|

“Hăy bắt chước tôi, như
tôi đă bắt chước Chúa Kitô”
(1 Cor 11:1; 4:16. Xin cũng xem 2 Tx 3:7, 9; Dt
13:7).
Giáo Lư
Của ĐTC Bênêdictô XVI Về Thánh Phaolô
(PhaoLô
Phạm Xuân Khôi Chuyển Ngữ)
(C̣n Tiếp)
5 Phút Một Tuần với
Thánh Phaolô
(Phaolô
Phạm Xuân Khôi)
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
1. Tên
Trong các thư của Ngài, Thánh Tông Đồ tự gọi ḿnh là Paulos, một tên cũng
đă được thư thứ hai của Thánh Phêrô (3:15) và sách Tông Đồ Công Vụ từ
chương 13:9 dùng. Trước đó, sách Công Vụ dùng tên Saulos để gọi Thánh Tông
Đồ Dân Ngoại (7:58; 8:1,3;9:1…). Đấy là h́nh thức Hy Ngữ của Saoul. Cách
viết này chỉ thấy trong các tŕnh thuật đối thoại (9:4, 17; 22:7,
13;26:14) và thay cho từ Hi Bá Lai Sa’ul, là tên vị vua đầu tiên của Do
Thái (1Sm 9:2, 17; xem Cv 13:21). Từ này có nghĩa “được hỏi” (về Chúa hay
về Giavê). Công Vụ 13:9 thay tên Saul bằng tên Paul (ngoại trừ sau này có
lần vẫn dùng tên Saoul): Saulos de kai Paulos (Saul, cũng được gọi là
Paul). Tên Paulos là h́nh thức Hy Ngữ của một tên họ rất nổi tiếng của
người La Mă, Paul(l)us, được giới qúy tộc ưa dùng, như các ḍng họ
Vettenii và Sergii. Người ta chỉ có thể phỏng đoán lư do tại sao Thánh
Phaolô có tên La Mă này. Việc Saul bắt đầu được gọi là Paul chỉ là trùng
hợp khi sách Công Vụ thuật lại câu truyện thống đốc La Mă là Sergius
Paulus trở lại đạo (13:7-12); v́ khó có thể cho rằng Thánh Phaolô lại đi
mang tên của người tân ṭng nổi danh đến từ Cyprus này (Thánh Giêrôm:In Ep.
Ad Philem, 1…). Có lẽ thánh nhân vốn được gọi là Paulus từ lúc mới sinh,
c̣n tên Saoul chỉ là signum hay supernomen (tên thêm vào) được sử dụng
giữa các giới Do Thái với nhau. Nhiều người Do Thái thời ấy vẫn có thói
quen có hai tên: một tên Do Thái (Saul), c̣n tên kia là tên La Mă hay Hy
lạp (Paul) (xem Cv 1:23; 10:18;13:1). Các tên ấy thường được chọn do các
âm giống nhau. Chứ thực ra không có bằng chứng ǵ là tên Saul đă được đổi
thành Paul lúc thánh nhân trở lại đạo; v́ tên Saulos vẫn c̣n tiếp tục được
dùng sau biến cố trở lại kia. Việc ‘chuyển đổi’ tên ở Công Vụ 13:9 có thể
do các nguồn tín liệu khác nhau của thánh Luca mà thôi.
2. Nguồn và các niên biểu trong cuộc đời
Thánh Phaolô
Những điều ít ỏi ta biết về cuộc đời Thánh Phaolô là do hai nguồn sau đây
cung cấp:
(1) các đoạn thư chính hiệu của ngài nhất là 1Tx 2:1-2,17-18; 3:1-3a; Gl
1:13-23;2:1-14; 4:13; Pl 3:5-6; 4:15-16; 1Cor 5:9; 7:7-8; 16:1-9;
2Cor:2-1, 9-13; 11:7-9, 23-27, 32-33; 12”2-4, 14, 21; 13:1,10; Rm 11:1c;
15:19b, 22-23; 16:1;
(2) các đoạn trong Sách Công Vụ 7:58; 8:1-3; 9:1-30; 11:25-30; 12:25;
13:1-28:31. Các đoạn trong đệ nhị thư Phaolô cũng như các Thư Mục Vụ đều
có giá trị không chắc chắn và do đó chỉ được dùng để hỗ trợ các chi tiết
của các nguồn kia.
Tuy nhiên, chính chi tiết do hai nguồn trên cung cấp cũng không có giá trị
ngang nhau. Khi dựng lại cuộc đời thánh Phaolô, chúng ta nên coi trọng các
chi tiết do chính Thánh Phaolô tự nói về Ngài hơn là các chi tiết do Thánh
Luca cung cấp v́ một lẽ giản dị là Thánh Luca chịu ảnh hưởng nhiều bởi thể
văn cũng như quan tâm thần học của ḿnh. Các tác giả gần đây như J. Knox,
D.W.Riddle, R.Jewett, G. Ludermann, J.Murphy-O’Connor v.v… đă cố gắng dựng
lại cuộc đời vị tông đồ này bằng cách dựa phần lớn vào các dữ kiện do ngài
cung cấp mà ít chịu dùng các tư liệu của Tông Đồ Công Vụ. Tuy nhiên, có
lúc các tác giả này cũng buộc phải dùng các tư liệu của Sách sau để giải
quyết một số vấn đề của họ như đoạn Thánh Phaolô xuất hiện trước Gallio
(18:12), 18 tháng lưu lại Côrintô (18:11) và gốc gác Lystra của Timôtê
(16:2-3). Thành thử ta buộc phải dựa vào cả hai để dựng lại cuộc đời Thánh
Phaolô theo thứ tự thời gian, nhất là những chi tiết cần thiết chỉ có Công
Vụ mới có, miễn là các chi tiết này không mâu thuẫn với các chi tiết do
Thánh Phaolô cung cấp.
Trong việc này, ta có thể dựa vào T. H. Campbell trong cuốn Paul’s
Missionary Journeys. Theo tác giả này, các đoạn trích thư Thánh Phaolô
trên đây cho thấy thứ tự các biến cố trong đời Thánh Phaolô từ lúc ngài
trở lại cho tới lúc ngài tới Rôma và thứ tự này khá ăn khớp với thứ tự
trong Công Vụ.
Tuy nhiên, cần ghi nhận các dị biệt trong tŕnh tự này: (1) Thánh Luca
không nhắc ǵ tới việc Thánh Phaolô lui về “Arabia” (Gl 1:17b); (2) Thánh
Luca gom các hoạt động truyền giáo của Thánh Phaolô vào ba khối: I:
13:1-14:28; II: 15:36-18:22; III: 18:23-21:16. Nhiều nhà phê b́nh cho rằng
hành tŕnh truyền giáo I hoàn toàn là sản phẩm của Thánh Luca…(3) Theo
thánh Luca, dịp để Thánh Phaolô thoát khỏi Đamát là âm mưu của người Do
Thái (Cv 9:23; ngược với 2 Cor 11:32). (4) Thánh Luca cho rằng Saolô “tán
thành” cái chết của tử đạo Stêphanô (Cv 7:58-8:1; xem thêm 22:20), trong
khi Thánh Phaolô chỉ nói là Ngài bách hại “giáo hội của Thiên Chúa” (Gl
1:13) hay bách hại “giáo hội” (Pl 3:6) mà thôi chứ không nhắc đến tên
Stêphanô.
Thành ra thứ tự thời gian mà chúng ta cố gắng dựng lại ở đây chỉ là cố
gắng tương đối mà thôi. Theo thư của Thánh Phaolô, biến cố duy nhất có thể
nên niên biểu ngoại thánh kinh chính là việc ngài thoát khỏi Đamát (2Cor
11:32-33). Tổng đốc của vua Arêta đă cho lính canh gác để bắt thánh nhân,
nhưng Ngài thoát được nhờ tín hữu cho Ngài vào cái thúng rồi tḥng qua cửa
sổ dọc theo tường thành mà đưa xuống đất (đối chiếu với Cv 9:24-25).Việc
ấy xẩy ra cuối thời gian 3 năm thánh nhân lưu lại Đamát (Gl 1:17c-18). V́
Đamát nằm dưới sự thống trị của La Mă cho tới tận ngày Tiberius băng hà (tháng
Ba, năm 37 CN; xem Josephus, Ant.18.5.3#124) và vua Arêta IV Philopatris
(9 trước CN – 39 CN) người Nabatean được Hoàng Đế Gaius Caligula ban quyền
cai trị, nên việc Thánh Phaolô thoát khỏi Đamát hẳn phải xẩy ra giữa các
năm 37 và 39 CN, có lẽ vào chính năm 39 CN. Thánh nhân trở lại trước đó ba
năm, thành thử là năm 36 CN.
C̣n đối với sách Tông Đồ Công Vụ, ta thấy các dữ kiện ngoại thánh kinh
trong năm biến cố xẩy ra trong cuộc đời Thánh Phaolô. Theo thứ tự từ quan
trọng nhất đi xuống, năm biến cố ấy là:
(1) Thời L.Junius Gallio Annaeus làm thống đốc Achaia. Thánh Phaolô bị dẫn
tới trước viên thống đốc này tại Côrintô (Cv 18:12). Tác giả
Murphy-O’Connor, trong Corinth 141, cho rằng đây là “một mắt xích được hầu
hết các học giả nối kết sự nghiệp của Thánh Phaolô với lịch sử phổ quát”,
mặc dù biến cố này chỉ được một ḿnh Thánh Luca thuật lại. Thời Gallio làm
thống đốc được nhắc tới trên một tấm khắc bằng tiếng Hy Lạp tại đền thờ
Apollo và được E. Bourquet t́m thấy ở Delphi trong năm 1905 và 1910. Nhưng
hai lần t́m kiếm ấy chỉ là những mảnh vụn. Phải đợi tới năm 1970, A.
Plassart mới công bố được trọn tấm khắc ấy với hết mọi mảnh vụn của nó. Đó
là bản chép thư hoàng đế Claudius gửi cho thành Delphi đề cập đến các vấn
đề giảm dân. Bức thư đó có đoạn như sau: “Tiberius Claudius Caesar
Augustus Germanicus, với thẩm quyền tài phán năm thứ 12, được phong làm
tổng tư lệnh (imperator) kỳ thứ 26, Cha Tổ Quốc…Đă lâu trẫm không những
vẫn nghĩ tốt cho thành Delphi, mà c̣n rất quan tâm tới sự thịnh vượng của
nó…Nhưng nay, v́ có tin thành phố đang mất đi nhiều công dân của ḿnh, như
lời L. Junius Gallio, người bạn của ta và là thống đốc, mới đây vừa tường
tŕnh, và v́ rất muốn cho thành phố duy tŕ vị thế trước đây của nó, ta
truyền cho các ông phải mời những người có tư cách từ các thành phố khác
tới Delphi làm cư dân mới…”.
Theo bản văn trên, ta có thể diễn dịch như sau: Gallio là thống đốc Achaia
vào năm 12 triều hoàng đế Claudius, sau khi hoàng đế này được phong là
‘tổng tư lệnh’. Quyền tài phán (tribunician power), quyền được trao cho
hoàng đế mỗi năm, là biểu hiệu năm cầm quyền của hoàng đế, trong khi chức
‘tổng tư lệnh’ được ban tặng cho ông sau một chiến thắng quân sự hiển hách.
Muốn định niên biểu cho việc ban tặng này, người ta phải t́m hiểu năm ban
tặng. Theo các bản khắc khác, th́ các lần ban tặng từ 22 tới 25 xẩy ra vào
năm thứ 11 triều Claudius và lần ban tặng thứ 27 xẩy ra vào năm thứ 12
triều đại ông này, trước ngày 1 tháng Tám năm 52 CN. Như thế lần ban tặng
thứ 26 hẳn phải xẩy ra trước mùa đông năm 51 hay trong mùa xuân năm 52 CN.
Mà năm 12 triều Claudius bắt đầu ngày 25 tháng Giêng năm 52. Như thế, cả
hai yếu tố trên gộp lại, th́ hẳn Gallio làm thống đốc Achaia đầu năm 52 CN.
Achaia là một tỉnh thuộc thượng viện, nghĩa là được cai trị bởi một thống
đốc do thượng viện chỉ định. Vị thống đốc này thường nắm giữ chức vụ trong
một năm và thường nhậm chức vào ngày 1 tháng Sáu và rời chức vụ vào giữa
tháng Tư. Thư của Claudius cho hay Gallio phúc tŕnh cho ông ta về t́nh
h́nh của Delphi. Như thế có nghĩa Gallio đă có mặt tại Achaia rồi, nên
chắc chắn đă phúc tŕnh cho ông vào cuối mùa xuân hay đầu mùa hạ năm 52 CN,
nghĩa là vào cuối thời Gallio làm thống đốc ở đấy (tháng Sáu năm 51 tới
tháng Năm năm 52) hay đầu năm từ tháng Sáu năm 52 tới tháng Năm năm 53 CN.
V́ Seneca, em trai Gallio, cho rằng anh ḿnh mắc chứng sốt tại Achaia và
phải “lên tầu ngay” (Ep.104.1), nên có thể Gallio đă rút ngắn thời gian
lưu lại Achaia và về nhà sớm. Điều ấy rất có thể có nghĩa là Gallio vốn có
mặt tại Achaia vào cuối xuân và mùa hè năm 52 và bỏ đó không trễ hơn cuối
tháng Mười, trước khi mare clausum, nghĩa là biển trở nên sóng gió không
thể hải hành đuợc. Bởi thế, Thánh Phaolô chắc hẳn đă bị điệu ra trước
Gallio đâu đó vào mùa hạ hay đầu mùa thu năm 52. V́ ở Côrintô tới 18 tháng,
nên có lẽ ngài đă tới đó đầu năm 51 (xem Cv 18:11).
(2) Việc người Do Thái bị Claudius trục xuất khỏi Rôma (Cv 18:2c), được
Thánh Luca liên kết với việc Aquila và Priscilla tới Côrintô, những người
sẽ cùng cư ngụ với Thánh Phaolô. Suetonius (Claudius 25) thuật lại: “Ngài
trục xuất khỏi Rôma những người Do Thái đang tạo bất ổn do sự xúi bẩy của
Chrestus”. Nếu hiểu “do sự xúi bẩy của Chrestus” (chữ này vào thời của
Suetonius được đọc là Christos) là kiểu nói lầm chỉ cuộc tranh luận về
việc Chúa Giêsu có phải là Đấng Kitô hay không, th́ có lẽ Suetonius có ư
thuật lại cuộc xung đột giữa người Do Thái Giáo và người Kitô hữu gốc Do
Thái. Nhà sử học Kitô giáo thế kỷ thứ 5 là P. Orosius (His.Adv.pag.
7.6.15-16; Corpus Sriptorum Ecclesiasticorum Latinorum 5.451), khi trích
dẫn bản văn của Suetonius, đă định niên biều cho cuộc trục xuất kia vào
năm thứ 9 triều đại Claudius (25 tháng Giêng năm 49 tới 24 tháng Giêng năm
50 CN). Tuy nhiên, v́ Orosius cho hay Josephus thuật lại việc trục xuất
này trong khi Josephus không đề cập ǵ tới nó, nên một số học giả tỏ vẻ
hoài nghi giá trị chứng cớ của ông. Không ai biết do nguồn nào Orosius
định được năm thứ 9. Tuy nhiên, niên biểu này được đa số học giả coi là
tin được, như E.M. Smallwood trong “The Jews under Roman Rule,[Studies in
Judaism in Late Antiquity 20”; Leiden, 1976] 211-216; Jewett trong
“Chronology” 36-38… Và nếu đúng như thế, th́ việc Thánh Phaolô tới Côrintô
hẳn phải xẩy ra sau đó.
(3) Trận đói dưới triều Claudius (Cv 11:28b) khá khó định niên biểu. Dường
như trận đói này ảnh hưởng tới trọn vùng phía đông Địa Trung Hải trong
nhiều năm; một số chứng cớ cho thấy nó xẩy ra tại Giuđêa khoảng đầu thời
T. Julius Alexander làm tổng trấn (46-48 CN; xem Josephus Ant.
20.5.2#101).
(4) Porcius Festus thay thế Felix làm tổng trấn Giuđêa (Cv 24:27). Ngày
chính thức thay thế này khó có thể xác định được, nhưng nó có thể xẩy ra
vào khoảng năm 60 CN. Khi Festus tới, Thánh Phaolô xin được Caesar xử xét
(25:9-12).
(5) Việc triệu hồi Ponce Pilate về Rôma vào năm 36 để trả lời về tác phong
của ông ta (xem Josephus, Ant 18.4.2). Việc triệu hồi này và việc
Marcellus, viên tổng trấn mới, đến thay thế là dịp may hiếm có để người Do
Thái ‘làm thịt’ Stêphanô (Cv 7:58-60) và khởi đầu cuộc bách hại giáo hội
Giêrusalem (Cv 8:1). Cuộc trở lại của Thánh Phaolô có thể có liên hệ với
các biến cố này.
3. Sự nghiệp của Thánh Phaolô
(1) Tuổi trẻ và việc trở lại
(A) Tuổi trẻ: Không ai rơ ngày sinh của Thánh Phaolô. Ngài gọi ḿnh là một
‘ông già’ (presbytes) trong thư Philemôn 9, nghĩa là một người thuộc lớp
tuổi từ 50 tới 59. Điều ấy có nghĩa: ngài sinh trong thập niên đầu của
công nguyên. Thánh Luca th́ lại gọi ngài là một “thanh niên (neanias)” có
mặt tại cuộc ném đá Stêphanô nghĩa là vào khoảng giữa 24 và 40 tuổi.
Thánh Phaolô không cho ta hay ngài sinh tại đâu, nhưng tên Paulus cho thấy
ngài phải sinh tại một thành phố La Mă. Ngài tự hào về nguồn gốc Do Thái
của ḿnh và cho hay mńh thuộc chi tộc Benjamin (Rm 11:1; Pl 3:5; 2Cor
11:22). Ngài là “người Israel” (đă dẫn), “một người Hi-bá sinh từ người
Hi-bá; giữ luật th́ đúng là người Pharisêu” (Pl 3:6), một người “cực kỳ
nhiệt thành với truyền thống cha ông” và vượt xa người cùng lứa tuổi
“trong việc giữ đạo Do Thái” (Gl 1:14). Khi gọi ḿnh là người Hi-bá (Hebraios)
rất có thể ngài ngụ ư ḿnh là người Do Thái nói tiếng Hy Lạp nhưng đồng
thời cũng nói được cả tiếng Aram và đọc được Cưu Ước bằng nguyên ngữ. Tuy
nhiên các thư của Thánh Phaolô cho thấy ngài rất thạo Hy Ngữ, có thể viết
được ngôn ngữ đó và khi nói truyện với giáo hội Dân Ngoại, ngài có thể
trích dẫn Cựu Ước bằng Hy Ngữ. Dấu vết văn phong Khắc Kỷ trong các thư của
ngài cho thấy ngài có nền giáo dục Hy Lạp khá tốt.
Thánh Luca cũng tŕnh bầy Thánh Phaolô là “người Do Thái”, “người Pharisêu”
sinh tại Tarsus, một thành theo văn hóa Hy Lạp thuộc Cicilia (Cv 22:3,6;
21:39), có chị gái (23:16), và là công dân La Mă từ lúc mới sinh
(22:25-29; 16:37; 23:27). Nếu tín liệu của Thánh Luca về nguồn gốc của
Thánh Phaolô đúng, th́ quả nó có ích trong việc giải thích cả hậu cảnh Do
Thái lẫn hậu cảnh Hy Lạp của Thánh Phaolô. Tarsus lần đầu tiên được chứng
thực là Tarzi trên cột Obelisk Đen của Shalmeneser vào thế kỷ thứ 9 trước
CN. Qua thế kỷ thứ 4, Xenophon (Anab. 1.2.23) gọi nó là “thành phố vĩ đại
và thịnh vượng” và một đồng tiền Hy Lạp từ thế kỷ thứ 5 và thứ 4 cho thấy
đầu thời Hy Lạp Hóa của nó. Nó bị Hy Lạp Hóa nặng nề nhất bởi Antiochus IV
Epiphanes (175-164), người cũng đă thiết lập ra một khu định cư người Do
Thái tại đó vào khoảng năm 171 để khuếch trương việc thương mại và kỹ nghệ.
Trong cuộc tái tổ chức Tiểu Á của Pompey vào năm 66 trước CN, Tarsus trở
thành thủ phủ của tỉnh Cilicia. Sau đó, Mark Antony ban cho thành này
quyền tự do, miễn chuẩn (immunity) và quyền công dân. Các quyền này tiếp
tục được Augustus củng cố và điều này giải thích các liên hệ của Thánh
Phaolô với Rôma. Tarsus là trung tâm nổi tiếng về văn hóa, triết học và
giáo dục. Strabo (Geogr. 14.673) cho rằng các trường học tại Tarsus vượt
xa các trường ở Athens và Alexandria và học tṛ ở đây là người Cilicia chứ
không phải người nước ngoài. Athenodorus Cananites, một triết gia Khắc Kỷ
và là thầy dậy của hoàng đế Augustus, đă hưu trí tại đấy năm 15 trước CN
và được giao nhiệm vụ tu chỉnh các diễn tŕnh dân chủ và công dân của
thành phố. Các triết gia khác, cả Khắc Kỷ lẫn Khoái Lạc (Epicurean), cũng
định cư và giảng dạy tại đó. Những người La Mă nổi tiếng từng thăm viếng
Tarsus là: Cicero, Julius Caesar, Augustus, Mark Antony và Cleopatra.
