nh thái tự do khác
nhau. Nhưng sự hội tụ này không thể thành công trừ phi nó được khẳng
định bởi một tiêu chuẩn đo lường nội tại chung, là căn bản và mục tiêu
của tự do chúng ta. Chúng ta hăy tóm lại đơn giản như thế này: con người
cần đến Thiên Chúa, nếu không c̣n người vẫn là vô vọng. Trước những phát
triển của thời đại tân tiến, câu trích dẫn từ Thánh Phaolô mà tôi đă
dùng để khởi đầu (Eph 2:12), được chứng minh thật là thực tế và
quá đúng. Do đó, không nghi ngờ ǵ, một “Nước Trời” đạt được mà không có
Thiên Chúa –một vương quốc loài người mà thôi- sẽ không tránh khỏi cáo
chung như “một kết thúc quái lạ” của mọi sự như đă được mô tả bởi Kant:
chúng ta đă từng thấy, và chúng ta thấy đi thấy lại điều đó.
”Bối cảnh” cho học hỏi và thực hành hy vọng
Cầu nguyện là trường học của hy vọng
32. Bối cảnh thiết yếu đầu tiên cho việc học hỏi hy vọng là cầu nguyện.
Khi không c̣n ai lắng nghe tôi nữa, Chúa vẫn nghe tôi. Khi tôi không c̣n
có thể tâm sự hay kêu cầu được với ai, tôi luôn luôn có thể thưa với
Chúa. Khi không c̣n ai giúp tôi biết xử sự thế nào trước nhu cầu hay
mong đợi vượt quá khả năng hy vọng của con người, Chúa có thể giúp tôi
25. Dù tôi bị đắm ch́m ngập lụt trong cô liêu hoàn toàn...;
nếu tôi cầu nguyện th́ tôi không bao giờ hoàn toàn đơn côi. Đức cố Hồng
Y Nguyễn Văn Thuận, một người tù trong 13 năm, trong đó có 9 năm bị biệt
giam, đă để lại cho chúng ta cuốn sách nhỏ quí giá: Những Lời Cầu Nguyện
của Niềm Hy Vọng. Trong ṿng 13 năm tù đầy, trong một t́nh trạng hầu như
là tuyệt vọng, sự kiện là ngài có thể lắng nghe và thân thưa với Chúa đă
trở nên một quyền năng hy vọng gia tăng cho ngài, khiến ngài, sau khi ra
khỏi tù, đă trở nên một chứng nhân hy vọng cho dân chúng trên toàn thế
giới – chứng nhân của một niềm hy vọng lớn lao không tàn lụi ngay cả
trong những đêm đen của cô liêu.
33. Thánh Augustinô, trong bài giảng về lá thư thứ nhất của thánh Gioan,
mô tả cách tuyệt hảo nhất về mối tương quan giữa cầu nguyện và hy vọng.
Ngài định nghĩa cầu nguyện là một thao tác của ḷng muốn. Con người đă
được tạo dựng cho sự cao cả—cho chính Thiên Chúa; con người đă được tạo
dựng để được lấp đầy bởi Thiên Chúa. Nhưng tâm hồn con người th́ quá nhỏ
so với sự cao cả mà nó đă được trù định trước. Nó cần được nới rộng ra.
“Khi tŕ hoăn [ban ân huệ], Thiên Chúa củng cố ḷng muốn của chúng ta;
qua ḷng muốn Người nới rộng linh hồn chúng ta và khi mở rộng, Người gia
tăng sức chứa của nó [để đón nhận Người]”. Thánh Augustinô quy chiếu về
thánh Phaolô, người đă nói ḿnh ráng sức đạt tới những điều sẽ đến (x.
Pl 3,13). Sau đó ngài đă sử dụng một h́nh ảnh rất đẹp để mô tả tiến
tŕnh mở rộng và chuẩn bị tâm hồn con người. “Giả dụ Thiên Chúa muốn lấp
đầy tâm hồn bạn bằng mật ong [một biểu tượng về sự dịu dàng và ḷng tốt
của Thiên Chúa]; nhưng nếu ḷng bạn đầy dấm chua, bạn đổ mật ong vào nơi
nào?” Cái b́nh, vốn là tâm hồn chúng ta, trước tiên phải được nới rộng
và sau đó rửa sạch, không c̣n dấm và mùi vị của nó nữa. Điều đó đ̣i phải
làm việc cật lực và gây đau đớn, nhưng chỉ theo cách ấy thôi mà chúng ta
trở nên phù hợp với điều mà chúng ta đă được trù định trước. 26
Cho dù thánh Augustinô chỉ nói trực tiếp đến khả năng của chúng ta chứa
đựng Thiên Chúa, tuy vậy rơ ràng rằng qua nỗ lực loại bỏ dấm chua và mùi
vị của nó, không những chúng ta nên tự do đối với Thiên Chúa, nhưng c̣n
rộng mở với người khác nữa. Chính khi trở nên con cái của Thiên Chúa, mà
chúng ta có thể ở với người Cha chung của chúng ta. Cầu nguyện không
phải là đi ra khỏi lịch sử và rút lui vào góc hạnh phúc riêng của chúng
ta. Khi chúng ta cầu nguyện cách đúng đắn chúng ta trải qua một tiến
tŕnh thanh luyện bên trong, nó mở ḷng chúng ta ra với Thiên Chúa và
theo cách đó cả với đồng loại chúng ta nữa. Trong cầu nguyện chúng ta
phải biết điều chúng ta có thể xin Thiên Chúa—điều xứng đáng với Thiên
Chúa. Chúng ta phải biết rằng chúng ta không thể cầu nguyện chống lại
người khác. Chúng ta phải biết rằng chúng ta không thể cầu xin những
điều nông cạn và những tiện nghi mà chúng ta muốn vào lúc này— v́ niềm
hy vọng nghèo nàn, giả tạo dẫn chúng ta xa ĺa Thiên Chúa. Chúng ta phải
biết thanh luyện ước muốn và khát vọng của chúng ta. Chúng ta phải biết
tự giải thoát khỏi những giả dối ẩn khuất gây thất vọng cho chúng ta.
Thiên Chúa thấy rơ chúng, và khi chúng ta đến trước mặt Thiên Chúa,
chúng ta cũng bị bắt buộc nhận ra chúng. Vịnh gia đă cầu nguyện: “Nhưng
nào ai thấy rơ lầm lỗi ḿnh? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay”
(Tv 19,12 [18,13]). Thất bại trong việc nh́n nhận lầm lỗi của
ḿnh, ảo tưởng về sự vô tội của ḿnh, không làm cho tôi nên công chính
và không cứu thoát tôi, bởi v́ tôi đáng khiển trách v́ lương tâm nặng nề
và không thể nhận ra sự dữ như nó là trong con người tôi. Nếu Thiên Chúa
không hiện hữu, có lẽ tôi cần t́m nơi trú ẩn trong những lọc lừa ấy, bởi
v́ không ai có thể tha thứ cho tôi; không ai là tiêu chuẩn đích thực.
Tuy nhiên sự gặp gỡ với Thiên Chúa thức tỉnh lương tâm của tôi, v́ nó
không c̣n nhắm đến sự công chính hoá bản thân, không c̣n là một suy nghĩ
đơn thuần của tôi và của những người đương thời đang uốn nắn suy nghĩ
của tôi, nhưng nó trở thành một khả năng lắng nghe chính sự Thiện.
34. Để lời cầu nguyện phát triển được sức mạnh thanh tẩy, một đàng lời
cầu nguyện ấy phải là cái ǵ đó rất riêng tư, là một cuộc gặp gỡ giữa
thâm sâu của chính tôi với Chúa, Thiên Chúa hằng sống. Đàng khác, lời
cầu ấy phải luôn được hướng dẫn và soi sáng bởi những kinh nguyện quư
giá của Giáo Hội và của các thánh, và bởi lời cầu phụng vụ, trong đó
Chúa dạy đi dạy lại chúng ta làm thế nào cầu nguyện cho xứng hợp. Đức
Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, trong quyển sách của ngài về luyện đàng thiêng
liêng, nói với chúng ta rằng trong cuộc đời ngài, có những thời gian dài
ngài đă không thể cầu nguyện được và ngài đă phải bám lấy những kinh
nguyện của Giáo Hội như kinh Lậy Cha, kinh Kính Mừng và các kinh nguyện
phụng vụ 27. Cầu nguyện phải luôn luôn có sự pha trộn giữa
lời cầu nguyện chung và cá nhân. Đây là cách thế chúng ta có thể thân
thưa với Chúa và Chúa nói với chúng ta. Trong đường lối này, chúng ta
trải qua những cuộc thanh tẩy, qua đó, chúng ta mở ḷng ḿnh ra cho Chúa
và sẵn sàng cho việc phục vụ đồng loại. Chúng ta trở nên có khả năng cho
niềm hy vọng vĩ đại, và do đó, trở thành các thừa tác viên của niềm hy
vọng cho kẻ khác. Hy vọng trong ư nghĩa Kitô giáo luôn luôn cũng là niềm
hy vọng cho những người khác. Nó là niềm hy vọng tích cực, trong đó
chúng ta chiến đấu hầu tránh làm cho mọi sự đừng hướng đến một “chung
cuộc quái ác”. Đó cũng là niềm hy vọng tích cực theo nghĩa là chúng ta
giữ cho thế giới này mở ḷng ra cho Thiên Chúa. Chỉ trong đường lối ấy
niềm hy vọng này mới tiếp tục là niềm hy vọng nhân bản đích thật.