Chính v́ thế, Thánh Phaolô trong Công Vụ của Thánh Luca mới dám ‘khoe
khoang’ ḿnh là “công dân của một thành phố không thấp hèn” (21:39).
Công vụ cũng cho hay Thánh Phaolô hănh diện đă “được dưỡng dục tại thành
phố Giêrusalem này, dưới chân Gamaliel” (Cv 22:3), tức Gamaliel I, Trưởng
Lăo, mà thời cực thịnh ở Giêrusalem là vào khoảng các năm từ 20 tới 50 CN
(xem W.C. van Unnik, Tarsus or Jerusalem: The City of Paul’s Youth, London
1962). Dù h́nh ảnh do Thánh Luca mô tả về Thánh Phaolô thời trẻ trung tại
Giêrusalem giải thích được phần nào việc ngài được huấn luyện theo Do Thái
và lối suy tư của ngài, nhưng chính Thánh Phaolô th́ chưa bao giờ nhắc gần
nhắc xa đến việc đó. Mặt khác việc ấy cũng có thể gây ra khó khăn: các
trước tác của Thánh Phaolô không bao giờ hàm ư rằng ngài từng gặp gỡ hay
có bất cứ sự quen thuộc có tính bản thân nào với Chúa Giêsu lúc Chúa công
khai giảng đạo (xem 2Cor:5:16, 11:4 là đoạn không nên hiểu Thánh Nhân đă
biết Chúa lúc ấy, dù một số nhà chú giải nghĩ ngược lại), nên nếu Thánh
Phaolô lúc thiếu thời có sống tại Giêrusalem, th́ làm sao Ngài lại không
gặp gỡ Chúa Giêsu cho được? Dù lối biện bác và sử dụng Cựu Ước của Thánh
Phaolô có tương tự với lối của những người Do Thái có học đương thời tại
Palestine, th́ người ta cũng chỉ có thể đoán chừng Ngài chịu ảnh hưởng của
truyền thống rabbi chứ không chứng minh được điều đó. Rút cục, chứng cớ
duy nhất cho thấy Thánh Phaolô được một nhân vật thuộc trường phái rabbi
như Gamaliel huấn luyện chỉ thấy có trong Công Vụ.
Theo J. Jeremias (Zeitschrift fur die neutestamenliche Wissenschaft 25
[1926] 310-312; Zeitschrift fur die neutestamenliche Wissenschaft 28
[1929] 321-323), lúc trở lại, không những Thánh Phaolô là đệ tử của trường
phái rabbi, mà c̣n là một rabbi được thừa nhận nghĩa là có quyền đưa ra
các phán quyết về luật. Người ta cho rằng Ngài phải có quyền ấy nên mới
thân chinh đi Đamát để bắt giữ các Kitô hữu (Cv 9:1-2; 22:4-5; 26:12) và
bỏ phiếu với tư cách thành viên của thượng hội đồng để chống lại các Kitô
hữu (26:10). Từ đó, Jeremias kết luận rằng v́ tuổi để được phong làm rabbi
là 40, nên Thánh Phaolô trở lại đạo lúc c̣n trung niên và đă có gia đ́nh,
v́ hôn nhân là một đ̣i hỏi của chức rabbi. Jeremias cũng tổng hợp các dữ
kiện của Công Vụ với các tư liệu của Thánh Phaolô để giải thích câu 1Cor
7:8 mà cho rằng Thánh Phaolô xếp ḿnh vào loại ‘góa vợ’ chứ không hẳn ‘độc
thân’. Theo ông, 1Cor 9:5 có nghĩa là Thánh Phaolô không tục huyền. Tuy
nhiên, một số người như E. Fascher trong Zeitschrift fur die
neutestamenliche Wissenschaft 28 (1929) 62-69 và G. Stahlin trong
Theological Dictionary of the New Testament 9.452 n.109 tỏ ra hoài nghi
những nhận định ấy.
(B) Trở lại: Trong thư Galát (1:16), Thánh Phaolô viết về khúc quanh quan
trọng trong cuộc đời Ngài như sau: “Thiên Chúa đă vui ḷng mạc khải Con
của Người cho tôi để tôi rao giảng Người cho Dân Ngoại”. Cuộc mạc khải ấy
xẩy ra sau một thời gian phục vụ Do Thái Giáo và bách hại “Giáo Hội của
Thiên Chúa” (1:13; xem thêm Pl 3:6). Sau đó, Ngài qua “Arabia” rồi “trở về”
Đamát (Gl 1:17). Sở dĩ dùng động từ “trở về” là v́ cuộc trở lại của Ngài
xẩy ra gần Đamát. Ba năm sau, Ngài thoát khỏi Đamát và lên Giêrusalem
(1:18). Như thế, vào khoảng năm 36 CN, người cựu biệt phái tên Phaolô đă
trở thành Kitô hữu và “tông đồ Dân Ngoại” (Rm 11:13).
Thánh Phaolô coi biến cố gần Đamát là khúc quanh trong đời Ngài và theo
nghĩa đó quả là một “cuộc trở lại”. Đối với Ngài, đó là cuộc gặp gỡ với
Chúa Phục Sinh, một cuộc gặp gỡ không bao giờ c̣n có thể quên được. Sau
này, khi tư cách tông đồ của ḿnh bị chất vấn, Ngài không ngần ngại ‘phản
pháo’: “Tôi há không phải là một tông đồ sao? Tôi đă chẳng thấy Chúa Giêsu,
Chúa chúng ta đó sao?” (1Cor 9:1; xem thêm 15:8). Do hiệu quả “cuộc mạc
khải của Chúa Giêsu Kitô” (Gl 1:12), Ngài trở thành “đầy tớ của Chúa Kitô”
(Gl 1:10), một người bị thúc bách (1Cor 9:16) phải rao giảng Phúc Âm Chúa
Kitô và v́ Phúc Âm ấy, mà trở nên “mọi sự cho mọi người” (1 Cor 9:22).
Thánh Luca cũng liên kết cuộc trở lại của Thánh Phaolô với việc bách hại
Giáo Hội tại Giêrusalem. V́ cuộc bách hại này, mà các Kitô hữu (gốc Do
Thái nói tiếng Hy Lạp) phải tản mác khắp Giuđêa và Samaria (Cv 8:1-3) và
c̣n xa hơn nữa (9:2; 11:19). Thánh Luca tường thuật kinh nghiệm Đamát tới
ba lần trong Công Vụ: lần đầu dưới h́nh thức tŕnh thuật cho thấy Thánh
Phaolô lưu lại Đamát ít ngày (9:3-19, nhưng không nhắc ǵ tới việc Ngài
qua Arabia); hai lần sau dưới h́nh thức diễn văn, trước một đám đông ở
Giêrusalem (22:6-16) và trước Festus và Vua Agrippa (26:12-18). Mỗi tường
thuật ấy đều nhấn mạnh tới đặc điểm tràn ngập và bất ngờ của biến cố ngay
giữa lúc Ngài đang ‘say sưa” bách hại các Kitô hữu. Tuy nhiên, điều lư thú
là có nhiều khác nhau về chi tiết trong các tường thuật ấy: liệu đồng bạn
của Thánh Phaolô đứng chết trân hay phủ phục dưới đất; liệu họ có nghe hay
không lời từ trời phán xuống; dù Chúa Giêsu nói với Thánh Phaolô “bằng
tiếng Hi-bá-lai”, nhưng Người lại trích dẫn một châm ngôn Hy Lạp (26:14).
Việc thiếu phối hợp giữa các chi tiết này cho thấy Thánh Luca không quan
tâm bao nhiêu tới sự nhất quán. Tuy nhiên, trong mỗi tường thuật ấy, sứ
điệp chủ yếu đều đă được chuyền đạt cho Phaolô: “Saolô, Saolô, sao ngươi
bách hại Ta?” – “Thưa Ngài, Ngài là ai?” – “Ta là Giêsu Nadarét, người mà
ngươi đang bách hại”.
(2) Thánh Phaolô viếng Giêrusalem
Theo các thư của Thánh Phaolô, Ngài viếng Giêrusalem hai lần sau khi trở
lại, một lần sau đó ba năm (Gl 1:18) và “một lần trong 14 năm” (Gl 2:1).
Trong thư Rôma 15:25, Ngài dự tính một cuộc thăm viếng khác trước khi tới
Rôma và Tây Ban Nha.
Tuy nhiên, theo sách Công Vụ, sau khi trở lại, Thánh Phaolô viếng
Giêrusalem 5 hay 6 lần tất cả:
(a) Đoạn 9:26-29, sau khi Ngài thoát khỏi Đamát; xem thêm 22:17;
(b) Đoạn 11:29-30, Banaba và Saolô mang tiền quyên góp từ Antiốc tới cho
anh chị em Giuđêa, được Thánh Luca liên hệ với trận đói thời Claudius;
(c) Câu 12:25, Banaba cùng Saolô lên Giêrusalem (lần nữa? Nhiều bản chép
tay ghi là “rời” Giêrusalem, nghĩa là bỏ Giêrusalem trở về Antiốc sau cuộc
viếng thăm ở (b); tuy nhiên eis có nghĩa đến nhiều hơn là đi);
(d) Đoạn 15:1-2, Phaolô và Banaba đi dự “Công Đồng”;
(e) Câu 18:22, sau Hành Tŕnh Truyền Giáo II, Thánh Phaolô lên Giêrusalem
để chào mừng Giáo Hội trước khi trở về Antiốc;
(f) Đoạn 21:15-17, cuộc thăm viếng vào cuối Hành Tŕnh Truyền Giáo III,
lúc Thánh Phaolô bị bắt.
Kết hợp các dữ kiện của Thánh Phaolô và của Thánh Luca liên quan tới các
cuộc thăm viếng Giêrusalem của Ngài là một nhiệm vụ khó khăn nhất trong
việc dựng lại cuộc đời Thánh Nhân. Giải pháp tốt nhất là coi cuộc viếng
thăm (a) trong Luca là một với cuộc viếng thăm ở Gl 1:18, và coi các cuộc
viếng thăm (b), (c) và (d) trong Luca chỉ là nói về cùng một biến cố đó là
“Công Đồng”, tương đương với 1Gl 2:1-10. Thánh Luca chắc chắn đă lịch sử
hóa và đă từ một cuộc viếng thăm ‘tạo ra’ nhiều cuộc viếng thăm khác nhau
v́ do những nguồn cung cấp dữ kiện khác nhau mà thôi. Cuộc viếng thăm (e)
trong Luca không có vấn đề ǵ cả, c̣n cuộc viếng thăm (f) chính là cuộc
viếng thăm được Thánh Phaolô dự tính trong Rm 15:25.
Như thế, sau khi thoát khỏi Đamát năm 39, Thánh Phaolô tới Giêrusalem lần
đầu tiên (Gl 1:18). Lư do cuộc viếng thăm này th́ có sự tranh căi. “Để lấy
tin tức từ Kê-pha” hay “để thăm viếng Kê-pha”. Trong 15 ngày ở đó, Ngài
chỉ gặp Gia-cô-bê “người anh em của Chúa”, chứ không gặp một tông đồ nào
khác; Ngài thực sự vô danh đối với giáo hội Giu-đêa. Theo Thánh Luca,
chính trong lần thăm Giêrusalem lần đầu này, Banaba giới thiệu Thánh
Phaolô cho các “tông đồ” khác và nói với các vị này rằng Ngài đă rao giảng
danh Chúa Giêsu cách can đảm ra sao tại Đamát. Thánh Phaolô cùng các tông
đồ đi lại tại Giêrusalem, tiếp tục rao giảng một cách can đảm và tranh
luận với người nói tiếng Hy Lạp đến độ họ t́m cách giết Ngài (Cv 9:27-29).
Theo thư Galát 1:21, sau 15 ngày lưu lại Giêrusalem, Thánh Phaolô lui về
Syria và Cilicia, ở đó bao lâu th́ không thấy nói. Có lẽ vào khoảng thời
gian này, Ngài được thị kiến điều thư Côrintô thứ 2 (12:2-4) mô tả; thị
kiến này xẩy ra 14 năm trước khi thư Côrintô thứ 2 được viết ra nhưng khó
có thể đồng hóa nó với biến cố trở lại. Theo Công Vụ 22:17-21, trong lần
thăm (a), Thánh Phaolô ngất trí khi đang cầu nguyện trong Đền Thờ
Giêrusalem. Chính mối đe doạ từ người nói tiếng Hy Lạp, mà anh em đồng đạo
đă đưa Thánh Phaolô từ Giêrusalem qua Caesarea và tiễn Ngài trở về Tarsus
(Cv 9:30). Tông Đồ Công Vụ không cho biết Ngài lưu lại Tarsus bao lâu,
nhưng thứ tự các biến cố cho thấy có thể là các năm 40-44 CN. Dù sao, cuộc
lưu lại Tarsus chấm dứt khi Banaba tới thăm, sau đó đă đưa Ngài trở lại
Antiốc, nơi Ngài lưu lại một năm (11:25-26), chuyên chăm rao giảng phúc âm.
(3) Các Hành Tŕnh Truyền Giáo
Như đă nói trên đây, sách Công Vụ gom hoạt động truyền giáo của Thánh
Phaolô thành ba nhóm; nhưng có tác giả, như Knox, cho rằng: nếu bạn chặn
Thánh Phaolô dọc đường mà hỏi xem Ngài đang làm cuộc hành tŕnh truyền
giáo thứ mấy, th́ đến Ngài cũng phải ‘ngẩn ṭ te’ không biết phải trả lời
ra sao. Nhưng lỗi không hẳn của một ḿnh Thánh Luca, mà cũng do cả lối ta
đọc Công Vụ nữa v́ Thánh Luca không phân biệt rơ Hành Tŕnh I, II, và III
như kiểu của chúng ta ngày nay. Ấy thế nhưng, như ta đă thấy, vẫn có một
tương đồng nào đó giữa các dữ kiện của Thánh Phaolô và của Thánh Luca liên
quan đến hành tŕnh truyền giáo, ngoại trừ hành tŕnh đầu. Các hành tŕnh
này diễn ra trong khoảng các năm 46 tới 58, đó là những năm hoạt động nhất
trong đời Ngài, những năm Ngài rao giảng Phúc Âm tại Tiểu Á và Hy Lạp.
(A) Hành Tŕnh I (năm 46-49 CN): Chỉ có sách Công Vụ (13:3-14:28) thuật
lại hành tŕnh tiền “Công Đồng” này và cho thấy những nét chủ yếu phù hợp
với thể văn của Thánh Luca. Thánh Phaolô không cung cấp cho ta chi tiết
nào về hoạt động truyền giáo của Ngài trong suốt thời gian 14 năm trước
khi có “Công Đồng” (Gl 2:1). Có lúc, Ngài ở “các miền Syria và Cilicia”
(1:21) và “rao giảng đức tin” (1:23) “giữa Dân Ngoại” (2:2). Sau này khi
viết thư Philiphê, Ngài nhắc lại rằng “lúc đầu mới rao giảng Phúc Âm,
không giáo hội nào ngoài anh em chị em đă chia sẻ với tôi trong vấn đề cho
và nhận, lúc tôi rời Macedonia” (4:15). Như thế, khi Ngài rời Macedonia (khoảng
năm 50 CN), đă có nhiều giáo hội khác do Thánh Phaolô phúc âm hóa. Các
giáo hội này ở đâu? V́ từ Tiểu Á, Ngài qua Philippi thuộc Macedonia, nên
có thể Ngài muốn ám chỉ giáo hội tại Nam Galatia trong tŕnh thuật hành
tŕnh truyền giáo I (Cv 13:13-14:25) chứ không hẳn các giáo hội tại Nam
Galatia, Mysia hay Troas vốn thuộc hành tŕnh truyền giáo II. Dù sao,
Macedonia vẫn là khu vực đầu tiên được Thánh Phaolô phúc âm hóa và tŕnh
thuật Hành Tŕnh I trong Công Vụ không mâu thuẫn với các chi tiết hiếm hoi
của Thánh Phaolô.
Được Chúa Thánh Thần đánh động, các tiên tri và bậc thầy của Antiốc đă đặt
tay trên Banaba và Phaolô và sai họ lên đường cùng với Gioan Máccô, người
anh em họ của Banaba (Cl 4:10). Họ rời Seleucia, hải cảng của Antiốc thuộc
Syria, mà qua Cyprus, lưu lại đảo Salamis một thời gian rồi vào Paphos.
Tại đấy, thống đốc Sergius Paulus trở lại đạo (13:7-12). Từ Paphos, các
nhà truyền giáo trẩy đi Perga thuộc Pamphylia (trên bờ biển nam của miền
trung Tiểu Á) tại đấy Gioan Máccô bỏ đoàn mà trở về Giêrusalem. Hai ông
Banaba và Phaolô tiếp tục cuộc hành tŕnh tới các thị trấn thuộc Nam
Galatia: Antiốc thuộc Pisidia, Iconium, Lystra, và Derbe. Tại Antiốc,
Thánh Phaolô đầu tiên rao giảng cho người Do Thái trong các hội đường của
họ và khi gặp chống đối, Ngài tuyên bố Ngài sẽ quay qua Dân Ngoại (13:46).
Sau khi giảng phúc âm cho vùng này và gặp nhiều chống đối khác nhau của
người Do Thái (đôi khi c̣n bị liệng đá như ở Iconium), Thánh Phaolô cùng
Banaba t́m đường rời Derbe, băng qua Lystra, Iconium và Antiốc Pisidia mà
trở lại Perga rồi từ đó, suôi buồm từ Attalia mà tới Antiốc thuộc Syria,
nơi Ngài lưu lại “không ít thời gian” với các Kitô hữu (14:28). Một trong
các vấn đề xuất hiện trong Hành tŕnh Truyền Giáo I này là mối liên hệ
giữa niềm tin mới và Do Thái Giáo, cụ thể hơn, giữa các Kitô hữu gốc Ngoại
giáo và các Kitô hữu gốc Do Thái giáo. Các tân ṭng gốc Ngoại Giáo có buộc
phải cắt b́ và tuân giữ luật Môsen hay không.
(B) Dự “Công Đồng” (năm 49 CN): Theo Thánh Luca, lúc Thánh Phaolô lưu lại
Antiốc (cuối Hành Tŕnh I), các tân ṭng từ Giuđêa tới và bắt đầu nhấn
mạnh tới việc phải cắt b́ mới được cứu rỗi (15:1-3). V́ việc này dẫn tới
cuộc tranh luận giữa họ và Thánh Phaolô cũng như Banaba, nên giáo hội
Antiốc cử hai vị cùng một số người khác tới Giêrusalem để thỉnh ư các tông
đồ và trưởng lăo về vị thế của các tân ṭng gốc Dân Ngoại. Việc ấy đưa tới
việc mệnh danh là Công Đồng Giêrusalem.
Trong thư Galát 2:1-10, Thánh Phaolô có kể lại biến cố này; Ngài cùng
Banaba và Titô lên Giêrusalem “một lần nữa trong 14 năm” (tính từ ngày
Ngài trở lại tức là năm 49-50). Ngài nhắc đến cuộc thăm viếng này như là
kết quả một ‘mạc khải” (2:2), và Ngài tŕnh bầy với “các vị có tiếng tăm”
tại Giêrusalem phúc âm được Ngài đă và đang rao giảng cho Dân Ngoại. Các
vị ấy “không thêm bớt ǵ” vào phúc âm ấy. Các tông đồ Gia-cô-bê, Kê-pha và
Gioan hiểu ra ơn thánh đă được phú ban cho Phaolô và Banaba và dơ ṿng tay
thân ái ra chào đón họ, chứng tỏ không c̣n bị ảnh hưởng chi bởi những “anh
em giả mạo” từng lẻn vào do thám việc các Ngài được thoát khỏi lề luật,
một giải thoát do chính Chúa Giêsu chiếm lănh cho và được Thánh Phaolô
nhất định không khoan nhượng bảo vệ “để chân lư phúc âm được bảo toàn”
(2:4-5). Vấn đề được “Công Đồng” giải quyết dứt điểm chính là việc cắt b́:
nó không phải là điều bắt buộc để được cứu rỗi; nên Titô, dù là người Hy
Lạp, đă không bắt buộc phải chịu cắt b́.
Phần thứ nhất của Công Vụ 15 (các câu 4-12) cũng bàn tới vấn đề tín lư này.
Những người bị Thánh Phaolô gọi là “anh em giả mạo” th́ ở đây bị nhận diện
là “một số tín hữu xuất thân từ phái Pharisêu” (15:5). Khi vấn đề được các
tông đồ và trưởng lăo tranh luận, th́ lời nói của Thánh Phêrô xem ra thắng
thế; và cuộc họp chấp nhận quyết định của Ngài (dựa trên chính cảm nghiệm
của Ngài trong Công Vụ 10:1-11:18). Như thế, Công Đồng Giêrusalem đă giải
thoát Giáo Hội phôi thai khỏi gốc rễ Do Thái và mở ra cho Giáo Hội một
chân trời hoạt động tông đồ mới trên toàn thế giới mà lúc ấy Giáo Hội đang
phải đương đầu. Quan điểm của Thánh Phaolô đă được minh chứng.
(C) Biến cố tại Antiốc (Năm 49): Sau “Công Đồng” Giêrusalem, Thánh Phaolô
tới Antiốc, và sau đó, Thánh Phêrô cũng tới. Thoạt đầu, cả hai vị đều ăn
uống với các Kitô hữu gốc Dân Ngoại, nhưng sau đó không lâu “một số người
của Gia-cô-bê” (Gl 2:12) nghĩa là các Kitô hữu có khuynh hướng học theo Do
Thái giáo rơ rệt, cũng tới và chỉ trích Thánh Phêrô về việc ăn uống với
các tân ṭng gốc Dân Ngoại. Nhượng bộ trước việc chỉ trích này, Thánh
Phêrô đă tách rời khỏi các Kitô hữu gốc Dân Ngoại; và hành động ấy khiến
nhiều Kitô hữu khác, kể cả Banaba, cũng bắt chước theo. Thánh Phaolô phản
đối và chỉ trích Thánh Phêrô ngay trước mặt, v́ vị thánh này đă “không
bước chân theo chân lư phúc âm” (2:11). Xem ra lời chỉ trích của Thánh
Phaolô có hiệu quả, nhưng dù thế, vấn đề kỷ luật liên quan đến các luật lệ
Do Thái về ăn uống áp dụng cho các tân ṭng gốc Ngoại Giáo nay đă được
chính thức đặt ra (xem Brown và Meir, Antioch and Rome, 28-44).
(D) Sắc Lệnh Giêrusalem về Các Vấn Đề Ăn Uống: Việc Thánh Phaolô phản đối
Thánh Phêrô vẫn không giải quyết được vấn đề ăn uống tại Antiốc. Dường như
một số phái viên lại được gửi tới Giêrusalem, có lẽ sau khi hai Thánh
Phêrô và Phaolô đă rời Antiốc. Thánh Gia-cô-bê lại triệu tập các tông đồ
và trưởng lăo và quyết định của các ngài dưới h́nh thức một bức thư được
gửi cho các giáo hội địa phương ở Antiốc, Syria và Cilicia (Cv 15:13-19).
Thánh Phaolô không đề cập ǵ tới quyết định này, và cả trong Công Vụ, Ngài
cũng chỉ được Thánh Giacôbê thông báo khi thánh nhân tới Giêrusalem sau
Hành Tŕnh III (21:25).
Công Vụ 15 là chương gây vấn đề và có tính gom nhặt (composite), trong đó,
hiển nhiên Thánh Luca đă thu gọn hai biến cố khác biệt nhau cả về chủ đề
lẫn thời gian. Ta cần ghi nhận: (a) Các câu 1-2 là một chắp vá văn chương
nối các tín liệu từ các nguồn khác nhau; (b) Câu 34 không có trong nhiều
bản chép tay Hy Lạp, nhưng được thêm vào các bản văn truyền thống của
Phương Tây để giải thích việc Silas ở đâu lúc khởi đầu Hành Tŕnh II (nếu
bỏ câu 34, chỗ Silas ở trở thành một vấn đề: ông tham gia với Thánh Phaolô
lúc nào trong Hành Tŕnh II?); (c) Simeon (15:14), người thường được coi
là chính Simon Phêrô (và chắc chắn phải hiểu như thế trong câu truyện thu
gọn của Thánh Luca), có lẽ là một nhân vật khác trong nguồn được dùng. Ở
chỗ khác trong Công Vụ, Thánh Phêrô được gọi là Petros (15:7) hay Simon
Petros (10:5; 18:32) chứ không bao giờ lại là Simeon. Trong nguồn của
Thánh Luca, ông Simeon của câu 15:14 rất có thể là Simeon Đen (Simeon
Niger), một trong các tiên tri hay thầy dạy tại Antiốc (13:1); có lẽ ông
là một trong các phái viên được gửi tới cuộc họp do Thánh Giacôbê triệu
tập về luật lệ ăn uống. (d) Bài diễn văn của Thánh Phêrô về cắt b́ và Luật
Môsen (15:7-11) khó mà ăn có với chủ đề thảo luận của Thánh Giacôbê
(15:14-21).
Sau cuộc tham luận trên, Thánh Giacôbê gửi một lá thư cho Antiốc, Syria và
Cilicia (15:22-29) để khuyến cáo rằng các Kitô hữu gốc Dân Ngoại tại các
cộng đoàn hỗn hợp ấy phải kiêng không dùng thịt đă hiến tế cho các ngẫu
thần, không dùng máu, không dùng thịt các con vật bị cắt tiết và không lấy
nhau cách bất hợp pháp (illicit marriages). Có lẽ thư này đă được gửi tới
Antiốc cùng với Judas Barsabbas và Silas (15:22) và gửi cho Thánh Phaolô
và Banaba lúc đó giả thiết vẫn c̣n ở đó. Công Vụ 15: 35-36 có nhắc tới
việc Thánh Phaolô và Banaba rao giảng tại Antiốc; nhưng nên hiểu việc này
là tḥi điểm Thánh Phaolô lưu lại Antiốc ngay sau khi tham dự “Công Đồng”.
Sau đó, có lẽ Ngài đă rời Antiốc để bắt đầu Hành Tŕnh II. Thánh Phaolô
chỉ biết thư này măi về sau (21:25).
(E) Hành Tŕnh II (Các năm 50-52 CN): Theo Công Vụ 15:37-39, Thánh Phaolô
từ khước không mang Gioan Máccô đi theo Hành Tŕnh II v́ trước đây vị này
đă bỏ cuộc. Thay vào đó, Silas đă tháp tùng Thánh Phaolô. Khởi hành từ
Antiốc, họ băng qua Syria và Cilicia mà vào các thị trấn của Nam Galatia,
Derbe và Lystra (nơi Thánh Phaolô chọn Timôtê làm người đồng hành sau khi
đă cắt b́ cho ông Cv 16:1-3!). Từ đó, Ngài băng qua Phrygia mà vào Bắc
Galatia (Pessinus, Ancyra và Tavium) và đă lập nhiều giáo hội mới. Bị ngăn
trở không tới Bithynia, Ngài tiếp tục đi từ Galatia tới Mysia và Troas.
Tại đây, dường như Ngài được Thánh Luca nhập đoàn, hay ít nhất các dữ kiện
trong nhật kư của Thánh Luca đă bắt đầu ở điểm này (Cv 16:10-17, phần đầu
trong “các Phần Chúng Tôi”).
Đáp ứng một thị kiến trong mộng, Thánh Phaolô qua Neapolis, hải cảng
Philippi. Chính hải cảng này đă trở thành địa điểm cho giáo hội Kitô giáo
đầu tiên của Âu Châu. Sau khi bị cầm tù và bị đánh đ̣n tại Philippi v́ đă
trừ qủy cho một nữ nô lệ, người từng mang lợi lớn lại cho chủ, Ngài lên
đường qua Thessalonica qua ngả Amphipolis và Apollonia (Cv 17:1-9). Trong
thời gian ngắn ngủi lưu lại Thessalonica, Ngài bận bịu lo rao giảng phúc
âm và bị người Do Thái gây rắc rối, đến phải bỏ đó mà qua Beroea (17:10)
và cuốicùng tới Athens (17:15). Tại đây, Thánh Phaolô cố gắng gây chú ư
nơi người dân thành phố đối với phúc âm Chúa Kitô, v́ họ vốn là những
người thích các ư tưởng mới lạ (17:22-31). Nhưng Ngài không thành công. Họ
bảo Ngài: “Để khi khác, chúng tôi sẽ nghe ông nói về vấn đề ấy” (17:32).
Chán nản, Thánh Phaolô bỏ đó mà qua Côrintô (năm 51), lúc đó là một trong
những thành phố quan trọng bậc nhất của thế giới Địa Trung Hải. Tại đây,
Ngài cư ngụ với Aquila và Priscilla (18:2-3), hai Kitô hữu gốc Do Thái mới
từ Ư qua tới và cũng làm nghề dệt lều như Thánh Phaolô. Trong thời gian 18
tháng lưu lại Côrintô, Ngài làm nhiều người Do Thái và Hy Lạp và lập ra
một giáo hội rất sinh động chủ yếu gồm các Kitô hữu gốc Dân Ngoại. Năm 51
CN, Thánh Phaolô viết thư thứ nhất gửi tín hữu Thessalonica. Gần cuối thời
gian ở đấy (năm 52 CN), Thánh Phaolô bị điệu tới trước tổng trấn L. Junius
Gallio, nhưng ông này từ chối không xử v́ coi đây là chuyện riêng của
người Do Thái (18:15). Sau đó ít lâu, Thánh Phaolô rời Côrintô, đáp tầu từ
Cenchreae qua Êphêsô và Caesarea Maritima. Sau khi thăm giáo hội
Giêrusalem (18:22), Ngài tới Antiốc, và ở lại đó chừng hơn một năm, rất có
thể từ cuối thu năm 52 tới xuân năm 54.
(F) Hành Tŕnh III (các năm 54-58 CN): Rời Antiốc (Cv 18:23), Thánh Phaolô
qua miền Bắc Galatia, Phrygia và Êphêsô. Thủ phủ tỉnh Asia này trở thành
trung tâm hoạt động truyền giáo của Ngài trong ba năm sau đó (Cv 20:31),
và trong “hai năm” Ngài thuyết giảng trong hội trường của Tyrannus
(19:10). Chỉ ít lâu sau khi tới Êphêsô, Thánh Phaolô viết thư gửi tín hữu
Galát (khoảng năm 54 CN). Trong thời gian này, Ngài cũng đă viết thư gửi
tín hữu Philiphê và có lẽ cả thư gửi Philêmôn nữa (khoảng các năm 56-57).
Trong thời gian này, Thánh Phaolô được báo cáo về t́nh h́nh của giáo hội
Côrintô: nào là hoài nghi, phe nhóm, nào là gương mù gương xấu và oán giận
chính Thánh Phaolô. Để đương đầu với t́nh thế ấy, Ngài viết ít nhất năm lá
thư cho giáo hội Côrintô, trong đó, chỉ có hai lá c̣n được lưu giữ (có
người cho: một trong hai thư đó thực sự là một thư chắp nối). Một thư được
viết trước thư 1Cor (xem 1Cor 5:9) để cảnh giác tín hữu Côrintô đừng giao
du với các Kitô hữu vô luân. Rồi, để b́nh luận về các báo cáo và cũng để
giải đáp các câu hỏi đă gửi tới, Ngài viết thư thứ nhất gửi tín hữu
Côrintô, chỉ sau Lễ Ngũ Tuần ít lâu (có lẽ năm 57). Tuy nhiên, lá thư này
không được tiếp nhận nồng hậu và liên hệ của Ngài với giáo hội đang bị xâu
xé v́ nạn bè phái này ngày một tệ đi hơn. T́nh thế ấy đ̣i Ngài phải vội vă
tới Côrintô một lần nữa (2Cor 12:14; 13:1-2; 2:1 [“một cuộc thăm viếng đau
ḷng”]; 12:21), một cuộc thăm viếng thực tế đă không thực hiện được việc
ǵ. Trở lại Êphêsô, Thánh Phaolô lại viết một thư thứ ba cho tín hữu
Côrintô, một thư Ngài soạn “trong nước mắt” (2Cor 2:3-4, 9; 7:8,12;
10:1,9). Bức thư này có thể đă được Titô mang theo khi tới Côrintô để đích
thân lập lại ḥa khí.
Có lẽ trong khi Titô vắng mặt, cuộc bạo động của thợ bạc Êphêsô đă nổ ra (Cv
19:23-20:1). Bài giảng của Thánh Phaolô về “đường lối” mới của Kitô giáo
đă làm Demetrius tức giận. Vốn chế tạo các tượng đền tí hon của thần
Artemis bán kiếm lời, hắn thấy bài giảng đó có nguy cơ phá hoại việc buôn
bán của hắn, nên hắn đă cùng các thợ bạc khác tràn vào nhà hát phản đối
Thánh Phaolô và việc khuếch trương Kitô giáo.
Biến cố trên khiến Thánh Phaolô phải rời Êphêsô mà qua Troas (2Cor 2:12).
Không thấy Titô ở đấy, Ngài quyết định đi Macedonia (2Cor 2:13). Đâu đó
tại Macedonia (có lẽ tại Philippi), Thánh Phaolô gặp lại Titô và được biết
liên hệ của Ngài với tín hữu Côrintô đă tốt đẹp trở lại. Từ Macedonia,
Ngài viết cho họ bức thư thứ tư vào mùa thu năm 57 (được Murphy-O’Connor
O.P. gọi là thư A trong thư thứ hai Côrintô). Không thể nói chắc liệu
Thánh Phaolô có tức khắc qua Côrintô hay từ Macedonia qua Illyricum trước
(xem Rm 15:19) rồi từ đó Ngài viết 2 Cor 10-13 (gọi là thư B). Cuối cùng,
Thánh Phaolô tới Côrintô, và đây là lần viếng thăm thứ ba của Ngài, có lẽ
vào mùa đông năm 57 và lưu lại Achaia 3 tháng (Cv 20:2-3; xem 1Cor 16:5-6;
2Cor 1:16).
Tới lúc này, Thánh Phaolô đang nghĩ đến việc trở lại Giêrusalem. Nhớ lại
khuyến cáo của “Công Đồng” phải nhớ tới người nghèo (Gl 2:10), nên Ngài lo
liệu để các giáo hội gốc Dân Ngoại của ḿnh quyên góp cho anh em tín hữu
nghèo tại Giêrusalem. Cuộc lạc quyên này diễn ra trong các giáo hội
Galatia, Macedonia và Achaia (1Cor 16:1; Rm 15:25-26). Thánh Phaolô dự
tính sẽ đem của lạc quyên tới Giêrusalem và như thế sẽ chấm dứt việc rao
giảng phúc âm của ngài tại miền đông Địa Trung Hải. Ngài muốn thăm Rôma (Rm
15:22-24) và từ đó qua Tây Ban Nha và Phương Tây. Trong ba tháng lưu lại
Achaia, Thánh Phaolô viết lá thư gửi tín hữu Rôma (có lẽ viết tại Côrintô,
hay tại hải cảng Cenchreae của thành phố này [Rm 16:1]) vào đầu năm 58.
Xin xem thêm Brown và Meir, Antioch and Rome 105-127.
Khi xuân sang, Thánh Phaolô quyết định đáp tầu từ Côrintô (Cv 20:3) đi
Syria. Nhưng khi sắp xuống tầu, th́ v́ âm mưu hăm hại của người Do Thái,
Ngài phải đổi lộ tŕnh, đi đường bộ băng qua Macedonia. Các môn đệ từ
Beroea, Thessalonica, Derbe và Êphêsô tháp tùng Ngài. Họ qua Lễ Vượt Qua
năm 58 ở Philippi (nơi Thánh Luca nhập bọn với họ, Cv 20:5, “Phần chúng
tôi”). Sau lễ, họ đáp tầu qua Troas và đi đường bộ tới Assos, nơi họ lại
đáp tầu đi Mitylene. theo duyên hải Tiểu Á, Thánh Phaolô đáp tầu từ Chios
tới Samos, rồi Miletus, nơi Ngài nói truyện với các trưởng thượng Êphêsô
đang họp nhau ở đấy (Cv 20:17-35). Không chùn bước khi nghe họ tiên đoán
ḿnh sẽ bị bắt, Ngài vẫn đáp tầu trẩy đi Cos, Rhodes, Patara thuộc Lycia,
Tyre thuộc Phoenicia, Ptolemais, và Caesarea Maritima. Một cuộc hành tŕnh
đường bộ đưa Ngài tới Giêrusalem, nơi Ngài hy vọng tới đúng vào dịp Lễ Ngũ
Tuần (20:16; 21:17). Xem Ogg, Chronology 133-145.
(4) Lần bị giam cuối cùng
Từ đây trở đi, ta chỉ c̣n biết dựa vào Công Vụ của Thánh Luca để biết ít
nhiều về quăng đời c̣n lại của Thánh Phaolô; giai đoạn này kéo dài mấy năm
sau năm 58, trong đó Ngài chịu cầm tù thời gian lâu.
(A) Thăm Giêrusalem lần cuối và bị bắt (năm 58): Tới Giêrusalem, Thánh
Phaolô cùng những người đồng hành tới thăm Thánh Giacôbê và các trưởng
thượng của giáo hội Giêrusalem (Cv 21:18). Thánh Giacôbê lập tức hiểu ngay
sự hiện diện của Thánh Phaolô tại Giêrusalem sẽ gây bất ổn nơi các Kitô
hữu gốc Do Thái. Nên Ngài khuyên Thánh Phaolô hăy cùng bốn người sở tại
chịu làm nghi lễ Nazirite và chịu phí tổn cho họ như một nghĩa cử thiện
chí đối với các Kitô hữu gốc Do Thái, để họ khỏi nghi ngờ. Thánh Phaolô
đồng ư. Và nghi lễ kéo dài bẩy ngày trên sắp sửa kết thúc, th́ người Do
Thái từ tỉnh Asia nhận ra Thánh Phaolô ở khu vực Đền Thờ. Họ tố cáo Ngài
khuyến khích người ta vi phạm Luật Môsen và làm hoen ố Đền Thờ bằng cách
đưa người Hy Lạp vào đó. Họ túm lấy Ngài, lôi ra khỏi Đền Thờ và toan tính
giết chết Ngài. Tuy nhiên, Ngài được cơ đội La Mă trú đóng tại Đồn Antonia
cứu thoát khỏi đám đông. Họ giam giữ Ngài (22:27) và điệu Ngài ra trước
đại hội đồng Do Thái. Nhưng rồi sau đó, v́ sợ người Do Thái, nên viên chỉ
huy cơ đội đă hộ tống Thánh Phaolô tới cho viên tổng trấn La Mă tại Giuđêa
là Antonius Felix, đang ngụ tại Caesarea Maritima, xét xử (23:23-33). Hy
vọng Thánh Phaolô sẽ đút lót (24:26), nên Felix giam Ngài tới hai năm.
(B) Chống án lên Caesar; tới Rôma (năm 60 CN): Lúc tổng trấn mới là
Porcius Festus
tới nhậm chức (có lẽ vào khoảng năm 60 CN), Thánh Phaolô “kháng án lên
Caesar” nghĩa là đ̣i được xử tại Rôma, v́ Ngài vốn là công dân La Mă.
Festus buộc phải chấp thuận. Xem Sherwin-White, Roman Society 48-70.
Được một bách quân đội trưởng hộ tống (và có lẽ cả Thánh Luca nữa, theo
“Phần chúng tôi” cho thấy), Ngài đáp tầu từ Caesarea Maritima đi Sidon và
băng qua Cyprus mà vào Myra thuộc Lycia. Cuối mùa thu năm 60 (27:9), đoàn
người rời Myra trên một con tầu của Alexandria nhằm Ư mà tới, mặc dù thời
tiết xấu. Hải tŕnh trước nhất đưa họ tới Cnidus (trên duyên hải phía nam
Tiểu Á) rồi theo hướng nam “v́ không thuận gió, phải ṿng theo đảo Crete,
hướng về mũi Salmone” đến tận Bến Lành (Fair Haven), gần thành Lasea của
Đảo Crete (27:7-8). Khi họ cố tới cảng Phoenix, một cơn gió đông bắc ập
tới làm tầu bị cuốn ra xa, trôi dạt giữa biển Adriatic và cuối cùng dạt
vào đảo Malta, sau khi bị đắm tầu (28:1).
Sau khi qua mùa đông tại Malta, đoàn người đáp tầu đi Syracuse thuộc
Sicily, rồi đi Rhegium (nay là Reggio di Calabria) và cuối cùng tới
Puteoli (nay là Pozzuoli, gần Naples). Cuộc hành tŕnh bằng đường bộ tới
Rôma sau đó đưa họ qua Apii Forum và Tres Tabernae (28:5). Thánh Phaolô
tới thủ đô đế quốc vào mùa xuân năm 61 và bị quản thức tại gia trong hai
năm (61-63), có lính canh giữ. Tuy nhiên, hoàn cảnh ấy không cản trở việc
Ngài mời người Do Thái ở Rôma tới nơi Ngài bị quản thúc để giảng phúc âm
cho họ (28:17-28). Truyền thống vẫn cho rằng trong thời gian bị quản thúc
này, Thánh Phaolô viết các thư Philêmôn, Côlôxê và Êphêsô. Tuy nhiên nhiều
người không nghĩ vậy (xem Sherwin-White, Roman Society 108-119; R.E.