II. Hành động và đau khổ như những môi trường để học biết niềm hy
vọng
35. Mọi hành động nghiêm chỉnh và đúng đắn của con người đều là niềm hy
vọng bằng hành động. Trước tiên điều đó có nghĩa là chúng ta nỗ lực thực
hiện các niềm hy vọng của chúng ta, nhỏ bé hay lớn lao hơn: hoàn thành
công việc này hoặc công việc kia vốn quan trọng trong cuộc hành tŕnh
tiến lên của chúng ta, hoặc chúng ta hành động cho một thế giới tươi đẹp
và nhân bản hơn để mở rộng cửa cho tương lai. Tuy nhiên những nỗ lực
hằng ngày trong việc theo đuổi đời sống chúng ta và trong việc hành động
cho tương lai của thế giới làm chúng ta mệt mỏi và biến thành cuồng tín,
trừ phi chúng ta được chiếu sáng bởi vẻ huy hoàng của niềm hy vọng lớn
lao vốn không thể bị huỷ diệt bởi những thất bại trong những việc nhỏ
cũng như trong sự sụp đổ của những vấn đề có tầm quan trọng lịch sử. Nếu
chúng ta không thể hy vọng hơn điều đạt được trong một thời gian nhất
định, hay hơn điều được các nhà cầm quyền chính trị và kinh tế hứa hẹn,
cuộc sống của chúng ta sẽ chẳng mấy chốc không c̣n hy vọng. điều quan
trọng là biết rằng tôi luôn có thể tiếp tục hy vọng, dù cho trong đời
sống chúng ta hay giai đoạn lịch sử mà tôi sống, dường như không có điều
ǵ để hy vọng. Chỉ với niềm xác tín lớn lao của niềm hy vọng mà đời tôi
và lịch sử nói chung, dù gặp bao thất bại, mới được cầm giữ bởi sức mạnh
không thể huỷ diệt của T́nh yêu, và chỉ có niềm xác tín lớn lao đó mới
có thể đem lại cho chúng ư nghĩa và tầm quan trọng, chỉ thứ hy vọng đó
mới đem lại can đảm để hành động và kiên tŕ. Chắc chắn chúng ta không
thể “xây dựng” Nước Thiên Chúa chỉ bằng nỗ lực của chúng ta—điều chúng
ta xây dựng sẽ luôn là vương quốc của con người với tất cả những giới
hạn liên quan đến bản tính con người. Nước Thiên Chúa là một quà tặng,
và chính v́ thế, nó thật lớn lao và đẹp đẽ, và làm nên lời đáp trả cho
niềm hy vọng của chúng ta. Và chúng ta không thể —dùng lối diễn tả xưa—
“đáng được” Thiên đàng qua việc làm của chúng ta. Thiên đàng c̣n hơn là
cái ǵ chúng ta đáng được, cũng như việc được yêu mến không bao giờ là
cái ǵ “đáng được”, nhưng luôn là một quà tặng. Tuy nhiên, dẫu khi chúng
ta ư thức đầy đủ rằng Thiên đàng vượt quá điều chúng ta có thể xứng
đáng, th́ vẫn luôn đúng là cách ứng xử của chúng ta không phải là bàng
quan trước mặt Thiên Chúa và v́ thế không là bàng quan đối với diễn tiến
lịch sử. Chúng ta có thể mở rộng chính chúng ta và thế giới, và cho phép
Thiên Chúa đi vào: chúng ta có thể mở ḷng cho chân lư, t́nh yêu và điều
ǵ thiện hảo. Đó là điều các thánh đă làm, những người trong tư cách là
“cộng sự viên của Thiên Chúa”, đă đóng góp vào việc cứu độ trần gian (x.
1 Cr 3,9; 1 Th 3,2). Chúng ta có thể giải thoát cuộc sống
chúng ta và thế giới khỏi độc tố và sự lây nhiễm có thể huỷ diệt hiện
tại và tương lai. Chúng ta có thể khám phá các nguồn mạch của tạo vật và
giữ chúng không biến dạng, và theo cách thức ấy, chúng ta có thể sử dụng
đúng đắn tạo vật, đến với chúng ta như một quà tặng, theo những đ̣i hỏi
nội tại và mục đích tối hậu của quà tặng này. Điều đó đem lại ư nghĩa,
cho dù bề ngoài chúng ta không thành đạt được ǵ hay dường như bất lực
khi đối diện với các sức mạnh thù địch. V́ thế một mặt, hành động của
chúng ta nảy sinh niềm hy vọng cho chúng ta và cho người khác; nhưng
đồng thời, đó là niềm hy vọng lớn lao đặt nền tảng trên các lời hứa của
Thiên Chúa vốn đem lại cho chúng ta sự can đảm và hướng dẫn hành động
chúng ta trong thời thuận tiện cũng như không thuận tiện.
36. Giống như hành động, đau khổ là một phần của cuộc sống con người.
Đau khổ một phần xuất phát từ những giới hạn của chúng ta, và một phần
từ khối lượng tội lỗi đă tích luỹ suốt gịng lịch sử, và ngày nay vẫn
đang tiếp tục lớn lên không ngừng. Chắc chắn chúng ta phải làm bất cứ
điều ǵ trong khả năng để giảm bớt đau khổ: để hết sức tránh đau khổ cho
người vô tội; để làm giảm nhẹ cơn đau đớn; để giúp vượt thắng các đau
khổ tinh thần. Đó là những đ̣i buộc của công b́nh và t́nh yêu, và chúng
được hàm chứa trong các đ̣i hỏi nền tảng của đời sống Kitô hữu và mọi
cuộc sống nhân bản đích thực. các tiến bộ lớn lao đă được thực hiện
trong cuộc chiến chống lại những đau đớn thể lư; tuy vậy những đau khổ
của người vô tội và những đớn đau tinh thần lại gia tăng trong những
thập niên vừa qua. Quả thế, chúng ta phải làm hết sức chúng ta để vượt
thắng đau khổ, nhưng loại trừ hoàn toàn đau khổ khỏi thế giới này là
việc vượt quá tầm tay chúng ta. Đơn giản là v́ chúng ta không thể loại
bỏ sự giới hạn của chúng ta và v́ không ai trong chúng ta có khả năng
loại trừ quyền lực của sự dữ, của tội lỗi, như chúng ta thấy, vốn là
nguồn mạch thường hằng của đau khổ. Chỉ ḿnh Thiên Chúa mới có thể làm
điều ấy: chỉ ḿnh một Thiên Chúa đă tự ư đi vào lịch sử khi làm người và
chịu đau khổ trong lịch sử. Chúng ta biết rằng vị Thiên Chúa ấy hiện
hữu, và v́ thế chúng ta biết rằng quyền năng “xoá bỏ tội trần gian” (Ga
1,29) đang hiện hữu trong thế giới. Nhờ đức tin vào sự hiện diện của
quyền năng ấy, hy vọng về một thế giới được chữa lành đă nổi lên trong
lịch sử. Tuy nhiên, đó là hy vọng—chưa được hoàn thành; hy vọng đem lại
cho chúng ta sự can đảm để đặt ḿnh vào phía sự thiện dù sống trong
những hoàn cảnh dường như vô vọng, với niềm xác tín rằng, bao lâu gịng
lịch sử bên ngoài được đề cập đến, quyền lực tội lỗi vẫn tiếp tục hiện
diện cách kinh hoàng.