Brown, The Churches The Apostles Left Behind [NY, 1984] 47-60).
(C) Cuối đời Thánh Phaolô: Công Vụ chấm dứt với tŕnh thuật ngắn về vụ
Thánh Phaolô bị quản thúc. Việc Ngài tới Rôma và rao giảng phúc âm gần như
tự do ở đó đă tạo nên cao điểm câu truyện truyền bá lời Chúa từ Giêrusalem
tới thủ đô thế giới văn minh hồi đó: Rôma vốn là biểu tượng của cơi “tận
cùng trái đất” (Cv 1:8). Nhưng đó chưa hẳn là kết thúc cuộc đời Thánh
Phaolô. Nhắc tới “hai năm tṛn” (28:30) không có nghĩa là Ngài qua đời
ngay sau đó, dù người ta muốn giải thích ra sao tùy ư về sự kết thúc đột
ngột của sách Công Vụ.
Các Thư Mục Vụ (Titô; 1-2 Timôtê) thường được coi là các trước tác chính
hiệu của Thánh Phaolô và được cho là Ngài đă viết ra sau thơờ gian bị quản
thúc tại Rôma. Thực thế, các thư này gợi ư cho thấy Ngài trở lại Phương
Đông một lần nữa (Êphêsô, Macedonia, và Hy Lạp). Theo các thư này, Thánh
Phaolô lập Titô đứng đầu giáo hội Crete và lập Timôtê đứng đầu giáo hội
Êphêsô. Thư thứ hai gửi Timôtê vốn được coi là chúc thư và ước thư cuối
cùng của Thánh Phaolô, được Ngài soạn thảo lúc gần qua đời. Nó gợi ư cho
thấy Ngài rất có thể đă bị bắt ở Troas (4:13) và bị điệu về Rôma trở lại
(1:17), nơi Ngài viết lá thư này khi đang ngồi tù. Có điều, ngày nay các
thư này bị coi là ngụy thư (pseudepigraphical), có lẽ do một môn đệ của
Thánh Phaolô viết ra (xem Brown, Churches 31-46).
Về các chi tiết khác liên quan đến những ngày sau cùng của Thánh Phaolô,
ta phải nhờ vào các truyền thống sau này trong Giáo Hội, những truyền
thống chịu ảnh hưởng nặng nề từ các nguồn dă sử. Thánh Phaolô có bao giờ
tới Tây Ban Nha hay không? Ở đây, nếu có, th́ h́nh như chỉ là một lịch sử
hóa điều Ngài ước mơ trong Rm 15:24, 28. Quả có những truyền thuyết cho
rằng sau khi bị quản thúc hai năm, Thánh Phaolô có qua Tây Ban Nha. Thánh
Clêmentê thành Rôma (I Cor. 5:7) nói rằng Thánh Phaolô “dạy sự công chính
cho toàn thể thế giới và đă du hành tới tận cùng phương tây. Và sau khi đă
làm nhân chứng trước mặt các nhà cầm quyền, Ngài đă được đưa ra khỏi thế
gian mà về nơi cực thánh, sau khi chứng tỏ ḿnh là gương mẫu vĩ đại nhất
của ḷng kiên vững”. Lời chứng của Thánh Clêmentê (khoảng năm 90) gợi ư
Thánh Phaolô có tới Tây Ban Nha, bị xử lần nữa và được phúc tử đạo. Khoảng
năm 180, Mảnh Văn Muratorian (ḍng 38-39; Enchiridion Biblicum [2nd ed.,
Naples, 1954] 4) hàm ư cho rằng phần cuối cùng của sách Công Vụ, tức phần
kể lại “việc Thánh Phaolô rời bỏ Kinh Thành [Rôma] và lên đường qua Tây
Ban Nha” đă bị thất lạc.
Eusebius (Historia Ecclesiastica 2.22.3) là người đầu tiên nhắc tới việc
Thánh Phaolô bị cầm tù lần thứ hai tại Rôma và phúc tử đạo của Ngài dưới
thời Nêrông: “Sau khi bào chữa cho ḿnh, Thánh Phaolô lại được sai đi thi
hành thừa tác vụ rao giảng của Ngài, và tới cùng một kinh thành như trước
đây một lần nữa để chịu tử v́ đạo dưới thời Nêrông. Lúc bị tù lần thứ hai
này, Ngài viết thư thứ hai gửi Timôtê, đồng thời cho thấy rằng việc bào
chữa lần đầu của Ngài có xẩy ra và phúc tử đạo của Ngài đă gần kề”. Sau đó,
Eusebius c̣n trích lời Dionysius thành Côrintô (khoảng năm 170) cho rằng
hai thánh Phêrô và Phaolô “chịu tử đạo cùng một lúc” (Historia
Ecclesiatica 2.25.8). Tertullian (De praescr. 36) cho rằng cái chết của
Thánh Phaolô giống như cái chết của Thánh Gioan Tẩy Giả nghĩa là bị chém
đầu.
Lời chứng của Eusebius về cái chết của Thánh Phaolô dưới thời Nêrông bách
hại được nhiều người chấp nhận. Tuy nhiên, cuộc bách hại này kéo dài từ
mùa hè năm 64 tới lúc Nêrông băng hà (9 tháng Sáu, năm 68); nên khó mà xác
định rơ được niên biểu cuộc tử đạo của Thánh Phaolô. Ghi chú của Dionysius
thành Côrintô cho rằng hai Thánh Phêrô và Phaolô cùng chịu tử đạo một lúc
thường được hiểu là cùng một năm, nhưng năm được nhiều người cho Thánh
Phaolô chịu tử đạo là năm 67, vào cuối thời bách hại của Nêrông, giống như
tŕnh thuật của Eusebius. Tuy thế, niên biểu này không được mọi người chấp
nhận và cũng không thể tránh khỏi các khó khăn của nó.
Tương truyền Thánh Phaolô được chôn tại Via Ostiensis, gần địa điểm hiện
nay là Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô Ngoại Thành. Năm 258, khi các
ngôi mộ Kitô hữu bị đe doạ xâm phạm trong thời Valerian bách hại đạo, hài
cốt Thánh Phaolô đă được cải táng đưa về một nơi gọi là Ad Catacumbas
(hang toại đạo) trên Đường Appian một thời gian. Sau đó đă được đưa trở
lại địa điểm nguyên thủy, nơi hoàng đế Constantino cho xây vương cung
thánh đường của ông.
|
|
Đức Thánh
Cha Bênêđíctô đă quyết định chọn thời gian từ 28.6.2008 đến 29.8.2009 làm
Năm Thánh Phaolô, để mừng 2000 năm ngày sinh của Thánh Phaolô và để toàn
thể Giáo Hội học , chia sẻ và sống gương sống và truyền giáo của vị
Thánh Tông Đồ dân ngoại.
Noi gương sống và học
hiểu giáo huấn của thánh Phaolo để củng cố căn cước Kitô và canh tân
Giáo Hội
"Chúng ta phải noi gương sống của thánh
Phaolô và học hiểu giáo huấn của người để củng cố căn cước kitô và
canh tân toàn thể Giáo Hội”. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă khẳng định
như trên trước 8000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự
buổi găp gỡ chung hằng tuần với Đức Thánh Cha trong đại thính đường
Phaolô VI sáng thứ tư 4-2-2009. Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đă nói
tới cái chết của thánh Phaolô. Truyền thống cổ xưa nói rằng thánh nhân
đă bị tử đạo tại Roma. Nhưng Tân Ước không nói ǵ về sự kiện này. Sách
Công Vụ chỉ nói tới điều kiện thánh Phaolô bị tù tại Roma, và có thể
tiếp đón mọi người (x. Cv 28,30-31). Trong thư thứ II gửi Timoteo
thánh nhân cho chúng ta biết: ”C̣n tôi tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ
tế, đă đến giờ tôi phải ra di” (x. 2 Tm 4,6; Pl 2,17). Thánh nhân dùng
h́nh ảnh phụng tự của lễ tế, như đă dùng trong thư gửi giáo đoàn
Philipphê, để giải thích cái chết tử đạo của ḿnh như là tham dự vào
hy tế của Chúa Kitô, và h́nh ảnh hàng hải con thuyền tới bến để ám chỉ
cái chết đổ máu của ḿnh.
Chứng từ rơ ràng đầu tiên về cái chết của thánh Phaolô là vào khoảng
năm 90, tức ba thập niên sau khi thánh nhân qua đời. Đó là bức thư
Giáo Đoàn và Giám Mục Roma là Clemente I gửi cho giáo đoàn Côrintô,
mời gọi tín hữu noi gương thánh Phaolô. Thư viết:
”V́ sự ghen tương và bất đồng ư kiến Phaolô bị bó buộc cho chúng ta
thấy phải đạt phần thưởng sự kiên nhẫn như thế nào. Bị bắt giữ 7 lần,
bị đầy ải, ném đá, thánh nhân đă là kẻ rao giảng Chúa Kitô bên Phương
Đông và bên Phương Tây, và v́ ḷng tin người đă chiếm hữu được một
vinh quang tinh tuyền. Sau khi rao giảng công lư cho toàn thế giới và
sau khi đạt tới tận cùng đông phương, người chịu tử đạo trước các kẻ
cầm quyền; như thế người chịu đau khổ từ đời này và đạt nơi thánh
thiện và trở thành mẫu gương lớn lao của ḷng kiên nhẫn” ( 1 Clem
5,2). Sự kiên nhẫn được nói tới ở đây ám chỉ việc thông phần của người
vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, ám chỉ ḷng quảng đại và kiên tŕ của
người trên con đường khổ đau, đến độ có thể nói rằng: ”Tôi mang trên
ḿnh tôi các vết thương của Chúa Giêsu” (Gl 6,17). Thư của Giám Muc
Clemente nói tới ”tận cùng tây phương”, khiến cho các học gỉa tranh
luận cho rằng thánh Phaolô đă sang tới Tây Ban Nha. Có điều chắc chắn
là trong thư gửi tín hữu Roma thánh nhân có cho biết người muốn sang
giảng đạo bên Tây Ban Nha.
Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha ghi nhận sự kiện ư nghĩa này đó là
trong thư Giám Mục Clemente để hai tên Phêrô và Phaolô liền nhau, cả
khi trong bút tích thuộc thế kỷ thứ IV của Eusebio thành Cesarea thứ
tự bị đổi. Đề cập tới hoàng đế Neron, tác giả viết: ”Trong thời ông
cai trị Phaolô bị chặt đầu chính tại Roma và Phêrô th́ bị đóng đanh.
Câu chuyện được minh xác bởi tên Phêrô Phaolô ngày nay c̣n ở trên mộ
của các vị trong thành phố này” (Hist.. eccl. 2,25,5). Rồi Eusebio
tiếp tục kể lại lời tuyên bố của một linh mục Roma tên là Gaio, hồi
đầu thế kỷ thứ II: ”Tôi có thể chỉ cho bạn thấy các chiến tích của các
tông đồ: nếu bạn tới Vaticăng hay trên đường Ostiense, bạn sẽ t́m thấy
các chiến tích của các vị sáng lập Giáo Hội” (ibid. 2,25,6-7). Các
chiến tích là chính các mộ của hai thánh Phêrô và Phaolô, mà ngày nay,
sau hai ngh́n năm, chúng ta c̣n tôn kính tại chính các nơi này: thánh
Phêrô ở đây tại Vaticăng và thánh Phaolô trong đền thờ thánh Phaolô
Ngoại Thánh trên đường Ostiense.
Đức Thánh Cha cũng ghi nhận sự kiện hai tông đồ cả cùng được nhắc tới,
cả khi không có tài liệu cổ nào đề cập tới sự kiện hai vị thi hành
thừa tác đồng thời với nhau tại Roma, nhưng ư thức kitô sau đó đă dựa
trên sự kiện cả hai vị được chôn cất tại Roma nên coi cả hai như là
các vị sáng lập ra Giáo Hội Roma. Đề cập tới việc kế vị các tông đồ
Ireneo thành Lyon sống vào cuối thế kỷ thứ II viết: ”V́ kể hết ra các
việc kế vị của tất cả mọi Giáo Hội th́ dài qúa, chúng ta chỉ nói đến
Giáo Hội vĩ đại mọi người đều biết là Giáo Hội đă được hai tông đồ
Phêrô Phaolô thiết lập tại Roma thôi” (Adv. haer. 3,3,2).
Rồi Đức Thánh Cha nói tới cái chết của thánh Phaolô được sách Công Vụ
Phaolô ghi nhận như sau:
Sách kể lại rằng hoàng đế Neron kết án chém đầu thánh nhân, và án được
thi hành ngay sau đó (x. 9,5). Các tài liệu cổ xưa cho biết giữa cuộc
bách hại của hoàng đế Neron sau vụ thành Roma bị hỏa hoạn hồi tháng 7
năm 64 và năm cuối cùng của triều đại Neron là năm 68 (x. Gerolamo, De
viris ill. 5,8). Thời điểm xê xích tùy theo ngày thánh Phaolô tới
Roma.
Các truyền thống tiếp theo xác định hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất có vẻ
truyền kỳ hơn đó là biến cố thánh nhân tử đạo xảy ra tại Acquae
Salviae trên đường Laurentina, thủ cấp của thánh nhân nhảy ba lần và
mỗi lần khiến cho một con suối từ đất vọt lên, v́ thế nơi này có tên
gọi là Tre Fontane, Ba Suối. Yếu tố thứ hai phù hơp với chứng tá của
linh mục Gaio, thánh nhân được chôn cất ”ngoài thành, dặm thứ hai trên
đường Laurentina”, ”trong đất của Lucina” là một phụ nữ kitô (Passione
di Paolo dello Pseudo Abdia, thuộc thế ky thứ IV). Tại đây vào thế kỷ
thứ IV hoàng đế Constantino cho xây một đền thờ đầu tiên, được các
hoàng đế Valentiniano II, Teodosio và Arcadio nới rộng giữa thế kỷ thứ
IV và thứ V. Sau vụ hỏa hoạn hồi năm 1800 đền thờ được xây lại như
trông thấy hiện nay.
Dầu sao đi nữa gương mặt của thánh Phaolô lớn hơn là cuộc sống trên
dương thế và cái chết của ngài, v́ thánh nhân đă để lại một gia tài
tinh thần rất lớn.... V́ chẳng bao lâu sau, các thư của người đă được
dùng trong các bài đọc phụng vụ, và nhờ thế tư tưởng của thánh nhân
trở thành lương thực tinh thần cho tín hữu thuộc mọi thời đại.
Và dĩ nhiên là các thư và nền tu đức của thánh nhân đă dưỡng nuôi cuộc
sống của các Giáo Phụ và mọi thần học gia. Cho tới ngày nay thánh
Phaolô là vị thầy và là tông đồ đích thật của dân ngoại. Tác phẩm chú
giải đầu tiên thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Roma là của giáo phụ
Origene thần học gia lớn của trường phái Alessandria. Ngoài việc chú
giải các thư của thánh Phaolô Thánh Gioan Kim Khẩu c̣n viết 7 bài ca
tụng đáng ghi nhớ. Thánh Agostino đă hoán cải là nhờ đọc các thư của
thánh Phaolô và suốt đời trích thánh Phaolô. Từ việc liên tục đối
thoại với thánh nhân, nảy sinh ra nền thần học công giáo và tin lành.
Thánh Toma Aquino cũng để lại cho chúng ta tác phẩm chú giải các thư
của thánh Phaolô, tiêu biểu cho khoa chú giải Kinh Thánh thời Trung Cổ.
Vào thế kỷ XVI xảy ra phong trào Cải cách với Lutero là người đă t́m
ra một kiểu chú giải mới giáo thuyết công chính hóa giải thoát khỏi
mọi âu lo sợ hăi của qúa khứ và trao ban một sự tin tưởng triệt để nơi
ḷng lành của Thiên Chúa, là đấng tha thứ vô điều kiện. Từ đó Lutero
đồng hóa chủ trương duy luật lệ do thái kitô với sự nô lệ luật lệ trái
nghịch với sự tự do của Tin Mừng. Công Đồng Chung Trento từ năm 1545
tới 1563 đă giải thích sâu rộng sự công chính hóa và t́m thấy trong
toàn truyền thống công giáo tổng kết giữa luật lệ và Tin Mừng, phù hợp
với sứ điệp của toàn Kinh Thánh.
Trong thế kỷ XIX ảnh hưởng của thuyết thiên quang luận đă giúp phát
triển kiểu chú giải phê b́nh lịch sử. Trong hai thế kỷ XIX và XX người
ta đă nói xấu thánh Phaolô. Điển h́nh như triết gia Nietsche đă chế
nhạo thần học sự khiêm nhường của thánh nhân và đối nghịch lại bằng
thần học của con người mạnh mẽ và quyền năng.
Ư niệm về sự tự do của thánh Phaolô là ṇng cốt tư tưởng của thánh
nhân. nhưng ngày nay nó được giải thích trong bối cảnh của chủ thuyết
tân tự do. Người ta cũng đối chọi sự rao giảng của thánh Phaolô với sự
rao giảng của Chúa Giêsu và cho rằng thánh nhân là sáng lập viên mới
của Kitô giáo.
Điều đúng là Nước Trời như trung tâm điểm lời loan báo của Chúa Giêsu
đă trở thành trung tâm điểm của Kitô học, có tuyệt đỉnh là mầu nhiệm
phục sinh. Từ mầu nhiệm phục sinh phát xuất ra các bí tích Rửa tội và
Thánh Thể như sự hiện diện thường hằng của mầu nhiệm đó và là thần
lương làm cho Thân Ḿnh Chúa Kitô lớn lên và xây dựng Giáo Hội. Nước
Thiên Chúa hiện thực trong trung tâm mới của nền Kitô học và mầu nhiệm
phục sinh, khiến cho lời loan báo của Chúa Giêsu trở thành cụ thể,
hiện diện và hoạt động.
Trong mấy chục năm qua xảy ra nhiều khác biệt giữa khoa chú giải công
giáo và khoa chú giải tin lành nhưng lại thực hiện được sự đồng thuận
liên quan tới điểm gây chia rẽ lịch sử giữa hai bên. Đây là niềm hy
vọng lớn của phong trào đại kết.
Sau cùng Đức Thánh Cha nhắc đến ba ḍng lớn mang tên của thánh Phaolô
là ḍng Thánh Phaolô gọi là ḍng Barnabiti thuộc thế kỷ XVI, ḍng Thừa
Sai thánh Phaolô gọi là ḍng Pauliti thuộc thế kỷ XIX và Gia đ́nh
Phaolô do chân phước Giacomo Alberione thành lập trong thế kỷ XX.
Khi noi gương thánh Phaolô và t́m hiểu giáo lư của người là chúng ta
củng cố căn cước kitô và canh tân toàn Giáo Hội.
Sau khi chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau Đức Thánh Cha đă
cất kinh Lậy Cha và ban phép lành Ṭa Thánh cho mọi người.
Quan điểm Thần Học
của các Thư Mục Vụ
Dưới đây là bản dịch bài huấn từ của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong
buổi triều yết chung ngày 28 tháng 1, 2009 tại Đại Sảnh Phaolô VI. ĐTC
tiếp tục chu kỳ Giáo Lư về khuôn mặt và giáo huấn của Thánh Phaolô. Hôm
nay ĐTC nói về các Thư Mục Vụ trong đó ngài đề cập đến Thánh Truyền và
cơ cấu Hội Thánh.
Anh chị em thân mến:
Những Thư cuối cùng của bộ Thư của Thánh Phaolô, mà chúng ta sẽ nói đến
hôm nay, được gọi là những Thư Mục Vụ, bởi v́ các Thư này được gửi cho
những khuôn mặc đặc biệt trong số những mục tử của Hội Thánh: hai Thư
cho Thánh Timôthê và một Thư cho Thánh Titô, là những cộng sự viên thân
cận của Thánh Phaolô.
Trong Thánh Timôthê, Thánh Tông Đồ hầu như thấy con người khác của ḿnh;
thực ra ngài đă trao phó cho Timôthê những sứ vụ quan trọng (ở Macêđônia:
x. CV 19:22; ở Thêxalônica: x. 1 Tim 3:6-7; ở Côrinthô: x. 1 Cor 4:17;
16:10-11), và sau đó ngài đă viết những lời khen ngợi Timôthê như sau:
“V́ tôi không có ai khác đồng tâm nhất trí với tôi, là người sẽ thực tâm
lo lắng cho t́nh trạng của anh em” (Phl 2:20).
Theo Sách Lịch Sử Hội Thánh của Êusibô thành Caesarê ở thế kỷ thứ tư th́
sau này Thánh Timôthê làm giám mục tiên khởi của Êphêsô (x. 3,4).
C̣n Thánh Titô phải được Thánh Tông Đồ quư yêu lắm, v́ ngài gọi Titô
cách thẳng thừng là “đầy hăng say… bạn đồng hành, vừa là cộng sự viên
của tôi” (x 2 Cor 8:17,23), mà c̣n hơn nữa là “người con thực sự của cha
trong một đức tin chung” (Tit 1:4). Titô đă được ngài trao phó một vài
sứ vụ rất tế nhị ở Hội Thánh Côrinthô, mà kết quả làm cho Thánh Phaolô
rất hài ḷng (x. 2 Cor 7:6-7,13; 8:6). Ngay sau đó, từ những ǵ chúng ta
biết, Titô theo kịp Thánh Phaolô ở Nicopolis thuộc Êpirô, trong nước Hy
Lạp (x. Tit 3:12) và rồi được ngài sai đi Dalmatia (x. 2 Tim 4:10). Theo
Thư Thánh Phaolô gửi cho Titô, th́ cuối cùng Titô làm giám mục ở Crêtê
(x. Tit 1:5).
Các Thư hướng dẫn hai vị mục tử này chiếm một chỗ hoàn toàn đặc thù
trong Tân Ước. Đối với hầu hết các nhà chú giải Thánh Kinh hiện nay th́
dường như những Thư này không thể do chính Thánh Phaolô viết, và theo họ
th́ những Thư này bắt nguồn từ “trường phái Phaolô” cùng phản ảnh gia
tài mà Thánh Nhân để lại cho thế hệ mới, có lẽ được ghép vào đó những
đoạn văn ngắn hay những lời của chính Thánh Tông Đồ. Thí dụ có vài lời
trong Thư thứ hai gửi Timôthê có vẻ rất chân thành đến nỗi những lời ấy
chỉ có thể phát ra từ trái tim và miệng của Thánh Tông Đồ.
Điều chắc chắn là t́nh trạng Hội Thánh xảy ra như được diễn tả trong
những Thư này là t́nh trạng khác với những năm chính của đời Thánh
Phaolô. Giờ đây khi hồi tưởng lại, Thánh Nhân đă coi ḿnh như là “sứ giả,
tông đồ, và thầy” của Dân Ngoại trong Đức Tin và chân lư (x. 1 Tim 2:7;
2 Tim 1:11); ngài tự giới thiệu ḿnh như một người đă được thương xót
bởi v́ – như ngài viết – là Đức Chúa Giêsu Kitô “muốn phơi bày tất cả
ḷng kiên nhẫn của Người nơi cha trước nhất, mà làm gương cho những ai
sẽ tin vào Người sau đó, để được sự sống đời đời” (1 Tim 1:16).
Cho nên điều chính yếu là chính Thánh Phaolô, kẻ bách hại đă được sự
hiện diện của Đấng Phục Sinh hoán cải, đem ḷng hào hiệp của Chúa ra để
khuyến khích chúng ta, thúc đẩy chúng ta hy vọng và tin tưởng vào ḷng
thương xót của Chúa, là Đấng có thể làm những việc trọng đại, bất chấp
sự bé nhỏ của chúng ta. Ngoài những năm chính của cuộc đời Thánh Phaolô,
các Thư này cũng ám chỉ những hoàn cảnh xă hội mới. Thực ra, trong các
thư này có ám chỉ việc xuất hiện những giáo huấn được coi là hoàn toàn
lầm lẫn hay sai lạc (x. 1 Tim 4:1-2; 2 Tim 3:1-5), như những giáo huấn
dạy rằng việc hôn nhân không tốt (x. 1 Tim 4:3a).
Chúng ta thấy lo ngại này vẫn c̣n hợp thời như thế nào, ngày nay người
ta đôi khi cũng đọc Thánh Kinh như đối tượng của sự ṭ ṃ về lịch sử chứ
không phải như Lời của Chúa Thánh Thần, mà trong đó chúng ta được nghe
từng tiếng nói của Chúa và nhận ra sự hiện diện của Người trong lịch sử.
Chúng ta phải nói rằng, với danh sách ngắn của những lỗi lầm được kể ra
trong các Thư ấy, xuất hiện một nét phác họa cho thấy trước hướng đi sai
lầm tiếp theo mà chúng ta biết tên là Ngộ Đạo (x. 1 Tim 2:5-6; 2 Tim
3:6-8).
Tác giả đương đầu với những giáo thuyết này bằng hai lời kêu gọi chính.
Một lời kêu gọi gồm việc trở lại với cách đọc Thánh Kinh cách thiêng
liêng (x. 2 Tim 3:14-17), nghĩa là một cách đọc trong đó coi Thánh Kinh
thật sự là được Thiên Chúa linh hứng và đến từ Chúa Thánh Thần, để nhờ
Thánh Kinh, một người có thể được “dạy dỗ để được ơn Cứu Độ”. Thánh Kinh
được đọc đúng bằng cách tự đặt ḿnh vào cuộc đối thoại với Chúa Thánh
Thần, ngơ hầu lấy ra từ Thánh Kinh ánh sáng “để giảng dạy, thuyết phục,
răn bảo, giáo huấn trong sự công chính” (2 Tim 3:16). Theo nghĩa này,
Thư thêm rằng “để cho người thuộc về Thiên Chúa nên toàn thiện, và được
trang bị đầy đủ mà làm mọi việc lành” (2 Tim 3:17).
Lời kêu gọi thứ nh́ nói về kho tàng Đức Tin (parathéke): Đây là một từ
đặc biệt của các Thư Mục Vụ mà Thánh Nhân dùng để chỉ truyền thống Đức
Tin của các Tông Đồ, một Đức Tin cần phải được bảo vệ cũng với sự giúp
đỡ của Chúa Thánh Thần. Điều được gọi là kho tàng ấy phải được kể là
tổng số của Truyền Thống các Tông Đồ và là tiêu chuẩn của ḷng trung
thành với việc rao giảng Tin Mừng. Ở đây chúng ta cần ghi nhớ rằng trong
các Thư Mục Vụ, cũng như trong toàn thể Tân Ước, từ “Thánh Kinh” có
nghĩa rơ ràng là Cựu Ước, v́ các tác phẩm Tân Ước khi ấy chưa có, hay
chưa trở thành một phần của quy điển Thánh Kinh.
Như thế Truyền Thống trong việc rao giảng của các Tông Đồ, “kho tàng”
này, là ch́a khóa giúp chúng ta đọc để hiểu Thánh Kinh, Tân Ước. Theo
nghĩa này, Thánh Kinh và Thánh Truyền, tức là Thánh Kinh và việc rao
giảng của các Tông Đồ là ch́a khóa để đọc, tiếp cận, và hầu như hợp lại
để làm thành “một nền tảng vững chắc của Thiên Chúa” (2 Tim 2:19). Việc
rao giảng của các Tông Đồ, nghĩa là Thánh Truyền, cần thiết để làm quen
với việc hiểu Thánh Kinh và tiếp nhận trong đó tiếng nói của Đức Kitô.
Thật vậy, cần phải “nắm vững lời chân thật như đă được học” (Tit 1:9). Ở
nền tảng của tất cả mọi sự chính là Đức Tin vào mạc khải lịch sử của
ḷng nhân lành Thiên Chúa, là Đấng đă tỏ lộ nơi Đức Chúa Giêsu Kitô
“t́nh yêu của Ngài đối với nhân loại”, một t́nh yêu mà trong tiếng Ly
Lạp gọi là ”filanthropía” (x. Tit 3:4; 2 Tim 1:9-10): Thiên Chúa yêu
thương nhân loại.
Nói chung th́ người ta thấy rơ ràng là cộng đoàn Kitô hữu phải tự đào
luyện theo những điều kiện thật rơ ràng, theo một căn tính không những
tránh xa những giải thích không thích hợp, nhưng trên hết c̣n khẳng định
việc gắn liền với các điểm thiết yếu của Đức Tin, mà ở đây đồng nghĩa
với “chân lư” (1 Tim 2:4,7; 4:3; 6:5; 2 Tim 2:15; 3:8; 4:4; Tit 1:1;
1:14).
Trong Đức Tin, là chân lư thiết yếu về chúng ta là ai, Thiên Chúa là ai,
và chúng ta phải sống thế nào. Và từ chân lư này (chân lư của Đức Tin)
mà Hội Thánh được định nghĩa là “cột trụ và nền tảng” (x. 1 Tim 3:15).
Dù trong trường hợp nào đi nữa, Hội Thánh vẫn là một cộng đồng rộng mở,
có tầm phổ quát. Một công đồng cầu nguyện cho tất cả mọi ngươi thuộc mọi
tầng lớp và điều kiện xă hội, để họ nhận ra chân lư. “Thiên Chúa muốn
mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” bởi v́ “Chúa Giêsu đă tự
hiến làm giá chuộc mọi người” (1 Tim 2:4-5). Như vậy, dù các cộng đồng
vẫn c̣n bé nhỏ, nhưng đă có ư thức phổ quát mạnh mẽ và xác quyết trong
các Thư này. Hơn nữa, cộng đoàn Kitô hữu “không nói xấu ai” và “luôn
luôn tỏ ra nhă nhặn với mọi người” (Tit 3:2). Đây là yếu tố quan trọng
đầu tiên của các Thư này: tính phổ quát của Đức Tin như là chân lư, như
là ch́a khóa để đọc Thánh Kinh, đọc Cựu Ước, và như thế mô tả một sự hợp
nhất trong việc rao giảng Thánh Kinh và một Đức Tin sống động mở ra cho
tất cả mọi người và làm chứng cho t́nh yêu của Thiên Chúa đối với mọi
người.
C̣n một yếu tố đặc thù khác của các thư này là một suy nghĩ về cấu trúc
thừa tác của Hội Thánh. Chính các thư này đă tŕnh bày lần đầu tiên việc
phân chia các thừa tác vụ làm ba bậc: giám mục, linh mục và phó tế (x. 1
Tim 3:1-13; 4:13; 2 Tim 1:6; Tit 1:5-9). Chúng ta có thể nhận thấy trong
các thư mục vụ việc nối kết hai cơ cấu thừa tác lại, và như thế làm
thành h́nh thức sau cùng của thừa tác vụ trong Hội Thánh. Trong các Thư
của Thánh Phaolô vào những năm chính của đời ngài, Thánh Nhân nói về
“episcope” [các giám mục] (Phl 1:1) và “diaconi” [phó tế]: Đó là cấu
trúc đặc thù của Hội Thánh, được thiết lập trong thời đại thế giới ngoại
giáo. Cho nên khuôn mặt này của chính Thánh Tông Đồ vẫn c̣n nổi bật, và
v́ thế dần dần những thừa tác vụ khác đă phát triển.
Nếu như cha đă nói, trong những Giáo Hội được thành h́nh trong thế giới
ngoại giáo chúng ta có các giám mục và phó tế, mà không có linh mục [tư
tế], c̣n trong các Giáo Hội h́nh thành trong thế giới Do-thái-Kitô-giáo,
các linh mục [tư tế] là cơ cấu chính. Ở cuối các Thư Mục Vụ, hai cơ cấu
này hợp lại: Khi ấy xuất hiện chức “episcopo” (giám mục) (x. Tim 3:2;
Tit 1:7), luôn luôn ở số ít, đi theo bằng một mạo từ chỉ định. Cùng với
“episcopo” chúng ta thấy có các linh mục và các phó tế. Lúc đó, khuôn
mặt của Thánh Tông Đồ vẫn c̣n nổi bật, nhưng ba Thư Mục Vụ, như cha đă
nói, không nhằm đến các cộng đồng, mà đến hai người là Timôthê và Titô,
một đàng xuất hiện như các giám mục, đàng khác, bắt đầu thế chỗ của
Thánh Tông Đồ.
Như vậy người ta bắt đầu nhận ra thực tại mà sau này gọi là “việc kế vị
Tông Đồ”. Thánh Phaolô nói với Timôthê bằng một giọng nghiêm trọng như
sau: “Đừng thờ ơ với ân sủng đang ở trong con, là ơn đă được ban cho con
nhờ lời ngôn sứ, khi hàng kỳ mục đặt tay trên con.” (1 Tim 4:14). Chúng
ta có thể nói rằng trong các lời ấy bắt đầu xuất hiện tính chất bí tích
của thừa tác vụ. Và như thế chúng ta có điều thiết yếu của cấu trúc công
giáo: Thánh Kinh và Thánh Truyền, Thánh Kinh và lời rao giảng, làm thành
một tổng thể; nhưng phải thêm vào cấu trúc này, mà chúng ta gọi là cấu
trúc giáo lư, cấu trúc nhân sự, là các người kế vị các Tông Đồ, như
chứng nhân của lời rao giảng của các Tông Đồ.
Sau cùng cần phải ghi nhận rằng trong các Thư này, Hội Thánh hiểu ḿnh
theo nghĩa rất nhân bản, tương tự như là ngôi nhà và gia đ́nh. Đặc biệt
là trong Thư thứ nhất gửi Timôthê 3:2-7, Thánh Nhân đưa ra các chỉ dẫn
chi tiết cho chức giám mục, như là “Một giám mục phải là người không thể
chê trách được, là chồng của chỉ một vợ, tiết độ, điềm đạm, có tư cách,
hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo,
nhưng ḥa nhă, không lư sự, và không ham tiền, phải là người tề gia giỏi,
biết dạy con cái phục tùng cách nghiêm chỉnh, v́ nếu một người không
biết điều khiển chính gia đ́nh ḿnh, th́ làm sao có thể chăm sóc Hội
Thánh của Thiên Chúa được?. . . . Người ấy cũng phải có uy tín đối với
người ngoài”.
Chúng ta phải ghi nhận ở đây tất cả những khả năng cần thiết trong việc
giảng dậy (x. 1 Tim 5:17), mà trong đó chúng ta thấy những lời được thấy
ở những đoạn khác (x. 1 Tim 6:2; 2 Tim 3:10; Tit 2:1), và rồi một đặc
tính cá nhân đặc biệt, đặc tính của “hiền phụ.” Thật vậy, vị giám mục
được coi như cha của cộng đoàn Kitô hữu (x. 1 Tim 3:15). Hơn nữa, ư
tưởng Hội Thánh như “nhà của Thiên Chúa” có nguồn gốc trong Cựu Ước (x.
Ds 12:7), và được tái công thức hóa trong Thư gửi tín hữu Do Thái (Dt
3:2,6); trong khi ở nơi khác chúng ta đọc thấy rằng mọi Kitô hữu không
c̣n là người xa lạ hay là khách, mà là đồng hương với các thánh và là
phần tử của gia đ́nh trong nhà của Thiên Chúa (x. Ep 2:19).
Vậy, chúng ta hăy cầu xin Chúa và Thánh Phaolô để ngày nay, là các Kitô
hữu, trong tương quan với xă hội mà chúng ta đang sống, chúng ta cũng
hơn bao giờ hết luôn luôn có đặc tính như là phần tử của “gia đ́nh của
Thiên Chúa”. Và chúng ta cũng hăy cầu nguyện cho các mục tử của Hội
Thánh để các ngài càng ngày càng có nhiều tâm t́nh hiền phụ, đồng thời
cũng dịu dàng và mạnh mẽ trong việc đào tạo gia đ́nh của Thiên Chúa, là
cộng đoàn Hội Thánh.
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
Đức Kitô
là Đầu Hội Thánh và Vũ Trụ
Dưới đây là bản dịch bài Huấn Từ của ĐTC
Bênêđictô XVI trong buổi triều yết chung ngày 14 tháng 1, 2009 tại Đại
Sảnh Phaolô VI. Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lư về con người và giáo
huấn của Thánh Phaolô.
Anh chị em thân mến,
Trong số các Thư của Thánh Phaolô, có hai
Thư là Thư gửi tín hữu Côlôxê và Thư gửi tín hữu Êphêxô, một cách nào đó
có thể được coi như một ống nḥm hai kính. Thật vậy, cả hai Thư đều có
những cách diễn tả mà chúng ta không thể t́m thấy ở những nơi khác, và
tính ra th́ hơn một phần ba những từ ngữ trong Thư Côlôxê cũng được t́m
thấy trong Thư Êphêxô.
Chẳng hạn như trong Thư Côlôxê chúng ta
thấy lời mời gọi: “Anh em hăy hát những bài thánh vịnh, thánh thi và
thánh ca với một ḷng tri ân trong tâm hồn anh em mà dâng lên Thiên Chúa”
(x. Col 3:16), th́ trong Thư Êphêxô, Thánh Nhân cũng khuyên: “Anh em
hăy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca; hăy
đàn ca chúc tụng Chúa trong tâm hồn anh em” (x. Eph 5:19).
Chúng ta có thể suy niệm về những cụm từ:
Tâm hồn phải ca hát, cũng như bằng lời, cùng với các bài thánh vịnh và
thánh thi trong truyền thống cầu nguyện của toàn thể Hội Thánh thời Cựu
Ước và Tân Ước. Như thế chúng ta học được cách kết hợp với nhau, cùng
nhau, và với Thiên Chúa. Thêm vào đó, trong cả hai Thư đều có một điều
gọi là “luật trong gia đ́nh” mà chúng ta không thấy trong các Thư
khác của Thánh Phaolô, đó là hàng loạt những đề nghị dành cho vợ và
chống, cha mẹ và con cái, chủ nhân và nô lệ (x. Col 3:18-4:1 và Eph
5:22-6:9).
Điều quan trọng hơn nữa là chỉ có hai Thư
này là hai Thư xác nhận danh hiệu “đầu” kefalé dành cho Đức Chúa
Giêsu Kitô. Và danh hiệu này được sử dụng ở hai mức độ. Theo nghĩa thứ
nhất, Đức Kitô được coi như là Thủ Lănh của Hội Thánh (x. Col 2:18-19 và
Eph 4:15-16). Điều này có hai nghĩa: trước hết Người là Đấng cai quản,
là Người hướng dẫn, là Người có nhiệm vụ dẫn dắt cộng đồng Kitô hữu như
vị Thủ Lănh và Chúa của cộng đồng này (x. Col 1:18: “Người cũng là
đầu của một thân thể là Hội Thánh”), và nghĩa khác là như cái Đầu
kích thích và làm sống động tất cả mọi chi thể của thân xác mà nó được
đặt trên đó (thực ra, theo Col 2:19 th́ [thân thể] “phải kết hợp với
đầu mà từ đó toàn thân được nuôi dưỡng, và được nối kết chặt chẽ với
nhau qua các khớp xương và gân cốt”): như thế Đức Kitô không phải là
một vị chỉ huy, nhưng là Đấng kết hợp cách hữu cơ với chúng ta, từ Người
phát ra sinh lực để giúp [chúng ta] hoạt động một cách công minh.
Trong cả hai trường hợp, Hội Thánh được coi
là phục tùng Đức Kitô, qua việc Hội Thánh tuân theo sự chỉ dẫn tối cao
của Người, là những mệnh lệnh [giới răn] và đón nhận những ḍng sinh lực
phát ra từ Người. Mệnh lệnh của Người không phải chỉ là những lời nói,
những lệnh truyền, nhưng c̣n là những năng lực sống động đến từ Người để
giúp đỡ chúng ta.
Tư tưởng này được khai triển cách đặc biệt
trong Thư gửi tín hữu Êphêxô, trong đó ngay cả các thừa tác vụ của Hội
Thánh, thay v́ được quy về Chúa Thánh Thần (như trong 1 Cor 12), th́
được gán cho Đức Kitô Phục Sinh. Chính Người “ban ơn cho kẻ này làm
tông đồ, người kia ơn làm ngôn sứ, người khác ơn làm người rao giảng Tin
Mừng, người khác nữa làm mục tử và thầy dậy” (Eph
4:11 ). Và “nhờ
Người mà toàn thân được liên kết chặt chẽ bằng sự nối kết các gân cốt
lại với nhau,..., làm cho toàn thân tăng trưởng và tự phát triển trong
đức ái” (Eph
4:16 )
Thật vậy Đức Kitô tận t́nh để “hiến Hội
Thánh cho chính Ḿnh Người, một Hội Thánh huy hoàng, không tỳ ố, không
vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm ǵ như thế, nhưng để Hội Thánh trở
nên thánh thiện và không tỳ ố” (Eph 5:27). Qua điều này, Thánh Nhân
nói với chúng ta rằng sức mạnh mà Đức Kitô dùng để xây dựng, hướng dẫn,
cùng chỉ đúng đường cho Hội Thánh, chính là t́nh yêu của Người.
Như thế, ư nghĩa thứ nhất là Đức Kitô làm
Đầu Hội Thánh: làm đầu về việc lănh đạo, mà trên hết là vệc khuyến khích
và làm cho Hội Thánh trở nên sống động một cách có hệ thống v́ t́nh yêu
của Người. Rồi theo nghĩa thứ hai th́ Đức Kitô không những chỉ được coi
là Đầu Hội Thánh mà cũng là Thủ Lănh của mọi quyền lực thiên quốc và của
toàn thể vũ trụ.