37. Chúng ta hăy trở lại đề tài của ḿnh. Ta có thể giới hạn đau khổ,
chiến đấu chống lại nó, nhưng không thể loại trừ nó. Chính khi chúng ta
cố gắng tránh khổ đau bằng cách rút lui khỏi những ǵ có thể gây thương
tổn, khi ta không muốn phí sức hoặc tránh nỗi đau trong việc đeo đuổi sự
thật, t́nh yêu, và điều thiện, th́ lúc đó chúng ta đă để ḿnh trôi giạt
vào cuộc sống trống rỗng, nơi đó có thể hầu như không có đau đớn, nhưng
cái cảm nghiệm tối tăm của vô nghĩa và bị bỏ rơi c̣n lớn hơn bao giờ
hết. Không phải là bỏ ra ngoài hoặc trốn tránh khỏi sự khổ đau là chúng
ta được chữa lành, nhưng chính là do khả năng của chúng ta chấp nhận nó,
trưởng thành với nó và t́m ra ư nghĩa qua việc kết hợp với Chúa Kitô,
Đấng đă chịu thương khó với t́nh yêu vô biên. Trong ư nghĩa này, tôi
muốn trích một đoạn từ lá thư của vị tử đạo Việt Nam, Thánh Phaolô Lê
Bảo Tịnh, († 1857) trong đó ngài diễn đạt sự biến hóa đau khổ qua quyền
năng hy vọng, phát sinh từ đức tin như sau: “Tôi, Phaolô, bị gông cùm v́
danh Chúa Kitô, ước mong kể lại cho các con những thử thách mà cha chịu
hằng ngày, để nhờ đó các con có thể bùng lên ngọn lửa yêu mến Chúa và
hợp với cha ngợi khen Chúa, v́ lượng từ bi Chúa hải hà muôn đời (Tv
136 [135]). Nhà tù ở đây thực sự là h́nh ảnh Hỏa Ngục muôn đời: thêm vào
bên cạnh những đ̣n tra tấn dă man gồm đủ mọi cách – gông cùm, xiềng
xích, đe dọa –là thù hận, trả thù, tai ương, thô bạo tục tằn, căi vă,
hành động độc ác, chửi thề, cũng như những nỗi âu lo và than khóc. Nhưng
chính Chúa là Đấng đă giải thoát 3 trẻ nhỏ khỏi ḷ lửa hăi hùng, đă ở
với cha luôn luôn; Ngài đă giải thoát cha khỏi những khốn cùng này và
làm cho chúng nên dịu ngọt, v́ ḷng từ bi Chúa muôn đời. Những gian
truân này thường làm kinh khiếp nhiều người khác, thế nhưng với cha, nhờ
ơn Chúa, cha tràn đầy niềm vui và phúc lạc, bởi v́ cha không ở một ḿnh
– Đức Kitô ở với cha... Làm sao cha có thể chịu được cái cảnh mỗi ngày
nh́n thấy các vua chúa, quan quyền, và những tay sai của họ phạm thượng
tới thánh danh, Ôi lậy Chúa, Người là Đấng ngự ngai ṭa trên các thiên
thần Cherubim và Seraphim? (x. Tv 80:1 [79:2]). Chúa hăy xem đây,
những kẻ ngoại đạo đă đang chà đạp Thánh Giá Chúa dưới chân! C̣n đâu là
vinh quang Chúa? Khi con nh́n thấy tất cả những sự này, con muốn với tất
cả t́nh yêu cháy bỏng của con cho Chúa, ước ao tay chân con bị chia ra
thành mảnh, chết làm chứng cho t́nh yêu Chúa. Lạy Chúa, xin hăy tỏ quyền
năng Chúa, cứu con, nâng đỡ con, hầu trong sự yếu mềm của con, quyền
năng Chúa sẽ được sáng soi và được vinh hiển trước mặt các dân nước...
Anh em chủng sinh thân mến, khi các con nghe biết tất cả những sự việc
này, các con hăy cám tạ Thiên Chúa không hết lời trong niềm vui, v́ từ
Chúa mọi điều tốt sẽ nảy sinh; các con hăy chúc tụng Chúa với cha, v́
ḷng nhân từ Chúa vô bờ bến... Cha viết ra những ḍng chữ này cho các
con ngơ hầu đức tin của các con và của cha được hiệp nhất. Giữa phong ba
băo táp, cha bỏ neo con thuyền của cha vào ngai Thiên Chúa, chiếc neo đó
là hy vọng sống động trong trái tim cha.” 28 Đây là một lá thư
viết từ “Hỏa Ngục”. Nó phơi bầy trắng trợn tất cả những kinh hoàng của
trại tù tập trung, nơi mà những vết thương gây ra bởi những bạo chúa
trên những nạn nhân của chúng được cộng thêm với sự bùng nổ của tội ác
trong chính cả những nạn nhân, đến nỗi đến lượt họ lại trở thành những
khí cụ cho sự độc ác của những người hành hạ họ. Đây chính là lá thư
viết từ Hỏa Ngục, nhưng nó cũng nói lên sự thật trong đoạn Thánh Vịnh
như sau: “Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp
thấy Ngài… Con tự nhủ: ‘Ước ǵ bóng tối bao phủ tôi và ánh sáng quanh
tôi thành đêm tối!’ Nhưng đối với Ngài, tối tăm chẳng có chi mù mịt, và
đêm đen sáng tỏ như ban ngày, bóng tối và ánh sáng cũng như nhau” (Tv
139 [138]:8-12; và x. Tv 23 [22]:4). Đức Kitô đă xuống “Hỏa Ngục”
và v́ thế gần gũi với những ai bị ném vào trong đó, khi Ngài biến đổi sự
tối tăm của họ thành ánh sáng. Sự đau khổ và hành hạ vẫn c̣n thật khủng
khiếp và dĩ nhiên là không thể chịu nổi. Thế nhưng, ánh sao của niềm hy
vọng đă vươn lên – chiếc neo của trái tim đạt tới chính ngai của Thiên
Chúa. Thay v́ sự dữ hành hạ trong thân xác con người, th́ ánh sáng tỏa
chiếu vinh quang: khổ đau – không ngừng là khổ đau – nhưng bất chấp mọi
sự đang trở nên bài tụng ca ngợi khen Chúa.
38. Mức độ đích thực của nhân bản được xác định cách cơ bản trong mối
tương quan với đau khổ và người đau khổ. Điều đó có giá trị cả đối với
cá nhân lẫn xă hội. Một xă hội không thể đón nhận các thành viên đau khổ
và không thể giúp chia sẻ đau khổ của họ và mang lấy nó vào trong tâm
hồn qua thái độ “đồng cảm” là một xă hội tàn bạo và vô nhân đạo. Tuy
nhiên xă hội không thể đón nhận các thành viên đau khổ và nâng đỡ họ
trong thử thách trừ phi các cá nhân có khả năng tự ḿnh làm điều ấy; hơn
nữa, cá nhân không thể đón nhận đau khổ của nhau trừ phi chính cá nhân
ấy có khả năng t́m thấy ư nghĩa trong đau khổ, một con đường thanh luyện
và tăng trưởng trong sự trưởng thành, một hành tŕnh của hy vọng. Quả
thế, chấp nhận “người khác” đang đau khổ, có nghĩa là tôi mang lấy đau
khổ của người ấy như thể nó trở thành là của tôi. Bởi v́ bây giờ nó trở
thành một đau khổ được chia sớt, trong đó có sự hiện diện của một người
khác, đau khổ ấy được hiểu thấu nhờ ánh sáng của t́nh yêu. Tiếng La-tinh
con-solatio, “an ủi”, diễn tả điều ấy cách tuyệt hảo. Nó gợi lên sự hiện
diện với người khác trong sự cô đơn của họ, hầu nó không c̣n là sự cô
đơn nữa. Hơn nữa, khả năng chấp nhận đau khổ v́ sự thiện, chân lư và
công b́nh là một tiêu chuẩn cốt yếu của tính nhân văn, bởi v́ nếu rốt
cuộc hạnh phúc và an toàn của bản thân tôi quan trọng hơn chân lư và
công b́nh, th́ quyền lực của kẻ mạnh hơn thắng thế, và rồi bạo lực và
gian dối ngự trị. Hoặc chân lư và công b́nh phải đứng trên sự tiện nghi
và hạnh phúc thể lư, hoặc cuộc sống tôi trở thành một sự dối trá. Cuối
cùng, tiếng “xin vâng” với t́nh yêu cũng là nguồn mạch của đau khổ, bởi
v́ t́nh yêu luôn đ̣i truất hữu cái “Tôi”, qua đó tôi để ḿnh bị cắt tỉa
và bị thương tích. T́nh yêu không thể hiện hữu nếu không từ khước chính
ḿnh, một sự từ khước đau đớn, bằng không nó sẽ trở thành ích kỷ và v́
thế không c̣n là t́nh yêu nữa.