Như thế trong Thư gửi tín hữu Côlôxê, chúng
ta đọc rằng Đức Kitô “đă tước đoạt vũ khí của các lănh thần và quyền
thần, đă biến chúng thành tṛ cười cho thiên hạ, bằng cách dẫn chúng đi
diễn hành trong cuộc khải hoàn” (Col 2,15). Cũng tương tự, trong Thư
gửi tín hữu Êphêxô, chúng ta thấy rằng với việc phục sinh của Người,
Thiên Chúa “đă đặt Đức Kitô trên mọi lănh thần, quyền thần, dũng thần,
và quản thần, và trên mọi tước vị có thể có được, không những ở đời này,
mà cả đời sau.” (Eph 1:21).
Bằng những lời ấy, hai Thư này trao cho
chúng ta một sứ điệp rất tích cực và hiệu quả. Đó là: Đức Kitô không cần
phải sợ bất cứ một đối thủ nào, bởi v́ Người cao vượt trên mọi loại
quyền lực, là những quyền lực cố gắng làm nhục con người. Chỉ có Người
đă “yêu thương chúng ta và hiến Ḿnh cho chúng ta” (Eph 5:2). Cho
nên, nếu chúng ta kết hợp với Đức Kitô, th́ chúng ta chẳng phải sợ một
quân thù và nghịch cảnh nào cả, nhưng điều ấy cũng có nghĩa là
chúng ta phải kết hợp chặt chẽ với Người, mà không được rời Người.
Đối với thế giới ngoại giáo, là những kẻ
tin vào một thế giới đầy thần linh, hầu hết là nguy hiểm mà một người
cần phải tự vệ, th́ việc loan báo Đức Kitô là Đấng Chiến Thắng duy nhất,
và người nào kết hợp với Đức Kitô th́ không phải sợ bất cứ ai, được coi
là một cuộc giải phóng thật sự. Điều đó cũng đúng đối với các tà giáo
thời nay, v́ các đồ đệ của các hệ thống tư tưởng này cũng coi thế giới
như là đầy dẫy những quyến lực nguy hiểm. Đới với họ, chúng ta cần phải
loan báo rằng Đức Kitô là Đấng Chiến Thắng, cho nên những ai ở với Đức
Kitô và tiếp tục kết hợp với Người th́ không phải sợ bất cứ điều ǵ và
bất cứ ai. Cha nghĩ rằng điều này cũng quan trọng đối với chúng ta, là
những người phải học đương đầu với mọi sự sợ hăi, bởi v́ Đức Kitô ở trên
mọi quyền thần, Người là Chúa thật của thế giới.
Ngay cả toàn thể vũ trụ cũng phải quy phục
Người, và quy hướng về Người như là Đầu của chính vũ trụ. Những lời mà
mọi người đều biết trong Thư gửi tín hữu Êphêxô, nói về chương tŕnh của
Thiên Chúa là “quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một Thủ
Lănh là Đức Kitô” (Eph
1:10 ). Tương tự, trong Thư
gửi tín hữu Côlôxê, chúng ta đọc thấy rằng: “V́ trong Người muôn vật
được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, các quyền lực hữu h́nh và vô
h́nh.” (Col 1,16), và rằng: “nhờ máu Người trên thập giá, Người đă ḥa
giải muôn loài, dù là loài dưới đất hay trên trời, với Chính Người và
nhờ Người” (Col 1:20).
Như vậy, không phân biệt một thế giới vật
chất vĩ đại hay thực tại nhỏ bé của lịch sử trái đất, thế giới của loài
người: tất cả đều là một trong Đức Kitô. Người là thủ lănh của vũ trụ;
mà vũ trụ cũng được Người tạo dựng, nó được tạo dựng cho chúng ta bao
lâu chúng ta c̣n kết hợp với Người. Đây là một quan niệm hợp lư và có
tính cách nhân vị về vũ trụ. Và cha muốn nói rằng không thể mường tượng
được một quan niệm thực tế hơn quan niệm này, l quan niệm chỉ quy chiếu
về Đức Kitô Phục Sinh. Đức Kitô là Đấng Pantokrátor [Chúa Toàn
Năng], mà mọi sự đều phải quy phục: tư tưởng hướng về Đức Kitô là
Pantokrátor th́ đầy dẫy trong các gian thánh của các nhà thờ
Byzantine, đôi khi Người được diễn tả như ngồi cao trên toàn thể thế
giới, trên cả một cầu vồng để chỉ việc so sánh Người với chính Thiên
Chúa, là Đấng mà Người ngự bên hữu (x. Eph 1:20; Col 3:1), và như thế
cũng diễn tả vai tṛ cao vượt của Người là Đấng điều khiển vận mệnh của
nhân loại.
Một quan niệm như thế chỉ có Hội Thánh mới
nhận thức được, không theo nghĩa là Hội Thánh tự nhận cho ḿnh điều
không thuộc về ḿnh, nhưng trái lại bằng hai nghĩa. Một đằng, Hội Thánh
nhận ra rằng Đức Kitô cao trọng hơn ḿnh, và chủ quyền của Người vượt ra
ngoài ranh giới của Hội Thánh. Đằng khác, chỉ có Hội Thánh, chứ không
phải vũ trụ, mới đủ tiêu chuẩn là Thân Ḿnh của Đức Kitô. Tất cả những
điều ấy có nghĩa là chúng ta phải nh́n vào các thực tại trần thế một
cách tích cực, bởi v́ Đức Kitô đă gồm tóm chúng trong chính Người, đồng
thời, chúng ta phải sống căn tính Hội Thánh đặc biệt của chúng ta một
cách đầy đủ, đó là một căn tính rất đồng nhất với căn tính của chính Đức
Kitô.
Ngoài ra c̣n có quan niệm đặc thù trong hai
Thư này, đó là quan niệm về “mầu nhiệm”. “Mầu nhiệm Thánh Ư của
Thiên Chúa” được nhắc đến một lần (Eph 1:9) và những lần khác là
“mầu nhiệm của Đức Kitô” (Eph 3:4; Col 4:3), hoặc ngay cả “mầu
nhiệm của Thiên Chúa, là Đức Kitô, trong đó dấu ẩn mọi kho tàng của sự
khôn ngoan và hiểu biết” (Col 2:2-3).
Việc này ám chỉ chương tŕnh không ai có thể ḍ được của Thiên Chúa đối
với số phận con người, các dân tộc và thế giới. Bằng ngôn ngữ này hai
Thư nói cho chúng ta biết rằng chính trong Đức Kitô mà mầu nhiệm này
được hoàn thành. Nếu chúng ta ở với Đức Kitô, ngay cả khi chúng ta không
hiểu mọi sự bằng trí khôn của ḿnh, th́ chúng ta biết rằng ḿnh đang ở
trọng tâm của “mầu nhiệm” và trên đường Chân Lư. Chính Người, trong toàn
thể con người của Ḿnh, mang trong Ḿnh toàn thể chương tŕnh cứu độ
khôn ḍ của Thiên Chúa, chứ không phải chỉ trong một b́nh diện hay một
giây lát của cuộc đời Người.
Trong Người, điều được gọi là “sự khôn
ngoan muôn mặt của Thiên Chúa” (Eph 3:10) được h́nh thành, bởi v́ “tất
cả sự viên măn của thiên tính ở trong Người một cách thể lư” (Col
2:9). Cho nên từ giờ trở đi, chúng ta không thể nghĩ đến việc tôn thờ
Thánh Ư Thiên Chúa, sự sắp đặt tối cao của Ngài, mà không tự ḿnh trực
diện với Đức Kitô, trong Người “mầu nhiệm” này được nhập thể và chúng ta
có thể nhận thức được cách hữu h́nh. Như thế, một người đến để chiêm
niệm “sự phong phú khôn lường của Đức Kitô” (Eph 3:8) là điều
vượt quá mọi sự hiểu biết của loài người.
Không phải là Thiên Chúa đă không để lại
dấu vết của việc đi qua của Ngài, v́ Chính Đức Kitô là dấu chân của
Thiên Chúa, dấu vết lớn nhất của Thiên Chúa, nhưng tốt hơn là chúng ta
nhận ra “chiều rộng, chiều dài, và chiều sâu ‘của mầu nhiệm này’ là
điều vượt quá tầm hiểu biết thế nào” (Eph 3:18-19). Ở đây chứng tỏ
rẳng chỉ dựa vào những phạm trù trí hiểu mà thôi th́ chưa đủ, và trong
khi nh́n nhận rằng có nhiều điều vượt quá khả năng suy luận của chúng ta,
th́ chúng ta phải cậy trông vào việc khiêm nhường và vui vẻ chiêm niệm,
chứ không phải chỉ cậy trông vào trí thông minh, mà c̣n vào cả tâm hồn
nữa. Đằng khác, các Giáo Phụ đă dạy chúng ta rằng t́nh yêu hiểu nhiều
hơn lư trí thuần túy.
Điều cuối cùng chúng ta phải nói về quan
niệm này, như đă nói trước đây, là việc Hội Thánh như hiền thê của Đức
Kitô. Trong Thư Thứ Hai gửi tín hữu Côrinthô Thánh Phaolô so sánh cộng
đoàn Kitô hữu như một cô dâu, khi ngài viết: “V́ tôi ghen cái ghen
của Thiên Chúa cho anh em, bởi tôi đă đính hôn anh em với một người
chồng, để tôi có thể dâng anh em như một trinh nữ tinh tuyền lên Đức
Kitô”(2 Cor 11:2). Thư gửi tín hữu Ephêxô khai triển thêm về h́nh
ảnh này, Thư này nói rơ rằng Hội Thánh không phải chỉ là một vị hôn thê,
mà là Hiền Thê thật sự của Đức Kitô. Chúng ta có thể nói rằng Người
chinh phục Hội Thánh cho chính Người, và Người đă làm điều ấy bằng một
giá là chính mạng sống của Người. Như câu văn nói rằng Người đă “hiến
Ḿnh v́ Hội Thánh” (Eph 5:25).
C̣n cách nào chứng tỏ t́nh yêu tuyệt vời
hơn cách này không? Hơn nữa, Người c̣n lo lắng cho vẻ đẹp của Hội Thánh,
không những chỉ vẻ đẹp đă có được nhờ bí tích Rửa Tội, nhưng c̣n vẻ đẹp
mà Hội Thánh phải phát triển mỗi ngày nhờ một đời sống không tỳ vết, “không
vết nhăn hay không t́ ố” trong đời sống luân lư của Hội Thánh (x. Ep
5,26-27).
Từ đó bước sang kinh nghiệm của hôn nhân
Kitô giáo là một bước nhỏ; hơn nữa, chúng ta không biết rơ điểm quy
chiếu đầu tiên của tác giả là ǵ, hoặc là liên hệ giữa Đức Kitô và Hôi
Thánh, mà từ ánh sáng của sự liên hệ này đưa đến việc kết hợp giữa người
nam và người nữ; hoặc thay vào đó, từ những kinh nghiệm về sự kết hợp vợ
chồng phát sinh ra sự liên hệ giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Tuy nhiên cả
hai b́nh diện soi sáng lẫn nhau: Chúng ta học biết hôn nhân là ǵ dưới
ánh sáng của sự hiệp thông giữa Đức Kitô và Hội Thánh; và chúng ta học
biết Đức Kitô kết hiệp với chúng ta như thế nào khi nghĩ đến mầu nhiệm
hôn nhân. Dù ở trường hợp nào đi nữa th́ Thư của chúng ta hầu như nằm ở
giữa lộ tŕnh của ngôn sứ Hosea, là vị ám chỉ mối liên hệ giữa Thiên
Chúa với dân Do Ngài bằng ngôn từ của một hôn lễ đă xảy ra (Hs
2,4.16.21), và Thị Nhân của sách Khải Huyền, là người sẽ tiên đoán cuộc
gặp gỡ cánh chung giữa Hội Thánh và Chiên Con như một hôn lễ hân hoan
không hề phai nhạt (Kh 19:7-9; 21:9).
C̣n rất nhiều điều để nói, nhưng đối với
cha th́ từ những ǵ cha đă tŕnh bày, chúng ta có thể hiểu rằng hai Thư
này là một bài Giáo Lư tuyệt vời, từ đó chúng ta có thể học được không
những làm sao để là những Kitô hữu tốt, mà c̣n trở nên những con người
thật sự.
Nếu chúng ta bắt đầu hiểu rằng vũ trụ là vết chân của Đức Kitô, th́
chúng ta sẽ học biết về liên hệ đúng của chúng ta với vũ trụ, cùng tất
cả những khó khăn trong việc duy tŕ nó. Chúng ta học cách nh́n [những
khó khăn này] bằng lư trí, nhưng là lư trư được tác động bởi t́nh yêu,
cùng với ḷng khiêm nhường và ḷng kính trọng, là điều cho phép chúng ta
hành động cách công minh. Nếu chúng ta nghĩ rằng Hội Thánh là Thân Ḿnh
của Đức Kitô, và Đức Kitô đă hiến Ḿnh Người cho Hội Thánh, th́ chúng ta
sẽ học biết sống với Đức Kitô bằng t́nh yêu hỗ tương, t́nh yêu kết hiệp
chúng ta với Thiên Chúa, và làm cho chúng ta nh́n những người khác như
h́nh ảnh của Đức Kitô, như chính Đức Kitô.
Chúng ta hăy cầu xin Chúa để Người giúp
chúng ta suy niệm Thánh Kinh, là Lời của Người, một cách kỹ càng, và như
thế chúng ta thật sự học để sống tốt lành.
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
CUỘC TRỞ LẠI
CỦA THÁNH PHAOLÔ.
Dưới đây là bản
dịch bài Giáo Lư mới thứ ba của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI về Thánh
Phaolô trong buổi Triều Kiến Chung ngày 3-9-2008 tại Sảnh Đường Phaolô VI.
Hôm nay Đức Thánh Cha tiếp tục chu kỳ Giáo Lư dành cho khuôn mặt và tư
tưởng của Thánh Phaolô.
Anh chị em
thân mến:
Bài Giáo Lư
hôm nay sẽ dành để nói về kinh nghiệm mà Thánh Phaolô đă cảm nhận được
trên đường đi Đamát, mà người ta thường gọi là cuộc trở lại của ngài.
Chính trên đường đi Đamát, trong ba mươi năm đầu của kỷ nguyên thứ nhất,
và sau giai đoạn mà ngài đă khủng bố Hội Thánh, th́ giây phút quyết định
của đời Thánh Phaolô đă xảy ra. Nhiều người đă viết về giây phút ấy, và
đương nhiên là theo nhiều quan điểm khác nhau. Sự thật là có một sự thay
đổi toàn diện đă xảy ra lúc ấy, một thay đổi quan điểm hoàn toàn. Từ đó,
một cách không ngờ, ngài đă bắt đầu coi tất cả những ǵ mà trước đây là lư
tưởng cao quư nhất, hầu như là lư do sống c̣n của sự hiện hữu của ngài như
“thiệt tḥi” và “rác rưởi” (Pl
3,7-8). Điều
ǵ đă xảy ra?
Về điểm này,
chúng ta có hai nguồn tài liệu. Loại thứ nhất mà người ta biết đến nhiều
nhất, là các câu chuyện do thủ bút của Thánh Luca, là người đă kể về biến
cố này trong ba trường hợp trong sách Tông Đồ Công Vụ (X. Cv
9,1-19; 22,3-21; 26,4-23).
Có lẽ các độc giả trung b́nh sẽ bị cám dỗ ngừng lại quá lâu ở một vài chi
tiết nào đó, như ánh sáng từ trời, việc ngă xuống đất, tiếng nói gọi ngài,
t́nh trạng bị mù mới, việc chữa lành cái ǵ giống như vảy rơi khỏi mắt
ngài và ăn chay. Tuy nhiên, tất cả những chi tiết này đều chỉ về một biến
cố: là Đức Kitô Phục Sinh đă hiện ra trong một ánh sáng huy hoàng và nói
với Saolô, biến đổi tư tưởng và chính cuộc đời của ngài. Ánh sáng của Đấng
Phục Sinh đă làm cho ngài bị mù; nhưng cũng tŕnh bày ra ngoài cho chúng
ta thấy thực tại nội tâm của ngài, là sự mù quáng của ngài đối với chân
lư, với ánh sáng, là Đức Ki-tô. Và sau đó câu trả lời “xin vâng” với Đức
Kitô trong Phép Thánh Tẩy lại mở mắt ngài, và làm cho ngài thật sự nh́n
thấy.
Trong Hội
Thánh sơ khai, bí tích Thánh Tẩy cũng được gọi là “soi sáng” bởi v́ bí
tích này ban cho người ta ánh sáng, làm cho người ta thật sự nh́n thấy.
Tất cả những ǵ được ám chỉ theo thần học cũng được thể hiện cách thể lư
nơi Thánh Phaolô: Một khi bệnh mù nội tâm được chữa lành, ngài cũng được
thấy rơ ràng. V́ thế, Thánh Phaolô không được biến đổi bởi một luồng tư
tưởng, nhưng bởi một biến cố, bởi sự hiện diện không chống cự nổi của Đấng
Phục Sinh, là Đấng mà ngài không bao giờ c̣n nghi ngờ nữa, bằng chứng của
biến cố, của cuộc gặp gỡ này, thật quá mănh liệt. Cuộc gặp gỡ ấy thay đổi
cuộc đời Thánh Phaolô tận gốc. Trong tương quan này, người ta có thể và
phải nói về một cuộc hoán cải. Cuộc gặp gỡ này là trung điểm của bài tường
thuật của Thánh Luca, là người rất có thể đă dùng một câu chuyện chắc được
bắt đầu từ cộng đồng Đamát. Sắc thái địa phương gợi ra điều này qua sự
hiện diện của Khanania và tên của cả con đường cũng như người chủ của ngôi
nhà mà Thánh Phaolô đă ở (x.
Cv 9,11).
Loại nguồn tài liệu thứ
nh́ về cuộc trở lại là chính các Thư của Thánh Phaolô. Ngài đă không bao
giờ nói về biến cố này cách chi tiết; cha nghĩ rằng ngài cho rằng mọi
người đều biết những điều chính yếu của câu truyện của ngài. Tất cả đều
biết rằng từ việc là một người bắt đạo, ngài biến đổi thành một Tông Đồ
nhiệt thành của Đức Kitô. Và điều này không xảy ra sau một suy tư riêng
của ngài, nhưng từ một biến cố mănh liệt, từ một cuộc gặp gỡ với Đấng Phục
Sinh. Mặc dầu không được nói đến cách chi tiết, nhưng ngài đă nói về biến
quan trọng nhất này, đó là, ngài cũng là một chứng nhân cho sự sống lại
của Chúa Giêsu, mặc khải mà ngài đă trực tiếp nhận được từ Chính Chúa
Giê-su, cùng với sứ vụ làm Tông Đồ.
Văn từ rơ ràng nhất về
phương diện này được t́m thấy trong bài tường thuật của ngài về điều ǵ là
tâm điểm của lịch sử cứu độ: cái chết và sống lại của Chúa Giêsu và những
cuộc hiện ra với các nhân chứng (x.
1 Cr 15).
Bằng những lời của truyền thống rất cổ xưa, mà ngài cũng nhận được từ Hội
Thánh ở Giêrusalem, ngài nói rằng Chúa Giêsu đă chịu đóng đinh và chết, và
sau khi sống lại Người đă hiện ra trước hết với Kêpha, rồi với Nhóm Mười
Hai, và sau đó với 500 anh em mà đến nay vẫn c̣n sống, rồi với Thánh
Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ.
Và ngài thêm vào bài
tường thuật mà ngài nhận được từ truyền thống rằng: “Sau cùng … Người cũng
đă hiện ra với tôi” (1
Cr 15,8). Như vậy ngài xác nhận rằng đó là nền tảng của việc
tông đồ và đời sống mới của ngài. Cũng có những đoạn văn khác mà trong đó
nhắc đến cùng một điều: “Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ
Người chúng tôi nhận được ân sủng và chức vụ Tông Đồ” (x.
Rm 1,5);
Và ở chỗ khác: “Tôi đă chẳng thấy Chúa Giêsu, Chúa chúng ta sao?”
(1
Cr 9,1), những lời mà ngài dùng để ám chỉ điều mà mọi người đều
biết. Cuối cùng, chúng ta t́m thấy đoạn văn đầy đủ nhất trong Thư gửi tín
hữu Galát 1,15-17: “Nhưng khi Đấng đă để tôi riêng ra ngay từ trong ḷng
mẹ, và đă gọi tôi bằng ân sủng của Ngài, đă vui ḷng mặc khải Con của Ngài
cho tôi, ngơ hầu tôi rao giảng về Người giữa các Dân Ngoại, tôi đă
lập tức không bàn thảo với người phàm, tôi cũng không lên Giêrusalem để
gặp các vị đă là Tông Đồ trước tôi, nhưng tôi đă qua Arabia, rồi lại trở
về Đamát”. Trong bài “tự bào chữa” này ngài đă nhấn mạnh cách quả quyết
rằng ngài cũng là một nhân chứng thật của Đấng Phục Sinh, rằng ngài có một
sứ vụ nhận được trực tiếp từ Đấng Phục Sinh.
Chúng ta có thể thấy
rằng cả hai nguồn tài liệu, sách Tông Đồ Công Vụ và các Thư của Thánh
Phaolô, đều đồng quy về một điểm căn bản: Đấng Phục Sinh đă nói với Thánh
Phaolô, mời gọi ngài vào sứ vụ Tông Đồ, làm cho ngài thành một Tông Đồ
thật, một nhân chứng cho việc sống lại, với một nhiệm vụ đặc biệt là công
bố Tin Mừng cho Dân Ngoại, cho thế giới Hi La. Và, đồng thời, Thánh Phaolô
đă học rằng, mặc dù ngài có liên hệ ngay với Đấng Phục Sinh, ngài vẫn phải
hiệp thông với Hội Thánh, được rửa tội, và sống ḥa hợp với các Tông Đồ
khác. Chỉ trong sự hiệp thông với mọi người này mà ngài sẽ có thể trở
thành một Tông Đồ thật sự, như ngài đă viết rơ trong Thư thứ nhất gửi tín
hữu Côrintô: “Dù tôi hay các vị ấy, th́ chúng tôi đều rao giảng như thế,
và anh em đă tin như thế” (15,11).
Chỉ có một tuyên ngôn về Đấng Phục Sinh, bởi v́ chỉ có một Đức Kitô duy
nhất.
Như chúng ta thấy trong
những câu này, Thánh Phaolô không bao giờ cắt nghĩa giây phút ấy như một
biến cố trở lại. Tại sao? Có nhiều giả thuyết, nhưng lư do th́ thật hiển
nhiên. Sự thay đổi này của cuộc đời ngài, sự biến đổi toàn thể con người
của ngài không phải là kết quả của một tiến tŕnh tâm lư, của một sự
trưởng thành hoặc sự tiến hóa về trí tuệ và luân lư, nhưng đến từ bên
ngoài: nó không phải là kết quả của suy nghĩ mà là của việc gặp gỡ Đức
Chúa Giêsu Kitô. Theo nghĩa này th́ nó không đơn thuần là một cuộc hoán
cải, một sự trưởng thành của cái “tôi” của ngài, mà là chết và sống lại
đối với chính ngài: một đời sống của ngài đă chết đi và một đời sống mới
đă sinh ra với Đức Kitô Phục Sinh.
Không có một cách nào
khác có thể cắt nghĩa việc đổi mới này của Thánh Phaolô. Tất cả những phân
tích về tâm lư không thể làm sáng tỏ hay giải quyết được vấn đề. Chỉ có
một biến cố, cuộc gặp gỡ đầy nhiệt t́nh với Đức Kitô là ch́a khóa để hiểu
điều ǵ đă xảy ra: chết và sống lại, sự đổi mới do Đấng là người đă tỏ
ḿnh ra và nói với ngài. Chỉ trong nghĩa sâu xa hơn này mà chúng ta có thể
và phải nói về hoán cải. Cuộc gặp gỡ này là một canh tân thật sự có thể
thay đổi ngài mọi mặt. Giờ đây một người có thể nói rằng những ǵ trước
đây là thiết yếu và căn bản đối với ḿnh, bây giờ trở thành “rác rưởi” cho
ḿnh; không c̣n là “được” nữa mà là thua thiệt, bởi vỉ bây giờ chỉ có đời
sống trong Đức Kitô mới là điều đáng kể.
Tuy nhiên, chúng ta không
được nghĩ rằng Thánh Phaolô mù quáng giam ḿnh vào một biến cố. Trên thực
tế, điều trái ngược đă xảy ra, bởi v́ Đức Kitô Phục Sinh là ánh sáng của
chân lư, là ánh sáng của Chính Thiên Chúa. Điều này làm cho tâm hồn ngài
trở nên đại lượng và mở ra cho tất cả mọi người. Vào giây phút ấy, ngài đă
không mất những ǵ là chân thật và tốt lành trong cuộc đời ngài, trong di
sản của ngài, nhưng ngài đă hiểu sự khôn ngoan, chân lư, và chiều sâu của
Lề Luật và các ngôn sứ một cách mới mẻ; ngài đă chiếm hữu nó một cách mới.
Đồng thời, lư trí của ngài mở ra đối với sự khôn ngoan của Dân Ngoại. Nhờ
đă hết ḷng mở chính ḿnh ra cho Đức Kitô, ngài trở nên có khả năng tham
gia vào các cuộc đối thoại rộng răi hơn với mọi người, ngài làm cho ḿnh
trở nên mọi sự cho mọi người. Như thế ngài có thể trở thành Tông Đồ Dân
Ngoại.
Bây giờ chúng ta hăy nh́n
đến t́nh trạng của chúng ta. Điều này có ư nghĩa ǵ đối với chúng ta? Nó
có nghĩa rằng đối với chúng ta, Kitô giáo cũng không phải là một triết lư
mới hay là một luân lư mới. Chúng ta chỉ là Kitô hữu nếu chúng ta gặp
gỡ Đức Kitô. Đương nhiên là Người không tỏ Ḿnh ra cho chúng ta một
cách không thể cưỡng lại được và sáng lạng như Người đă tỏ ra cho Thánh
Phaolô để làm cho ngài thành Tông Đồ Dân Ngoại.
Tuy thế, chúng ta cũng có
thể gặp gỡ Đức Kitô trong việc đọc Thánh Kinh, trong cầu nguyện, trong đời
sống phụng vụ của Hội Thánh. Chúng ta có thể chạm đến Trái Tim Đức Kitô và
cảm thấy Người chạm đến trái tim chúng ta. Chỉ trong liên hệ cá nhân này
với Đức Kitô, chỉ trong cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, mà chúng ta mới
thật sự trở thành những Kitô hữu. Và bằng cách này, lư trí chúng ta mở ra,
toàn thể sự khôn ngoan của Đức Kitô mở ra cùng với tất cả sự sung măn và
chân lư. Cho nên, chúng ta hăy cầu xin Chúa soi sáng cho chúng ta, để
trong thế giới của chúng ta, Người sẽ ban cho chúng ta được gặp gỡ sự hiện
diện của Người, và như thế ban cho chúng ta một đức tin sống động, một tâm
hồn rộng mở, và một đức ái vĩ đại đối với mọi người, [một đức ái] có khả
năng canh tân thế giới.
Đức Thánh Cha
Bênêđíctô XVI.
Cái Chết và Gia Tài
Của Thánh Phaolô
Ngày 4 tháng Hai vừa qua, nhân ngày Giáo Hội dành riêng cho những người
sống cuộc sống tận hiến, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI có gặp mặt một nhóm
tu sĩ nam nữ tới Rôma tham dự một thánh lễ do Đức Hồng Y Franc Rodé,
tổng trưởng Thánh Bộ Các Viện Tận Hiến và Các Hội Tông Đồ, cử hành.
Trong bài nói truyện, Đức Thánh Cha lấy Thánh Phaolô làm mẫu mực cho lối
sống của họ.
Các lời khuyên của phúc âm
V́ theo Đức Thánh Cha, đời sống truyền giáo của Thánh Phaolô đă được gợi
hứng bởi ba lời khuyên của phúc âm về đức khó nghèo, đức khiết tịnh và
đức vâng lời. Thực vậy, Thánh Phaolô đă sống ba lời khấn mà mọi người
tận hiến đều đă long trọng thề hứa ngày họ công khai tận hiến cuộc sống
cho Thiên Chúa.
Đức Thánh Cha cho hay: “Trong cuộc sống khó nghèo, Thánh Phaolô thấy
việc công bố Phúc Âm bảo đảm sẽ được hoàn tất một cách hoàn toàn nhưng
không”. Ta cũng thấy rơ t́nh liên đới hết sức cụ thể của Thánh Nhân đối
với anh em túng quẫn.
Theo Đức Thánh Cha, “Tiếp nhận lời Chúa kêu gọi sống khiết tịnh, Thánh
Tông Đồ Dân Ngoại đă hiến tặng trọn vẹn trái tim của Ngài cho Chúa để có
thể phục vụ anh em ḿnh một cách tự do và đầy tận tụy hơn; đàng khác,
trong một thế giới ít người bước theo đức Khiết Tịnh Kitô Giáo, Thánh
Nhân đă cung cấp cho ta một quy chiếu đáng tin cậy về tác phong”.
C̣n về đức vâng lời, Đức Thánh Cha nói rằng: “Việc hoàn tất ư Chúa và
trách nhiệm hàng ngày của Thánh Nhân, việc chăm sóc mọi Cộng Đoàn mà
Ngài từng hiến mạng sống cho, đă lên khuôn và chiếm hữu trọn cuộc hiện
sinh của Ngài, và được Ngài dâng lên Chúa làm lễ hy sinh đẹp ḷng Người”.
Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh đến sự liên kết giữa cuộc sống tận hiến và
cuộc sống truyền giáo trong dung mạo Thánh Phaolô. “Nơi Ngài, một người
kết hợp hết sức mật thiết với bản vị Chúa Kitô, ta nhận thấy khả năng
sâu sắc biết nối kết cuộc sống thiêng liêng với hoạt động truyền giáo;
nơi Ngài, hai chiều kích ấy luôn luôn đ̣i hỏi lẫn nhau”
Gia tài thiêng liêng
Cũng trong ngày 4 tháng Hai vừa qua, trong buổi dạy giáo lư hàng tuần,
diễn ra tại Đại Sảnh Đường Phaolô VI, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI cho
hay dung mạo Thánh Phaolô hết sức căn bản đối với Giáo Hội v́ gia tài
thiêng liêng “ngoại thường” Ngài để lại qua các lá thư của ḿnh. Đây
cũng là bài sau cùng Đức Thánh Cha dành nói về Thánh Phaolô trong loạt
bài giáo ly bắt đầu từ mùa Hè năm ngoái nhân dịp khai mạc Năm Thánh kỷ
niệm 2,000 năm ngày sinh nhật của Thánh Nhân.
Đề cập tới cái chết của Thánh Tông Đồ Dân Ngoại, Đức Thánh Cha cho hay
ngày tháng về cái chết này “thay đổi theo nhiều nguồn cổ xưa; các nguồn
này đặt ngày chết của Ngài giữa cơn bách hại của chính Nêrông sau khi
ông ta cho đốt thành Rôma vào tháng Bẩy năm 64 và năm cuối cùng thời ông
trị v́ vào năm 68”.
“Chứng cớ rơ ràng đầu tiên nói về ngày sau cùng của Thánh Phaolô đến với
chúng ta từ giữa thập niên 90 của thế kỷ thứ nhất, và do đó, khoảng hơn
30 năm sau ngày Ngài qua đời. Chứng cớ này đến từ lá thư Giáo Hội Rôma,
do đức Clêmentê I cai quản, viết cho Giáo Hội Côrintô”.
Đức Thánh Cha trích dẫn thư trên như sau: “V́ ganh ghét và bất ḥa,
Thánh Phaolô buộc phải cho ta thấy làm thế nào để giật được phần thưởng
kiên nhẫn. Bị bắt bẩy lần, bị đầy biệt xứ, bị ném đá, Thánh Nhân là
người rao truyền Chúa Kitô khắp từ Đông sang Tây, và v́ đức tin của ḿnh,
Ngài đă nhận được vinh quang tinh ṛng”.
Dù thiếu chi tiết về cái chết của Thánh Phaolô, Đức Bênêđíctô XVI cho
rằng tư tưởng của Thánh Nhân đă gây ảnh hưởng xiết bao đối với nền thần
học trong suốt lịch sử của Giáo Hội, nhất là trong hai hế kỷ 19 và 20.
Đức Thánh Cha nói: “Dung mạo của Thánh Phaolô đă được khuếch đại vượt
quá cuộc sống trần gian và cái chết của Ngài; nhưng Ngài quả đă để lại
một gia tài thiêng liêng ngoại thường. Trong tư cách môn đệ đích thực
của Chúa Kitô, Ngài cũng đă trở thành một dấu chỉ của mâu thuẫn”
Tiếp tục hiện diện
Đức giáo hoàng nói tiếp: “Điều quan trọng cần xác nhận là ngay khi các
thư của Thánh Phaolô vừa được đưa vào phụng vụ, th́ cấu trúc tiên tri và
tông đồ của phúc âm liền trở thành yếu tố quyết định đối với h́nh thức
phụng vụ Lời Chúa. Như thế, nhờ sự ‘hiện diện’ này trong phụng vụ của
Giáo Hội, mà tư tưởng của vị Tông Đồ ngay lập tức trở thành của nuôi
dưỡng thiêng liêng cho tín hữu mọi thời”
Đức Thánh Cha giải thích hiện tượng các giáo phụ đầu tiên, bắt đầu từ
Origen, rồi tới Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinô, hết thẩy đă rút
tỉa ra sao từ các trước tác và nền linh đạo của Thánh Phaolô.
Đức Thánh Cha nói thêm: “Điểm chuyển thực sự đă được kiểm nghiệm trong
thế kỷ 16 với phong trào Cải Cách Thệ Phản. Giây phút quyết định trong
cuộc đời của Luthêrô là biến cố tự nhận là Turmerlebnis (1517) trong đó,
bỗng nhiên ông bắt gặp lối giải thích mới về học lư công chính hóa của
Thánh Phaolô. Một lối giải thích đă giải thoát ông khỏi những bối rối và
xao xuyến của quăng đời trước đó và đem lại cho ông niềm tin tưởng mới,
có tính triệt để vào ḷng nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng tha thứ mọi sự
cách vô điều kiện.
“Từ giây phút ấy, Luthêrô đồng hóa chủ nghĩa duy luật lệ trong Do Thái
Giáo và Kitô Giáo, từng bị Thánh Tông Đồ Dân Ngoại kết án, với trật tự
sống trong Giáo Hội Công Giáo. Và đối với ông, Giáo Hội xuất hiện như
một biểu thức nô lệ lề luật bị ông chống đối bằng nền tự do của Phúc Âm”.
Đức Bênêđíctô XVI cho rằng: “Công Đồng Triđentinô, giữa các năm 1545 và
1563, đă sâu sắc giải thích vấn nạn công chính hóa và bắt gặp trong
chính ḍng truyền thống Công Giáo một tổng hợp giữa lề luật và Phúc Âm,
phù hợp với sứ điệp của Sách Thánh đọc trong tính toàn bộ và hợp nhất
của nó”.
Khoa chú giải hiện đại
Tuy nhiên, theo Đức Bênêđíctô XVI, đến thế kỷ 19, “nhờ thu lượm được gia
tài tốt nhất của Phong Trào Ánh Sáng, ta đă được chứng kiến một sự canh
tân mới mẻ về học thuyết của Thánh Phaolô, mà giờ đây, hơn hết, đă được
nâng lên b́nh diện nghiên cứu khoa học do việc giải thích sách Thánh
theo lối phê b́nh lịch sử khai triển ra”.
Đức Giáo Hoàng nói rằng: “Ở đây, trước nhất, xin nhấn mạnh tới tư tưởng
chủ chốt của Thánh Phaolô về ư niệm tự do: trung tâm tư tưởng của Thánh
Nhân nằm ở chỗ này, như chính Luthêrô dă trực giá thấy. Nhưng nay, ư
niệm tự do này đă được tái giải thích trong ngữ cảnh chủ thuyết tự do
hiện đại”.
Theo Đức Giáo Hoàng, “Sau này, sự dị biệt hóa giữa lời công bố của Thánh
Phaolô và lời công bố của Chúa Giêsu đă được người ta nhấn mạnh đến
nhiều. Và Thánh Phaolô gần như được tŕnh bày như là nhà sáng lập mới
của Kitô Giáo… Nhưng tôi xin nói, dù không đi vào chi tiết, rằng chính
trong tính trung tâm của Kitô học và mầu nhiệm Vượt Qua, mà Nước Thiên
Chúa đă được hoàn tất, mà lời công bố đích thực của Chúa Giêsu đă trở
thành cụ thể, hiện thực, và vận hành”.
Đức Thánh Cha nói rơ hơn: “Trong bài giáo lư trước đây, chúng ta đă thấy
nét mới mẻ này của Thánh Phaolô chính là ḷng trung thành sâu sắc nhất
đối với lời giảng của Chúa Giêsu”.
Ngài c̣n cho rằng: “Trong các tiến bộ của khoa chú giải, nhất là trong
200 năm qua, các hội tụ giữa khoa chú giải Công Giáo và Thệ Phản đă gia
tăng, nhờ thế đă đem lại một sự nhất trí đáng kể đối với chính điểm từng
là nguồn gốc gây ra sự bất đồng ư kiến lớn nhất trong lịch sử. Cho nên,
đây là niềm hy vọng lớn lao đối với chính nghĩa đại kết, một chính nghĩa
hết sức chủ yếu của Công Đồng Vatican II”.
Đức Bênêđíctô XVI kết luận: “Trong thực chất, vẫn sáng ngời trước mặt ta
khuôn mặt của vị tông đồ và là nhà tư tưởng Kitô Giáo cực kỳ có hiệu quả
và sâu sắc, mà mọi người chúng ta đều được hưởng nhờ khi gần gũi với
Ngài… Hướng về Ngài, cả trong gương sáng tông đồ lẫn trong học thuyết
của Ngài, do đó sẽ là một kích thích, nếu không muốn nói là một đảm bảo,
để ta củng cố bản sắc Kitô Giáo nơi mỗi người chúng ta và để canh tân
toàn bộ Giáo Hội”.
Nguyên Văn Bài Giáo Lư
Anh chị em thân mến, loạt bài giáo lư về dung mạo Thánh Phaolô đă tới
hồi kết thúc: hôm nay chúng ta nói đến ngày cuối cùng trong cuộc sống
trần gian của Ngài. Truyền thống Kitô giáo thuở xưa đồng thanh cho rằng
cái chết của Thánh Phaolô xẩy ra như hậu quả của việc tử v́ đạo ngay tại
đây, tại Rôma này. Các trước tác của Tân Ước đă không tiếp nhận sự kiện
ấy. Sách Tông Đồ Công Vụ kết thúc tŕnh thuật của ḿnh với việc mô tả
hoàn cảnh tù nhân của Thánh Tông Đồ, lúc ấy vẫn có khả năng gặp gỡ mọi
người tới viếng thăm (xem Cv 28:30-31)
Chỉ trong Thư Thứ Hai gửi cho Timôtê, ta mới thấy những lời có tính báo
trước của chính Ngài: “C̣n tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đă đến
giờ tôi phải ra đi” (2 Tm 4:6; xem Pl 2:17).
Hai h́nh ảnh đă được dùng ở đây, một h́nh ảnh về lễ tế, mà Ngài từng
dùng trong thư gửi tín hữu Philiphê, giải thích việc tử đạo như là một
phần lễ tế của Chúa Kitô; và h́nh ảnh kia là h́nh ảnh con tầu tháo dây
cột và trương buồm ra khơi: hai h́nh ảnh này phối hợp đă kín đáo ám chỉ
đến biến cố cái chết, và là cái chết đổ máu.
Chứng cớ rơ ràng đầu tiên ám chỉ ngày sau cùng của Thánh Phaolô đến với
chúng ta từ giữa thập niên 90 của thế kỷ thứ nhất, và do đó, vào khoảng
30 năm sau ngày Ngài qua đời. Nó đến từ lá thư được Giáo Hội Rôma, mà
giám mục lúc ấy là Đức Clêmentê I, viết cho Giáo Hội Côrintô.
Trong bản văn bức thư ấy, có lời mời gọi phải để gương sáng các tông đồ
trước mặt, và sau khi nhắc đến việc tử đạo của Thánh Phêrô, bản văn viết
như sau: “Do sự ganh ghét và bất hoà, (Thánh) Phaolô buộc ḷng phải chỉ
cho chúng tôi cách làm thế nào giật được giải kiên nhẫn. Bị bắt bẩy lần,
bị đầy biệt xứ, bị ném đá, Ngài quả là người rao giảng Chúa Kitô khắp
bên Đông lẫn bên Tây, và v́ đức tin của ḿnh, Ngài đă nhận được vinh
quang tinh ṛng. Sau khi rao giảng đức công chính trên toàn thế giới, và
sau khi đặt chân tới góc biển chân trời Tây Phương, Ngài đă tiếp nhận
phúc tử đạo trước mặt các tổng trấn; như thế Ngài đă ra khỏi thế gian và
tiến vào nơi thánh thiện, và do đó đă trở thành mẫu mực vĩ đại nhất của
ḷng kiên nhẫn” (1 Clement 5,2).
Ḷng kiên nhẫn mà bức thư trên nói đến là biểu thức của việc Ngài hiệp
thông với sự thống khổ của Chúa Kitô, của ḷng quảng đại và sự tŕ chí
nhờ đó Ngài chấp nhận con đường đau khổ lâu dài, đến độ có thể nói được
rằng: “Tôi mang các dấu vết của Chúa Giêsu trong thân xác tôi” (Gl
6:17).