39. Đau khổ cùng với kẻ khác và cho những kẻ khác; đau khổ v́ sự thật và
công lư; đau khổ v́ t́nh yêu và để trở nên một người biết yêu thương
thực sự - đó là những yếu tố căn bản của nhân loại, và loại bỏ những yếu
tố này sẽ hủy diệt chính con người. Tuy nhiên, một loạt câu hỏi lại được
nêu ra: chúng ta có khả năng này không? Người ta có quan trọng đến mức
tôi phải đâm ra là người chịu đau khổ v́ họ? Đối với tôi sự thật có đáng
để đau khổ v́ nó là có giá trị? Lời hứa của t́nh yêu có cao cả đến mức
biện minh được việc cho đi chính tôi? Trong lịch sử của nhân loại, chính
đức tin có công đặc biệt trong việc đưa ra từ bên trong con người một
khả năng mới và sâu xa dám chấp nhận những h́nh thái đau khổ có tính
chất quyết định đối với tính nhân bản của con người. Đức tin Kitô đă cho
chúng ta thấy rằng sự thật, công lư và yêu thương không chỉ đơn thuần là
những lư tưởng, nhưng là những thực tại đáng giá to lớn. Đức tin Kitô
cho thấy Thiên Chúa – hiện thân của Sự Thật và T́nh Yêu – đă muốn chịu
đau khổ v́ chúng ta và với chúng ta. Thánh Bernard thành Clairvaux đă
đưa ra câu nói tuyệt vời này: Impassibilis est Deus, sed non
incompassibilis29- Thiên Chúa không thể đau khổ, nhưng
Ngài có thể đau khổ với. Con người đáng giá đến mức chính Thiên
Chúa đă trở thành phàm nhân để đau khổ với con người trong một
cách thế rất thật – trong thân xác và máu – như đă được tŕnh bày cho
chúng ta thấy trong tŕnh thuật Thương Khó của Chúa Giêsu. Thành ra,
trong mọi đau khổ nhân sinh chúng ta được liên kết với Đấng chịu và gánh
lấy đau khổ đó vớichúng ta; nên con-solatio hiện diện nơi
tất cả đau khổ, như lời ủi an từ ḷng yêu thương lân tuất của Chúa - và
v́ thế ngôi sao hy vọng vươn lên. Chắc chắn trong nhiều đau khổ và thử
thách đa dạng của chúng ta, chúng ta cũng luôn cần đến những hy vọng lớn
nhỏ - một cuộc thăm viếng thân t́nh, sự chữa lành những vết thương trong
ngoài, một quyết tâm thuận lợi giải quyết một cuộc khủng hoảng, và vân
vân. Trong những thử thách ít nghiêm trọng, những h́nh thái hy vọng này
cũng có thể là đủ cho chúng ta. Nhưng trong những thử thách thực sự cam
go, khi tôi phải đưa ra một quyết định chung cuộc để đặt sự thật trước
phúc lợi, sự nghiệp và của cải của chính ḿnh, tôi cần đến sự xác tín
của niềm hy vọng thực sự và to lớn mà chúng ta đă đề cập nơi đây. Về
điểm này, chúng ta cần đến những chứng nhân - những vị tử đạo - những
người đă cho đi chính ḿnh toàn bộ, để ngày qua ngày chỉ ra cho chúng ta
thấy đâu là chính lộ. Chúng ta cần đến họ nếu chúng ta ưa chuộng điều
thiện hơn sự thoải mái, ngay cả trong những lựa chọn nhỏ nhặt mà chúng
ta đối diện hàng ngày – khi biết rằng đó là cách để chúng ta sống đời
ḿnh cho viên măn. Chúng ta hăy lặp lại lần nữa: khả năng chịu đau khổ
v́ sự thật là thước đo tính nhân bản. Nhưng khả năng chịu đựng này tùy
thuộc vào h́nh thái và quy mô của niềm hy vọng mà chúng ta mang và ấp ủ
trong ḷng. Các thánh đă có thể trải qua một cuộc lữ hành trân thế cao
đẹp trong cách thức mà Chúa Kitô đă thực thi trước các ngài, v́ họ tràn
trề niềm hy vọng lớn lao.
40. Tôi muốn thêm vào nơi đây một nhận xét ngắn gọn khác với những liên
hệ trong đời sống hàng ngày. Trước đây thường có một h́nh thức đạo đức –
có lẽ ít được thực hành ngày nay nhưng đă rất phổ biến trước đây không
lâu – trong đó bao gồm ư tưởng “dâng lên” những lao nhọc nhỏ hàng ngày
thường xuyên quấy nhiễu chúng ta như “những cú thọc mạnh” phiền toái,
qua đó ban cho chúng một ư nghĩa. Dĩ nhiên, đă có những phóng đại và
những lạm dụng không lành mạnh h́nh thức đạo đức này, nhưng chúng ta cần
tự hỏi ḿnh liệu tối hậu điều này có chứa đựng những ǵ thiết yếu và có
ơn ích không. Dâng lên có nghĩa là ǵ? Những ai thực hành h́nh thức đạo
đức này đều tin là họ có thể đóng góp những phiền nhiễu nhỏ này vào cuộc
“đồng-thương khó” (nguyên văn “com-passion”) vĩ đại của Chúa Kitô để
cách nào đó họ trở nên một phần của kho tàng trắc ẩn (nguyên văn
compassion) rất cần của nhân loại. Qua đó, ngay cả những bất tiện nhỏ
nhặt trong cuộc sống hàng ngày cũng có ư nghĩa và đóng góp cho nhiệm cục
của sự thiện và t́nh yêu nhân loại. Có lẽ chúng ta nên xem lại liệu
chính chúng ta có nên làm sống lại thực hành này hay không.
III. Phán Xét như bối cảnh cho việc học hỏi và thực hành hy vọng.
41. Trong phần kết của đoạn giữa Kinh Tin Kính của Giáo Hội –
phần kể lại mầu nhiệm Chúa Kitô, từ lúc sinh ra hằng hữu bởi Chúa Cha và
lúc sinh ra hữu hạn bởi Đức Maria Đồng Trinh, qua Thập Giá và Phục Sinh
đến khi Người lại đến lần thứ hai - chúng ta thấy câu: “Người sẽ trở lại
trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.” Từ thời xa xưa, viễn
ảnh của sự Phán Xét đă ảnh hưởng đến các Kitô hữu trong đời sống hàng
ngày như một tiêu chuẩn để sắp xếp trật tự cho đời sống hiện tại của họ,
như những lời réo gọi trong lương tâm của họ, và đồng thời như niềm hy
vọng vào công lư của Thiên Chúa. Đức tin vào Chúa Kitô không bao giờ chỉ
nh́n lui lại phía sau hay nh́n lên trên, mà cũng luôn luôn nh́n về phía
trước về giờ phán xét mà Chúa luôn nhắc nhở. Việc nh́n về phía trước này
làm cho Kitô hữu thấy được tầm quan trọng của hiện tại. Khi thiết kế các
thánh đường Kitô Giáo, với ư hướng làm rơ chiều kích lịch sử và vũ trụ
của đức tin nơi Đức Kitô, thông thường ở đầu phía đông của thánh đường,
người ta tŕnh bày Chúa Kitô trở lại như một vị vua - một biểu tượng của
hy vọng; trong khi ở bức tường phía tây người ta thường tŕnh bầy cuộc
Chung Thẩm như một biểu tượng của trách nhiệm chúng ta đối với đời sống
ḿnh - một h́nh ảnh theo đuổi và đồng hành với các tín hữu khi họ bước
ra khỏi thánh đường để tiếp tục cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, khi h́nh
ảnh về cuộc Chung Thẩm được phát triển, càng ngày những khiá cạnh kinh
hoàng và đáng sợ càng được chú ư làm nổi bật lên, điều này hiển nhiên
thu hút các họa sĩ hơn là vẻ huy hoàng của hy vọng, thường bị chôn vùi
bên dưới những sự kinh hoàng.
42. Trong thời đại mới, ư tưởng Chung Thẩm đă mờ dần bên trong hậu
trường: đức tin Kitô đă được cá nhân hóa và người tín hữu hướng nhiều
hơn đến phần rỗi của chính linh hồn ḿnh, trong khi sự suy tư về lịch sử
thế giới lại bị lấn át bởi ư tưởng của thuyết tiến bộ. Tuy nhiên, nội
dung căn bản của việc trông đợi ngày Chung Thẩm vẫn chưa mất đi: nó chỉ
đơn thuần nhận lấy một h́nh thức hoàn toàn khác. Thuyết vô thần của thế
kỷ 19 và 20 - trong nguồn gốc và mục đích của nó- là một học thuyết luân
lư: một sự phản kháng chống lại những bất công của thế giới và của lịch
sử thế giới. Một thế giới được ghi dấu bởi quá nhiều những bất công,
những đau khổ của người vô tội, và sự hoài nghi quyền lực, không thể nào
là kỳ công tŕnh của một Thiên Chúa tốt lành. Một Thiên Chúa chịu trách
nhiệm về một thế giới như vậy không thể là một Thiên Chúa công chính, và
càng không phải là một Thiên Chúa nhân lành. V́ lợi ích của luân lư,
Thiên Chúa này phải bị thách đố. V́ không có một Thiên Chúa đứng ra tạo
lập công lư, nên dường như chính con người ngày nay được mời gọi để
thiết lập công lư. Trước đau khổ của thế giới này, sự thách đố chống lại
Thiên Chúa là có thể hiểu được; nhưng điều cho rằng nhân loại có thể và
phải làm những ǵ không có Chúa nào thực sự làm hay có thể làm, vừa là
quá ngạo mạn vừa là sai lầm từ bên trong. Tư tưởng này không phải ngẫu
nhiên đă đưa đến những h́nh thức ghê gớm nhất của sự bạo tàn và những
chà đạp công lư; nhưng chính là v́ nó đă được đặt căn bản trên sự sai
lầm nội tại của khẳng định này. Một thế giới phải tự tạo ra công lư cho
ḿnh là một thế giới không có hy vọng. Không ai và không có ǵ có thể
trả lời cho biết bao những thế kỷ đau thương. Không ai và không có ǵ có
thể bảo đảm rằng sự hoài nghi quyền lực - bất kể nó mang mặt nạ ư thức
hệ nào - sẽ ngừng thống trị thế giới này. Chính v́ vậy mà những tư tưởng
gia nổi tiếng của Trường Phái Frankfurt, như Max Horkheimer và Theodore
Adorno đă chỉ trích cả thuyết vô thần lẫn hữu thần. Horkheimer loại trừ
thẳng tay khả năng t́m được một cái ǵ trong trần thế có thể thay thế
được Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng chối bỏ h́nh ảnh của một Thiên
Chúa tốt lành và công chính. Đề cập đến việc Cựu Ước kêu gọi loại trừ
triệt để những ngẫu tượng, ông ta đă coi “sự khao khát một Đấng toàn
năng khác” dù không tiếp cận được – như một tiếng kêu đ̣i hướng đến lịch
sử thế giới. Adorno cũng mạnh mẽ ủng hộ một thái độ chối bỏ hoàn toàn
những h́nh tượng, mà lẽ tất nhiên bao gồm sự loại bỏ bất cứ “h́nh ảnh”
nào của một Thiên Chúa yêu thương. Mặt khác, ông cũng thường xuyên nhấn
mạnh cái biện chứng “tiêu cực” này và khẳng định rằng công lư - một công
lư chân thật - đ̣i hỏi một thế giới trong đó, “không những các đau khổ
hiện tại phải được loại trừ, mà cả quá khứ không thể đảo ngược được cũng
phải được đền bù lại.” 30 Tuy nhiên, nói một cách tích cực,
dù theo ông vẫn là những biểu tượng chưa đầy đủ, th́ điều này có nghĩa
là không thể nào có công lư khi không có sự sống lại của kẻ chết. Nhưng
như vậy, điều này sẽ liên quan đến “sự sống lại của thân xác, một điều
hoàn toàn xa lạ đối với học thuyết và phạm trù của thuyết tinh thần
Tuyệt Đối.” 31
43. Kitô hữu cũng có thể và phải thường xuyên học hỏi từ sự từ bỏ hoàn
toàn những ngẫu tượng được chứa đựng trong điều răn thứ nhất của Thiên
Chúa (xem Xh 20:4). Sự thật của thần học tiêu cực được nhấn mạnh
trong Công Đồng Latêranô thứ Tư, là Công Đồng đă khẳng định rơ rằng dù
cho có sự tương đồng đến đâu đă được thiết lập giữa Tạo Hóa và tạo vật,
sự dị biệt luôn luôn vẫn là lớn hơn. 32 Dù sao chăng nữa, đối
với các tín hữu, sự từ bỏ các h́nh tượng không thể đi đến mức quá khích
khiến cho người ta phải trở nên giống như Horkheimer và Adorno, là chối
bỏ cả hai học thuyết - hữu thần và vô thần. Chúa đă tự cho ḿnh một
“h́nh ảnh” trong Đức Kitô xuống thế làm người. Trong Người, Đấng bị đóng
đinh vào thập giá, sự bác bỏ những h́nh ảnh sai lầm về Thiên Chúa đă
được đưa đến tột đỉnh. Chúa giờ đây mạc khải thiên nhan thật sự của
Người trong h́nh ảnh của kẻ khổ đau đang chia sẻ hoàn cảnh của con Người
bị Chúa bỏ rơi bằng cách tự sa vào hoàn cảnh ấy. Kẻ vô tội chịu đau khổ
này đă mang lại niềm hy vọng xác quyết là có một Thiên Chúa, và Thiên
Chúa có thể tạo dựng công lư theo cách thức chúng ta không thể h́nh dung
ra được, nhưng lại có thể bắt đầu hiểu được qua đức tin. Vâng, có sự
sống lại của thân xác. 33 Có công lư. 34 Có một sự
“đền bù lại” các đau khổ trong quá khứ, một sự sửa sai giúp cho mọi sự
được đúng trở lại. V́ lư do này, niềm tin vào cuộc Chung Thẩm là niềm hy
vọng trước hết và trên hết – một nhu cầu đă được biểu hiện nhăn tiền qua
biết bao các cuộc nổi loạn trong các thế kỷ gần đây. Tôi tin rằng vấn đề
công lư là luận cứ thiết yếu, hay trong bất cứ trường hợp nào cũng là
luận cứ mạnh mẽ nhất cho đức tin vào đời sống vĩnh cửu. Nhu cầu hoàn
toàn cá nhân của chúng ta cho một sự viên măn đă bị chối từ trong đời
này, cho một t́nh yêu vĩnh cửu mà chúng ta trông đợi, chắc chắn là một
động lực quan trọng cho niềm tin là con người được sinh ra cho thế giới
vĩnh hằng; nhưng, chỉ trong mối liên hệ với sự thật theo đó sự bất công
của lịch sử không thể là tiếng nói sau cùng th́ lúc đó sự cần thiết cho
việc Đức Kitô trở lại và cho một đời sống mới, mới trở nên hoàn toàn
đáng thuyết phục.
44. Nhân danh công lư để chống lại Thiên Chúa chẳng có ích lợi ǵ. Một
thế giới không có Thiên Chúa là một thế giới không có hy vọng (x. Ep
2:12). Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tạo ra công lư. Và đức tin cho chúng
ta biết chắc là Người đă làm như vậy. H́nh ảnh của cuộc Chung Thẩm chủ
yếu không phải là một h́nh ảnh của kinh hoàng, nhưng là h́nh ảnh của hy
vọng; đối với chúng ta đó c̣n có thể chính là h́nh ảnh có tính chất
quyết định của hy vọng. Không phải đó cũng là một h́nh ảnh đáng khiếp sợ
sao? Tôi phải nói: đây là một h́nh ảnh gợi ra trách nhiệm, do đó, là một
h́nh ảnh của sự kinh hăi mà Thánh Hilariô đă đề cập đến khi ngài nói là
tất cả mọi sự sợ hăi của chúng ta đều có chỗ trong t́nh yêu. 35
Thiên Chúa là công lư và Ngài thiết lập công lư. Đây là niềm an ủi và
niềm hy vọng của chúng ta. Và trong công lư của Chúa cũng có ân sủng.
Chúng ta biết điều này khi hướng nh́n lên Chúa Kitô bị đóng đinh và phục
sinh. Cả hai điều này - công lư và ân sủng - phải được xem xét trong mối
tương quan nội tại đúng đắn của chúng. Ân sủng không xóa bỏ công lư. Ân
sủng không biến sự sai trái thành đúng đắn. Đó không phải là một miếng
bọt biển để tẩy xóa mọi sự, khiến cho bất kể điều ǵ một cá nhân làm
dưới thế đều có cùng một giá trị như nhau. Chẳng hạn, Dostoevsky hành
động đúng khi ông chống lại thể loại thiên đàng, và ân sủng này trong
tác phẩm Anh Em Nhà Karamazov. Các kẻ dữ, cuối cùng, không được
ngồi vào bàn của bữa tiệc vĩnh cửu bên cạnh những nạn nhân của chúng,
như thể đă không có ǵ xảy ra. Ở đây, tôi muốn trích một đoạn của Plato
tŕnh bầy một tiên đoán về sự phán quyết công b́nh mà trong nhiều khía
cạnh cũng đúng và hữu ích cho các Kitô hữu. Dù không dùng đến các h́nh
ảnh huyền thoại, ông tŕnh bầy sự thật với một sự minh bạch trong sáng;
ông nói rằng cuối cùng các linh hồn sẽ phải trần truồng đứng trước vị
thẩm phán. Vấn đề không c̣n hệ tại ở chỗ họ đă từng là chi trong lịch
sử, nhưng chính ở điểm họ là ǵ trong sự thật: “Thông thường, khi vị
thẩm phán phải xử tội một nhà vua hay một vị nguyên thủ quốc gia, ngài
không thấy linh hồn này có một cái ǵ tốt lành cả; chỉ thấy linh hồn này
hằn lên những vết sẹo bởi những hành động gian trá và sai trái”; linh
hồn ấy bị méo mó v́ những lừa dối và kiêu căng, và không có ǵ ngay
thẳng, v́ sự thật không có chỗ trong sự phát triển của linh hồn ấy.
Quyền hành, xa hoa, kiêu ngạo, và trụy lạc khiến cho linh hồn ấy đầy
những sự bất quân b́nh và ghê gớm đến nỗi sau khi xem xét, vị thẩm phán
tống ngay nó vào ngục, nơi khi đến đó nó sẽ phải chịu những h́nh phạt
tương xứng”.
Nhưng, đôi khi, mắt vị thẩm phán cũng dừng lại trên một linh hồn khác đă
sống trong sạch và chân thật, “th́ ngài kính phục và cho gửi ngay đến
những ḥn đảo của những linh hồn được chúc phúc.” 36 Trong dụ
ngôn người giầu có và Lazarô (x. Lk 16: 19-31), Chúa Giêsu răn
dạy chúng ta qua h́nh ảnh của một linh hồn bị thiêu hủy bởi sự ngông
cuồng và phung phí; người này đă tạo nên một hố sâu không vượt qua được
giữa hắn và người nghèo khó; hố sâu của sự giam ḿnh trong những thú vui
vật chất; hố sâu của sự bỏ quên người khác, của sự thiếu khả năng yêu
thương, một hố sâu đă h́nh thành một nỗi khát khao thiêu đốt và không
thể nào thỏa măn. Chúng ta phải ghi nhận rằng trong dụ ngôn này, Chúa
Giêsu không đề cập đến định mệnh cuối cùng sau cuộc Chung Thẩm, nhưng
lại đưa ra một quan niệm mới, inter alia, được thấy trong Do Thái
Giáo sơ khai, đó là một trạng thái trung gian giữa cái chết và sự sống
lại., một trạng thái trong đó phán quyết cuối cùng chưa được ban ra.
45. Ư tưởng về trạng thái trung gian trong Do Thái Giáo sơ khai bao gồm
cả quan niệm cho rằng các linh hồn không chỉ đang sống trong một h́nh
thức bị tạm giam, nhưng như được minh họa trong dụ ngôn về người giầu
có, các linh hồn đă đang phải chịu phạt rồi hay đang được hưởng một h́nh
thái hạnh phúc tạm thời. Cũng có ư tưởng cho rằng trạng thái này có thể
bao gồm sự thanh tẩy và chữa lành là những điều làm cho linh hồn trưởng
thành hầu có thể hiệp thông với Thiên Chúa. Giáo Hội sơ khai tiếp nhận
các quan điểm này, và trong Giáo Hội Tây Phương, chúng dần dần được phát
triển thành học thuyết về Luyện Ngục. Chúng ta không cần xem xét ở đây
các nẻo đường phức tạp trong lịch sử sự phát triển ấy; mà chỉ cần hỏi
xem điều này thực ra có ư nghĩa ǵ. Với cái chết, sự chọn lựa trong cuộc
đời của chúng ta trở nên chung cuộc – cuộc sống của chúng ta giờ đây
đứng trước ṭa phán xét. Sự chọn lựa của chúng ta, với nhiều khả năng
lựa chọn đa dạng, trong dọc dài suốt cuộc đời giờ đây có một h́nh thù
nhất định. Có những con người đă hoàn toàn huỷ đi tất cả những ham muốn
của ḿnh v́ sự thật và để luôn sẵn sàng yêu thương, cũng có những con
người mà mọi thứ trong đời họ đều là dối trá, và cũng có những con người
đă sống cho thù hận và đè bẹp mọi thứ t́nh yêu trong ḷng họ. Đây là một
ư tưởng đáng sợ, nhưng những diện mạo đáng lo ngại như thế có thể thấy
được nơi một số nhân vật nhất định trong lịch sử chúng ta. Trong những
con người này, mọi sự đă hết thuốc chữa và sự tàn lụi điều thiện trong
họ không thể nào đảo ngược lại: đây là ư nghĩa chúng ta muốn nói lên
trong từ Hỏa Ngục. 37 Mặt khác, có thể có những người hoàn
toàn trong sạch, hoàn toàn được thấm nhuần bởi Thiên Chúa, và do đó,
hoàn toàn cởi mở cho tha nhân- đó là những người mà sự hiệp thông với
Thiên Chúa ngay cả vào lúc này đây vạch ra cho họ những hướng đi cho
toàn bộ đời ḿnh và hành tŕnh của họ đến với Chúa chỉ là mang thêm sự
viên măn vốn họ đă có sẵn. 38
46. Nhưng kinh nghiệm cũng chỉ cho ta rằng cả hai trường hợp trên đều
không là b́nh thường trong đời sống nhân loại. Chúng ta có thể tin rằng
đối với đa số người, trong thẳm sâu con người của họ, vẫn c̣n một sự cởi
mở tối hậu bên trong dành cho sự thật, cho t́nh yêu, và cho Thiên Chúa.
Trong những lựa chọn cụ thể của cuộc đời, cho dù bị bao phủ bởi những
nhượng bộ luôn mới mẻ với sự dữ - khiến cho sự dơ bẩn lấn át sự trong
sạch, nhưng ḷng khát khao sự thuần khiết vẫn c̣n đó và vẫn thường xuyên
tái xuất hiện từ tất cả những ǵ là căn bản và những ǵ vẫn c̣n sót lại
trong linh hồn. Cái ǵ sẽ xảy ra cho các cá nhân này khi họ đến trước
Ṭa Phán Xét? Liệu tất cả những dơ bẩn chồng chất trong suốt cuộc đời có
bổng nhiên trở nên không c̣n là vấn đề nữa không? C̣n điều ǵ khác có
thể xẩy ra? Thánh Phaolô, trong Thư Thứ Nhất gửi các tín hữu thành
Côrintô, đă đưa ra cho chúng ta một ư niệm về những hệ quả khác nhau
trong phán quyết của Thiên Chúa tùy theo từng trường hợp cụ thể của mỗi
người. Thánh Phaolô làm điều đó khi dùng những h́nh ảnh cách nào đó cố
gắng diễn đạt sự vô h́nh, đó là những h́nh ảnh mà không có chúng, ta
không thể khái quát hóa được – đơn giản là v́ chúng ta chẳng thể thấy ǵ
bên trong thế giới sau sự chết và cũng chẳng có một kinh nghiệm nào về
thế giới ấy. Ngài bắt đầu bằng cách nói rằng đời sống Kitô được xây dựng
trên một nền tảng chung là Đức Giêsu Kitô. Nền tảng này trường tồn. Nếu
chúng ta đă đứng vững trên nền tảng này và xây dựng đời ḿnh trên đó,
chúng ta biết rằng nó không thể nào bị cất đi khỏi chúng ta ngay cả
trong cái chết. Rồi ngài tiếp: “Người ta có thể dùng vàng, bạc, đá quư,
gỗ, cỏ, rơm mà xây trên nền đó. Nhưng công việc của mỗi người sẽ được
phơi bày ra ánh sáng. Thật thế, Ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó,
v́ Ngày ấy tỏ rạng trong lửa; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công
việc của mỗi người. Công việc xây dựng của ai tồn tại trên nền, th́
người ấy sẽ được lĩnh thưởng. C̣n công việc của ai bị thiêu huỷ, th́
người ấy sẽ phải thiệt. Tuy nhiên, bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng
như thể băng qua lửa.” (1 Cr 3:12-15) Trong bản văn này, hiển
nhiên là trong mọi trường hợp sự cứu rỗi của chúng ta có thể có nhiều
h́nh thức khác nhau, hiển nhiên là một số những ǵ đă được xây lên có
thể bị thiêu hủy, và cũng hiển nhiên là để được cứu chuộc chính chúng ta
phải đi qua “lửa” hầu được trở nên hoàn toàn mở ra đón nhận Thiên Chúa
và có thể ngồi vào bàn tiệc cưới muôn đời.
47. Một vài thần học gia mới đây có ư kiến cho rằng lửa vừa thiêu đốt
vừa cứu chuộc chính là Chúa Kitô, vị Thẩm Phán và là Đấng Cứu Thế. Cuộc
gặp gỡ với Người là hành động phán xét chung cuộc. Trước ánh mắt người
tất cả những ǵ là giả trá sẽ tan biến. Sự gặp gỡ Người trong khi thiêu
đốt chúng ta, lại cải biến chúng ta, và giải thoát chúng ta, khiến cho
chúng ta trở nên con người chính thật của ḿnh. Tất cả những ǵ chúng ta
xây dựng trong đời có thể chỉ là rơm rạ, rỗng tuếch và sụp đổ. Vậy mà
trong cái đau đớn của cuộc gặp gỡ này, khi những dơ bẩn, và bệnh hoạn
của cuộc đời được phơi bày ra trước mắt chúng ta, th́ ơn cứu độ nằm ngay
ở đó. Cái nh́n của Chúa, sự va chạm của trái tim Người chữa lành chúng
ta qua một một biến cải chắc chắn là đau đớn “như đi qua lửa”. Nhưng đó
là một sự đau đớn được chúc lành, trong đó quyền lực cực thánh của t́nh
yêu Người xuyên thấu chúng ta như một ngọn lửa, giúp chúng ta trở nên
hoàn toàn là chính ḿnh và nhờ đó hoàn toàn thuộc về Chúa. Bằng cách này
sự tương quan giữa công lư và ân sủng cũng trở nên rơ ràng; cách thức
chúng ta sống trên đời không phải là không quan trọng, nhưng tội lỗi của
chúng ta không gây t́ ố trên chúng ta măi măi nếu ít ra chúng ta vẫn
tiếp tục vươn ra để đến với Chúa Kitô, đến với sự thật và t́nh yêu. Thật
vậy, tội lỗi đă bị thiêu đốt qua cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Vào lúc
chung thẩm chúng ta cảm nhận và hấp thụ quyền lực vô biên của t́nh yêu
Người trên tất cả sự dữ trong thế gian và trong chúng ta. Nỗi đau của
t́nh yêu trở nên ơn cứu rỗi và niềm vui của chúng ta. Rơ ràng là chúng
ta không thể đo lường “thời gian” của sự thiêu đốt biến cải này bằng
những đơn vị đo lường thời gian của trần thế. “Giờ phút” biến cải trong
cuộc gặp gỡ này vượt quá ước tính thế gian - đó là thời khắc của con
tim, đó là thời gian của cuộc “vượt qua”, để tiến đến hiệp thông với
Thiên Chúa qua Ḿnh Thánh Chúa Kitô. 39 Sự phán xét của Chúa
là niềm hy vọng, v́ đó vừa là công lư, và vừa là ân sủng. Nếu chỉ có ân
sủng mà thôi, khiến cho tất cả mọi việc trên thế gian không c̣n vấn đề
nữa, th́ Chúa sẽ mắc nợ chúng ta một câu trả lời về công lư – một câu
hỏi quyết liệt chúng ta đặt ra cho lịch sử và cho Thiên Chúa. Nếu chỉ là
công lư, th́ cuối cùng chỉ có thể đem lại cho chúng ta sự sợ hăi. Việc
Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Kitô đă nối kết công lư và ân sủng với nhau
mật thiết đến độ công lư được thiết lập vững chắc: chúng ta đều phải lo
liệu cho sự cứu rỗi của ḿnh “trong âu lo và run sợ” (Pl 2:12).
Tuy nhiên, ân sủng cho phép tất cả chúng ta hy vọng, và để vững tin đi
gặp vị Thẩm Phán, Đấng chúng ta biết đến như là “trạng sư”, hay
parakletos (x. 1 Ga 2;1) của chúng ta.
48. Cần đề cập thêm một điều nữa ở đây, v́ tầm quan trọng của nó đối với
việc thực hành niềm hy vọng Kitô. Các tư tưởng Do Thái Giáo sơ khai bao
gồm điều cho rằng người ta có thể giúp đỡ người quá cố trong trạng thái
trung gian bằng lời cầu nguyện (chẳng hạn xem 2 Mcb 12: 38-45;
thế kỷ thứ nhất trước Chúa Giáng Sinh). Thực hành tương đương đă được
các Kitô hữu sẵn sàng tiếp nhận và được áp dụng chung trong Giáo Hội
Đông Phương và Tây Phương. Đông Phương không công nhận sự thanh tẩy và
chuộc lỗi qua sự đau khổ của các linh hồn ở đời sau, nhưng có công nhận
những mức độ khác nhau của hạnh phúc và đau khổ trong trạng thái trung
gian. Tuy nhiên, linh hồn của người quá cố có thể nhận được “sự an ủi và
bổ sức” qua việc rước Ḿnh Thánh, cầu nguyện và bố thí. Niềm tin cho
rằng t́nh yêu có thể vươn tới đời sau, việc cho đi và nhận lănh hỗ tương
là có thể được, trong đó t́nh yêu dành cho nhau tiếp tục vượt qua cả
những ranh giới của sự chết - điều này đă trở nên một xác tín của Kitô
Giáo qua nhiều thời đại và ngày nay vẫn c̣n là một nguồn suối ủi an. Ai
mà không cảm thấy cần thiết phải bầy tỏ cho người thân yêu đă ra đi một
dấu chỉ của ḷng tốt, một cử chỉ biết ơn hay ngay cả một lời cầu xin tha
thứ? Đến đây, một câu hỏi khác được đặt ra: nếu “Luyện Ngục” chỉ đơn
thuần là sự thanh tẩy trong lửa trong cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, Đấng
Phán Xét và là Đấng Cứu Chuộc, th́ làm sao một người thứ ba lại có thể
can thiệp, dù cho người ấy có thân cận đến đâu? Khi chúng ta đặt câu hỏi
này, chúng ta phải nhớ rằng không ai là một ốc đảo sống hoàn toàn biệt
lập một ḿnh. Đời sống chúng ta có liên quan đến nhau, qua biết bao
nhiêu những giao tiếp, chúng được liên kết lại với nhau. Không ai sống
một ḿnh. Không ai phạm tội một ḿnh. Không ai được rỗi một ḿnh. Đời
sống của người khác tiếp tục tuôn đổ trên tôi trong ư nghĩ, lời nói,
việc làm và thành đạt. Và ngược lại, đời tôi tuôn đổ trên những người
khác: dù tốt hay xấu. Do đó, lời cầu nguyện tôi dâng cho người khác
không phải là một cái ǵ ngoại tại với người ấy, dù cả sau cái chết.
Trong sự liên kết với nhau của Hữu Thể, ḷng biết ơn đối với người khác
- lời kinh dâng cho họ - có thể đóng một vai tṛ nhỏ trong sự thanh tẩy
của họ. Và v́ không cần phải hoán đổi thời giờ thế gian thành thời giờ
của Chúa v́ trong sự hiệp thông của các linh hồn thời giờ trần thế bị
lấn lướt. Không bao giờ được coi là quá trễ để chạm đến trái tim của
người khác, và cũng không bao giờ là vô ích. Bằng cách này chúng ta làm
rơ thêm một yếu tố quan trọng trong khái niệm hy vọng của Kitô Giáo.
Niềm hy vọng của chúng ta luôn luôn về căn bản là niềm hy vọng của người
khác: chỉ như thế nó mới thật sự là niềm hy vọng của cả tôi nữa. 40
Là Kitô hữu chúng ta không bao giờ được tự giới hạn ḿnh để chỉ biết
hỏi: làm sao để tôi được cứu rỗi? Chúng ta phải nên hỏi: tôi phải làm ǵ
để cho người khác có thể được cứu chuộc, và để cả trong họ ngôi sao hy
vọng có thể vươn lên? Như thế tôi cũng đă làm hết sức ḿnh cho việc cứu
rỗi của chính ḿnh.
49. Với một bài thánh ca được soạn vào thế kỷ thứ 8 hay thứ 9, tức là
hơn một ngàn năm rồi, Giáo Hội đă chào mừng Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, như
là “Ngôi Sao Biển”: Đó là bài Ave maris stella. Đời người là một cuộc lữ
hành. Hướng đến đích điểm nào? Làm sao t́m được lối đi? Đời người như
một hải tŕnh trên đại dương của lịch sử, thường tối tăm và giông tố,
một hành tŕnh trong đó chúng ta t́m kiếm những ngôi sao dẫn đường.
Những ngôi sao chính thật trong cuộc sống chúng ta là những người đă
sống tốt lành. Họ là những ánh sáng của hy vọng. Chắc chắn, Chúa Giêsu
Kitô là ánh sáng thật, là mặt trời đă lên cao vượt trên tất cả các bóng
tối của lịch sử. Nhưng muốn đến được với Người, chúng ta cũng cần đến
những ánh sáng gần bên – của những người đang phản chiếu ánh quang của
Ngài và dẫn đường cho chúng ta. C̣n ai hơn được Mẹ Maria, là ngôi sao hy
vọng cho chúng ta? Với tiếng “Xin Vâng” Mẹ đă mở cửa thế giới chúng ta
cho chính Thiên Chúa; Mẹ đă trở nên Ḥm Bia Thiên Chúa sống động, trong
đó Thiên Chúa nhập thể, trở nên một người giữa chúng ta, và dựng lều của
Ngài giữa chúng ta (x. Ga 1:14)
50. Do đó, chúng ta kêu lên với Mẹ: Lạy Mẹ Maria Cực Thánh, Mẹ là một
trong những tâm hồn khiêm nhu và cao cả của Israel, những tâm hồn đang
“t́m sự ủi an cho Israel” (Lc 2:25), như ông Simêôn, và đang hy
vọng, như bà Anna, “cho ơn cứu độ trên thành Giêrusalem” (Lc
2:38). Cuộc đời Mẹ đă thấm nhuần với thánh kinh vang lên niềm hy vọng
của Israel, và vang lên lời hứa cho Abraham và miêu duệ người (x Lc
1:55). Bằng cách này chúng con có thể thông cảm nỗi lo sợ thánh thiện
của Mẹ khi thiên thần của Chúa hiện ra với Mẹ và phán rằng Mẹ sẽ sinh ra
Đấng là niềm hy vọng của Israel, Đấng mà toàn thế giới đang trông chờ.
Qua Mẹ, qua lời “Xin Vâng” của Mẹ, niềm hy vọng của bao thời đại đă trở
thành hiện thực, khi bước vào thế giới và lịch sử của nó. Mẹ đă cúi sấp
ḿnh trước trọng trách này và nói lên lời ưng thuận: “Này tôi là tôi tá
Đức Chúa Trời; tôi xin vâng như lời thánh Thiên Thần truyền (Lc
1:38). Khi Mẹ hối hả với niềm vui thánh thiện vượt rặng núi Giuđêa để
thăm người chị họ là bà Êlisabeth, Mẹ đă trở nên h́nh ảnh của Giáo Hội
tương lai, mang hy vọng của thế giới trong ḷng để vượt qua những rặng
núi của lịch sử. Nhưng bên cạnh niềm vui, với lời ngợi khen
Magnificat, mà Mẹ đă tuyên xưng và hát lên cho mọi thế kỷ được nghe,
Mẹ cũng biết đến những lời đen tối mà các tiên tri đă nói trước về những
đau đớn người tôi tớ của Chúa trong thế giới này. Lúc Chúa sinh ra tại
hang lừa Bêlem, Người được chiếu sáng bởi những thiên thần trong ánh huy
hoàng đang mang tin mừng đến cho những kẻ chăn cừu, nhưng đồng thời lúc
đó sự thấp hèn của Thiên Chúa trong thế giới này cũng thật dễ cảm nhận.
Ông già Simêon nói với Mẹ về lưỡi gươm sẽ đâm thấu ḷng Mẹ (x. Lc
2:35), về Con Mẹ sẽ nên dấu chỉ mâu thuẫn trong thế giới này. Rồi, khi
Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài, Mẹ phải đứng sang một bên,
để cho một gia đ́nh mới có thể tăng trưởng, một gia đ́nh mà Chúa có sứ
mạng phải thiết lập và sẽ bao gồm tất cả những ai lắng nghe và tuân giữ
lời Người (x Lc 11:27f). Bất chấp niềm vui cả thể đánh dấu buổi
đầu sứ vụ của Chúa Giêsu, ngay tại đền thờ Nazareth chắc Mẹ đă cảm nhận
sự thật về lời tiên tri nói đến “dấu chỉ của mâu thuẫn” (x Lc 4:
28ff). Qua đó, Mẹ đă thấy được sức mạnh gia tăng của thù nghịch và chối
bỏ đang bao vây quanh Chúa Giêsu cho đến những giờ phút trên Thánh Giá,
khi Mẹ phải nh́n ngắm Đấng Cứu Thế của nhân loại, người thừa tự của
Đavít, và là Con Thiên Chúa đă phải chết như một kẻ thất bại, bị chế
riễu giữa những tội nhân. Khi đó Mẹ nghe lời Chúa Giêsu phán: “Này Bà,
đây là con bà!” (Ga 19:26). Từ Thập Giá Mẹ tiếp nhận một sứ mạng
mới. Từ Thập Giá Mẹ trở nên một người mẹ trong một cách thế mới mẻ; là
người mẹ của tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu Con Mẹ và muốn theo
Người. Lưỡi gươm của đau khổ đă đâm thâu ḷng Mẹ. Niềm hy vọng đă chết
sao? Thế giới vĩnh viễn mất đi ánh sáng và đời sống mất hết mục đích
sao? Vào lúc đó, trong thâm tâm, có lẽ Mẹ lại lắng nghe lời thiên thần
đáp lại nỗi lo sợ của Mẹ vào lúc Truyền Tin: “Này Maria, xin đừng sợ!” (Lc
1:30). Đă bao nhiêu lần Chúa Giêsu, Con Mẹ đă nói với các môn đệ cùng
những lời này: “các con đừng sợ!” Trong ḷng Mẹ, Mẹ lại nghe thấy những
lời này vào đêm đen trên đồi Golgôtha. Trước giờ bị phản bội, Chúa cũng
đă phán cùng các môn đệ: “Hăy an tâm, ta đă thắng thế gian” (Ga
16:33). ‘Ḷng các con đừng bối rối, đừng lo sợ” (Ga 14:27).
“Maria, đừng lo sợ!” Vào giờ phút ấy tại Nazareth thiên thần cũng nói
với Mẹ: “Triều Đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1:33) Triều
đại này có chấm dứt trước khi được khởi sự không? Không, nơi chân Thánh
Giá, với sức mạnh của chính lời Chúa Giêsu, Mẹ đă trở nên người mẹ các
tín hữu. Trong niềm tin này, ngay trong đêm tối của Thứ Bẩy cực thánh,
Mẹ đă mang trong ḷng một xác quyết về niềm hy vọng, giúp Mẹ qua được
tới buổi sáng Phục Sinh. Niềm vui của sự Sống Lại đánh động tim
Mẹ và kết hiệp Mẹ một cách mới mẻ với các môn đệ, những người đă được
tiền định để trở nên một gia đ́nh của Chúa Giêsu trong đức tin. Bằng
cách này Mẹ đă hiện diện ngay giữa cộng đồng các tín hữu, những người
vào những ngày sau khi Chúa Lên Trời, đă hiệp lời cầu nguyện xin cho
được ơn Chúa Thánh Thần (x Cv 1:14), và sau đó đă nhận được ơn
này vào ngày lễ Ngũ Tuần. “Vương Quốc” của Chúa Giêsu đă không như người
ta tưởng. Nước Chúa khởi sự vào lúc đó và tiếp diễn đến bất tận. Do đó,
Mẹ ở lại với các môn đệ như người mẹ của họ, như người Mẹ của niềm hy
vọng. Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ chúng con, xin Mẹ dạy chúng con
biết tin, biết hy vọng và biết yêu với Mẹ. Xin hướng dẫn chúng con tới
Vương Quốc của Chúa! Lạy Ngôi Sao Biển, xin chiếu sáng chúng con và dẫn
đường cho chúng con!
Ban hành tại Rôma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 30 tháng 11, ngày Lễ
Kính Thánh Anrê Tông Đồ, năm 2007, năm thứ ba của triều đại Giáo Hoàng.
+ Đức Giáo Hoàng Bênêđictô. XVI
1 Corpus Inscriptionum Latinarum VI, no. 26003.
2 Cf. Dogmatic Poems, V, 53-64: PG 37, 428-429.
3 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1817-1821.
4 Summa Theologiae, II-IIae, q.4, a.1.
5 H. Kưster in Theological Dictionary of the New Testament VIII
(1972), p.586.
6 De excessu fratris sui Satyri, II, 47: CSEL 73, 274.
7 Ibid., II, 46: CSEL 73, 273.
8 Cf. Ep. 130 Ad Probam 14, 25-15, 28: CSEL 44, 68-73.
9 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1025.
10 Jean Giono, Les vraies richesses (1936), Preface, Paris 1992,
pp.18-20; quoted in Henri de Lubac, Catholicisme. Aspects sociaux du
dogme, Paris 1983, p.VII.
11 Ep. 130 Ad Probam 13, 24: CSEL 44, 67.
12 Sententiae III, 118: CCL 6/2, 215.
13 Cf. ibid. III, 71: CCL 6/2, 107-108.
14 Novum Organum I, 117.
15 Cf . ibid. I, 129.
16 Cf . New Atlantis.
17 In Werke IV, ed. W. Weischedel (1956), p.777.
18 I. Kant, Das Ende aller Dinge, in Werke VI, ed.
W.Weischedel (1964), p.190.
19 Chapters on charity, Centuria 1, ch. 1: PG 90, 965.
20 Cf. ibid. : PG 90, 962-966.
21 Conf. X 43, 70: CSEL 33, 279.
22 Sermo 340, 3: PL 38, 1484; cf. F. Van der Meer,
Augustine the Bishop, London and New York 1961, p.268.
23 Sermo 339, 4: PL 38, 1481.
24 Conf. X 43, 69: CSEL 33, 279.
25 Cf. Catechism of the Catholic Church, 2657.
26 Cf. In 1 Ioannis 4, 6: PL 35, 2008f.
27 Testimony of Hope, Boston 2000, pp.121ff.
28 The Liturgy of the Hours, Office of Readings, 24 November.
29 Sermones in Cant., Sermo 26, 5: PL 183, 906.
30 Negative Dialektik (1966), Third part, III, 11, in
Gesammelte Schriften VI, Frankfurt am Main 1973, p.395.
31 Ibid., Second part, p.207.
32 DS 806.
33 Cf. Catechism of the Catholic Church, 988-1004.
34 Cf. ibid., 1040.
35 Cf. Tractatus super Psalmos, Ps 127, 1-3: CSEL
22, 628-630.
36 Gorgias 525a-526c.
37 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1033-1037.
38 Cf. ibid., 1023-1029.
39 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1030-1032.
40 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1032.
© Copyright 2007 - VietCatholic Network
Bản dịch Việt Ngữ của VietCatholic Network.
- Lm. Gioan Trần Công Nghị
- Lm. Gioan Thiên Chúa Phan Du Sinh, OFM
- Ks. Gioan Baotixita Đặng Minh An
- Gs. Gioan Maria Bùi Hữu Thư
|
| VietCatholic Network
|
|
|