Trong thư của Đức Clêmentê, ta nghe rằng Thánh Phaolô đă “đặt chân tới
góc biển chân trời Tây Phương”. Người ta vẫn c̣n tranh luận không biết
điều ấy có ư nhắc tới chuyến đi Tây Ban Nha mà có thể Thánh Phaolô đă
thực hiện hay không. Không có ǵ chắc chắn về điều ấy cả, mặc dầu quả
t́nh trong thư gửi tín hữu Rôma, Thánh Nhân có tỏ ư muốn đặt chân tới
Nước này (xem Rm 15:24).
Trong thư của Đức Clêmentê, điều khá lư thú là việc để hai tên Phêrô và
Phaolô kế tiếp nhau, mặc dù trong chứng tá của Eusebius thành Xêdarê
thuộc thế kỷ thứ 4, ta sẽ thấy có sự đảo ngược lại thứ tự. Khi nhắc tới
Hoàng Đế Nêrông, vị sau viết: “Dưới triều đại ông, (Thánh) Phaolô đă bị
chém đầu ngay tại Rôma c̣n (Thánh) Phêrô th́ bị đóng đinh tại đó. Bản
tường tŕnh được xác nhận bởi các tên Phêrô và Phaolô, là hai tên vẫn
được bảo tồn tại hầm mộ của các ngài tại thành phố này” (Hist. Eccl.
2,25,5).
Sau đó, Eusebius tiếp tục thuật lại bản tuyên bố trước đó của một trưởng
giáo sĩ Rôma tên là Gaius, người có thể đă sống vào đầu thế kỷ thứ hai:
“Tôi có thể chỉ cho ngài thấy các chiến tích của các vị tông đồ: nếu
ngài tới Vatican hay Đường Ostiense, ngài sẽ thấy ở đấy các chiến tích
của các đấng sáng lập ra Hội Thánh” (sách đă dẫn 2,25, 6-7).
“Các chiến tích” nói đây chính là các đền mộ, và các đền mộ này chính là
các ngôi mộ của hai Thánh Phêrô và Phaolô mà chúng ta hiện nay đang tôn
kính, ở cùng một địa điểm đă hai ngàn năm nay: ở ngay chỗ này trong
thành Vatican đối với Thánh Phêrô, ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô
Ngoại Thành trên Đường Ostiense đối với ngôi mộ của Thánh Tông Đồ Các
Dân Ngoại.
Điều lư thú cần nhắc đến là hai vị tông đồ vĩ đại cùng được nhắc đến một
lượt. Dù không có nguồn cổ xưa nào nói đến thừa tác vụ đồng thời của hai
vị tại Rôma, nhưng ư thức liên tiếp của người Kitô hữu về việc các ngài
cùng được chôn cất tại thủ đô của đế quốc đồng thời cũng đă liên kết các
ngài vào vai tṛ sáng lập ra Giáo Hội Rôma. Thực thế, ta có thể đọc
Thánh Irênê thành Lyons, vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai, khi ngài nói
tới việc kế tục tông đồ trong các Giáo Hội riêng rẽ: “Sẽ là điều buồn tẻ
nếu phải kể ra sự kế tục của mọi Giáo Hội, nên chúng tôi chỉ xin kể ra (trường
hợp của) Giáo hội vĩ đại nhất, cổ xưa nhất và nổi tiếng nhất, tức Giáo
Hội đă được thành lập và thiết dựng tại Rôma do hai vị tông đồ hiển vinh
nhất, là Phêrô và Phaolô” (Adv. Haer. 3,3,2).
Ta hăy tạm gác qua một bên dung mạo Thánh Phêrô và chỉ tập trung vào
dung mạo Thánh Phaolô. Việc tử đạo của ngài được kể lại lần đầu tiên
trong sách Công Vụ Thánh Phaolô, được viết vào khoảng cuối thế kỷ thứ
hai. Sách này tường thuật rằng Nêrông kết án tử h́nh ngài bằng h́nh phạt
chặt đầu, được thi hành ngay lập tức (xem 9:5). Ngày tháng của việc hành
quyết này th́ thay đổi tùy theo các nguồn cổ xưa, vào khoảng giữa cuộc
bách hại Đạo của Nêrông sau khi Rôma bị thiêu rụi vào tháng Bẩy năm 64
và năm cuối triều đại ông này vào năm 68 (cf. Jerome, De Viris Ill.
5,8).
Việc tính toán trên tùy thuộc nhiều vào cách tính niên biểu ngày Thánh
Phaolô tới Rôma, một cuộc tranh luận chúng ta không thể bàn ở đây được.
Các truyền thống liên tiếp đă chỉ ra hai yếu tố khác. Một yếu tố, phần
lớn là dă sử, cho rằng việc tử đạo của ngài xẩy ra tại Acquae Salviae
trên đường Laurentina, với thủ cấp nẩy lên ba lần, mỗi lần nẩy khiến một
ḍng nước vọt lên, chính v́ thế đến ngày nay nơi ấy vẫn được gọi là "Tre
Fontane" (Ba giếng nước) (Công Vụ Phêrô và Phaolô của Pseudo Marcellus,
thế kỷ thứ năm).
Yếu tố kia, phù hợp hơn với các chứng tá cổ xưa đă nhắc đến trên đây,
của trưởng giáo sĩ Gaius, cho hay việc chôn cất ngài xẩy ra “không những
ở bên ngoài thành phố, vào khoảng dặm thứ hai trên Đường Ostiense” mà
c̣n chính xác hơn “ở trong cánh đồng Lucina”, người vốn là một mệnh phụ
Kitô hữu (Cuộc Khổ Nạn của Phaolô, do Pseudo Abdias, thế kỷ thứ sáu,
viết).
Vào thế kỷ thứ tư, hoàng đế Constantinô đă xây tại đó một ngôi nhà thờ
đầu tiên, sau đó, trong hai thế kỷ thứ tư và thứ năm, các hoàng đế
Valentinianus II, Theodosius và Arcadius đă nới rộng nhà thờ ấy rất
nhiều. Sau trận hoả hoạn năm 1800, người ta mới xây dựng ngôi Vương Cung
Thánh Đường Thánh Phaolô Ngoại Thành hiện nay.
Dù ǵ đi nữa, dung mạo Thánh Phaolô cũng đă được khuếch đại vượt quá
cuộc sống trần gian và cái chết của ngài; nhưng ngài quả t́nh đă để lại
một gia tài thiêng liêng siêu phàm. Và trong tư cách là môn đệ đích thực
của Chúa Giêsu, ngài cũng trở thành dấu chỉ của mâu thuẫn. Trong khi đối
với phái tự xưng là Ebionites, một trường phái Kitô giáo gốc Do Thái,
ngài chỉ là một tên bỏ đạo khước từ Luật Môsen, th́ trong Tông Đồ Công
Vụ, ta đă thấy một ḷng tôn kính vĩ đại dành cho Thánh Tông Đồ Phaolô
rồi.
Giờ đây, tôi xin tạm gác qua một bên các trước tác ngoại thư, như Công
Vụ Phaolô và Techla cũng như bộ sưu tầm ngoại thư các trao đổi thư từ
giữa Thánh Phaolô và nhà triết học Seneca. Điều quan trọng cần xác nhận
là ngay khi các thư của Thánh Phaolô vừa được đưa vào phụng vụ, th́ cấu
trúc tiên tri và tông đồ của phúc âm liền trở thành yếu tố quyết định
đối với h́nh thức phụng vụ Lời Chúa. Như thế, nhờ sự ‘hiện diện’ này
trong phụng vụ của Giáo Hội, mà tư tưởng của vị Tông Đồ ngay lập tức trở
thành của nuôi dưỡng thiêng liêng cho tín hữu mọi thời.
Hiển nhiên, các giáo phụ của Giáo Hội và sau đó toàn thể các thần học
gia đă rút tỉa từ các thư của Thánh Phaolô và nền linh đạo của ngài.
Trong nhiều thế kỷ, và cả ngày nay nữa, ngài vẫn là thầy dạy và tông đồ
đích thực của Dân Ngoại. Lời chú giải đầu hết của giáo phụ c̣n tồn tại
với chúng ta liên quan đến việc soạn thảo bộ Tân Ước là của nhà thần học
nổi tiếng người Alexandria là Origen. Ông chú giải Thư Thánh Phaolô viết
gửi tín hữu Rôma.
Chẳng may, bài chú giải này nay chỉ c̣n một phần. Thánh Gioan Kim Khẩu,
ngoài việc chú giải các thư của Thánh Nhân, c̣n viết bẩy bài tán tụng
nổi tiếng về ngài. Thánh Augustinô cho rằng việc ngài trở lại phần rất
lớn là do Thánh Phaolô và suốt đời ngài, ngài luôn nhắc tới Thánh Nhân.
Từ cuộc đàm thoại thường xuyên này với Thánh Tông Đồ, mà nền thần học
Công Giáo vĩ đại của ngài đă phát sinh, (vĩ đại) cả với người Thệ Phản
mọi thời nữa. Thánh Tôma Aquinô cũng để lại cho chúng ta một chú giải
rất hay về các thư của Thánh Phaolô, một chú giải tiêu biểu cho hoa trái
chín mọng nhất của nền chú giải trung cổ.
Điểm chuyển thực sự đă được kiểm nghiệm trong thế kỷ 16 với phong trào
Cải Cách Thệ Phản. Giây phút quyết định trong cuộc đời của Luthêrô là
biến cố tự nhận là Turmerlebnis (1517) trong đó, bỗng nhiên ông bắt gặp
lối giải thích mới về học lư công chính hóa của Thánh Phaolô. Một lối
giải thích đă giải thoát ông khỏi những bối rối và xao xuyến của quăng
đời trước đó và đem lại cho ông niềm tin tưởng mới, có tính triệt để vào
ḷng nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng tha thứ mọi sự cách vô điều kiện. Từ
giây phút ấy, Luthêrô đồng hóa chủ nghĩa duy luật lệ trong Do Thái Giáo
và Kitô Giáo, từng bị Thánh Tông Đồ Dân Ngoại kết án, với trật tự sống
trong Giáo Hội Công Giáo. Và đối với ông, Giáo Hội xuất hiện như một
biểu thức nô lệ lề luật bị ông chống đối bằng nền tự do của Phúc Âm.
Công Đồng Triđentinô, giữa các năm 1545 và 1563, đă sâu sắc giải thích
vấn nạn công chính hóa và bắt gặp trong chính ḍng truyền thống Công
Giáo một tổng hợp giữa lề luật và Phúc Âm, phù hợp với sứ điệp của Sách
Thánh đọc trong tính toàn bộ và hợp nhất của nó.
Đến thế kỷ 19, nhờ thu lượm được gia tài tốt nhất của Phong Trào Ánh
Sáng, ta đă được chứng kiến một sự canh tân mới mẻ về học thuyết của
Thánh Phaolô, mà giờ đây, hơn hết, đă được nâng lên b́nh diện nghiên cứu
khoa học do việc giải thích sách Thánh theo lối phê b́nh lịch sử khai
triển ra. Ở đây, ta hăy tạm gác qua một bên sự kiện này là cũng trong
thế kỷ ấy, và cả trong thế kỷ 20 nữa, đă xuất hiện việc bôi đen đúng
nghĩa đối với Thánh Phaolô. Tôi nghĩ trước hết tới Nietzsche, người đă
châm chọc nền thần học khiêm hạ của Thánh Phaolô, chống lại nền thần học
ấy bằng nền thần học của ông về con người mạnh và con người hùng. Nhưng
ta hăy tạm gác việc đó để khảo sát các luồng suy tư cốt yếu trong lối
giải thích mới mẻ đối với Thánh Kinh dựa vào khoa học, cũng như các học
lư về Thánh Phaolô trong thế kỷ ấy.
Ở đây, trước nhất, xin nhấn mạnh tới tư tưởng chủ chốt của Thánh Phaolô
về ư niệm tự do: trung tâm tư tưởng của Thánh Nhân nằm ở chỗ này, như
chính Luthêrô đă trực giá thấy. Nhưng nay, ư niệm tự do này đă được tái
giải thích trong ngữ cảnh chủ thuyết tự do hiện đại. Và sau này, sự dị
biệt hóa giữa lời công bố của Thánh Phaolô và lời công bố của Chúa Giêsu
đă được người ta nhấn mạnh đến nhiều. Và Thánh Phaolô gần như được tŕnh
bày là nhà sáng lập mới của Kitô Giáo. Nơi Thánh Phaolô, chắc chắn tính
trung tâm của Nước Chúa, một yếu tố vốn trổi vượt trong lời công bố của
Chúa Giêsu, đă được biến đổi để tở thành tính trung tâm của Kitô học, mà
điểm trổi vượt chính là mầu nhiệm Vượt Qua. Và từ mầu nhiệm Vượt Qua,
phát sinh ra các bí tích rửa tội và Thánh Thể, được coi như sự hiện diện
thường trực của mầu nhiệm này; chính từ hai bí tích ấy mà Nhiệm Thể Chúa
Kitô phát triển, và Giáo Hội được xây dựng.
Nhưng tôi xin nói, dù không đi vào chi tiết, rằng chính trong tính trung
tâm của Kitô học và mầu nhiệm Vượt Qua, mà Nước Thiên Chúa đă được hoàn
tất, mà lời công bố đích thực của Chúa Giêsu đă trở thành cụ thể, hiện
thực, và vận hành. Trong bài giáo lư trước đây, chúng ta đă thấy nét mới
mẻ này của Thánh Phaolô chính là ḷng trung thành sâu sắc nhất đối với
lời giảng của Chúa Giêsu. Trong các tiến bộ của khoa chú giải, nhất là
trong 200 năm qua, các hội tụ giữa khoa chú giải Công Giáo và Thệ Phản
đă gia tăng, nhờ thế đă đem lại một sự nhất trí đáng kể đối với chính
điểm từng là nguồn gốc gây ra sự bất đồng ư kiến lớn nhất trong lịch sử.
Cho nên, đây là niềm hy vọng lớn lao đối với chính nghĩa đại kết, một
chính nghĩa hết sức chủ yếu của Công Đồng Vatican II.
Ở cuối bài giáo lư này, tôi muốn vắn tắt nhấn mạnh tới một số phong trào
tôn giáo, xuất hiện trong thời hiện đại ngay trong ḷng Giáo Hội Công
Giáo, muốn nhắc đến Thánh Phaolô. Trong thế kỷ 16, ta thấy xuất hiện
Ḍng Linh Mục Thánh Phaolô, gọi tắt là các cha Barnabites; trong thế kỷ
19, ta có Tu Hội Truyền Giáo Thánh Phaolô Tông Đồ, gọi tắt là Các Cha
Paulist; và trong thế kỷ 20, có Gia Đ́nh Phaolô do chân phúc James
Alberione sáng lập; ấy là chưa nói tới tu hội đời Đạo Quân Thánh Phaolô
(Company of St Paul).
Trong thực chất, vẫn sáng ngời trước mặt ta khuôn mặt của vị tông đồ và
là nhà tư tưởng Kitô Giáo cực kỳ có hiệu quả và sâu sắc, mà mọi người
chúng ta đều được hưởng nhờ khi gần gũi với Ngài. Trong một bài tán tụng
của ḿnh, Thánh Gioan Kim Khẩu, khi độc đáo so sánh Thánh Phaolô với
tiên tri Giôna, đă viết như sau: Thánh Phaolô ‘không ghép ván làm tầu,
thay vào đó, thay v́ kết hợp vác phiến gỗ lại với nhau, ngài đă kết hợp
ngôn từ, và nhờ thế đă vớt khỏi nước không phải chỉ hai, ba hay năm
thành viên trong gia đ́nh ḿnh, mà là toàn bộ thế giới đang sắp chết
đuối” (Paneg. 1,5).
Thánh Phoalô vẫn c̣n làm được việc đó, và ngài sẽ luôn luôn có thể làm
được việc đó. Hướng về Ngài, cả trong gương sáng tông đồ lẫn trong học
thuyết của Ngài, do đó sẽ là một kích thích, nếu không muốn nói là một
đảm bảo, để ta củng cố bản sắc Kitô Giáo nơi mỗi người chúng ta và để
canh tân toàn bộ Giáo Hội”
Cùng
đi với Thánh Phaolô
Ngày 28 tháng Sáu vừa qua, Giáo Hội chính thức khai mạc Năm Thánh kỷ niệm
vị Tông Đồ Vĩ Đại của dân ngoại, tức Thánh Phaolô. Không phải là một năm
kỷ niệm b́nh thường mà là một Năm Thánh, cùng tầm cỡ với Năm Thánh 2000 kỷ
niệm năm bắt đầu Thiên Niên Kỷ Thứ Ba. Đây là lần đầu tiên, Giáo Hội dành
trọn một Năm Thánh cho một vị thánh đặc thù. Sự kiện có một không hai này
đủ cho thấy tầm quan trọng của vị Thánh mà cho đến nay, người ta vẫn chưa
nắm hết được mọi khía cạnh linh hứng từ con người và trước tác của Ngài.
Khi khai mạc Năm Thánh Thánh Phaolô, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI khuyên
ta hăy bắt chước Thánh Phaolô. Điều đặc biệt, chính Thánh Nhân cũng khuyên
ta như vậy. Dường như trong lịch sử các thánh từ xưa đến nay, chưa có vị
thánh nào khuyên như thế, ngoại trừ Thánh Phaolô. Mà không phải Ngài chỉ
khuyên ta có một lần mà thôi. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, Ngài
khuyên, đúng ra là năn nỉ, ta đến hai lần: “Hăy bắt chước tôi, như tôi đă
bắt chước Chúa Kitô” (1 Cor 11:1; 4:16. Xin cũng xem 2 Tx 3:7, 9; Dt
13:7).
Điều ấy cho thấy cũng như trong sáng thế, vinh quang Chúa được phản ảnh
nhiều cách. Có những vị thánh phản ảnh một khía cạnh nào đó, được một số
người nhận dạng với. Nhưng cũng có những vị thánh phản ảnh nhiều khía cạnh
hơn, và do đó được nhiều người nhận dạng hơn. Hans Urs von Balthasar gọi
những vị thánh ấy là “thánh phổ quát”. Và ngài liệt kê các đấng này vào
“Cḥm Sao Kitô Học” (Christological Constellation) (xem
The Office of Peter and the Structure of the Church). Thực ra, nếu các
thánh đều là các v́ sao trên trời, th́ “các thánh phổ quát” phải là những
hành tinh chói sáng xoay rất gần quanh Mặt Trời Chúa Con (trong tiếng Anh,
Son đọc như Sun). Thánh Gioan Baotixita, Thánh Phêrô, Thánh Gioan Tông Đồ
và dĩ nhiên Thánh Phaolô hẳn phải là những vị ấy. Bước chân theo các ngài,
quả là những bước đi vững chắc dẫn ta tới Chúa Con.
Ta sẽ cùng bước với Thánh Phaolô bẩy bước để gặp gỡ Chúa Kitô.
1) Lớn lên trong t́nh yêu. Bước này nghe ra có vẻ đơn giản, nhưng nó là
một trong các đặc điểm không thể nào miễn chước được của cuộc sống Kitô
hữu. Đúng hơn, nó là lối sống trọn vẹn hiến thân mà Chúa Kitô đă nêu gương
cho chúng ta bằng cái chết trên Thánh Giá. Nó cũng là trọng tâm của Thông
Điệp đầu hết của Đức Bênêđíctô XV “Deus Caritas Est” (Thiên Chúa Là T́nh
Yêu) và là sợi chỉ hồng xuyên suốt mọi lá thư của Thánh Phaolô. Ta hăy xem
một số điển h́nh:
“T́nh yêu phải chân thực” (Rom. 12:9)
“Hăy biến t́nh yêu thành mục tiêu của anh em” (1 Cor. 14:1)
“T́nh yêu Chúa Kitô kiểm soát chúng ta” (2 Cor. 5:14)
“Hoa trái Chúa Thánh Thần là t́nh yêu…” (Gal. 5:22)
“Hăy bước đi trong t́nh yêu” (Eph. 5:2)
“[Có] cùng một t́nh yêu, hoàn toàn ḥa hợp và một tâm một trí” (Phil 2:2)
“Trên hết mọi sự ấy, hăy mặc lấy t́nh yêu, là thứ sẽ nối kết mọi sự với
nhau” (Col 3:14)
“Xin Chúa làm anh chị em gia tăng và phong phú trong t́nh yêu” (1 Thess.
3:12)
“Xin Chúa hướng dẫn tâm hồn anh em yêu mến Chúa” (2 Thess. 3:5)
“Mục tiêu lời truyền của chúng ta là đức mến phát xuất từ tâm hồn trong
sạch” (1 Tim. 1:5)
“V́ Thiên Chúa không ban cho ta một tinh thần nhút nhát mà là một tinh
thần mạnh mẽ và đầy yêu thương” (2 Tim 1:7)
“Hăy chào hỏi những người yêu thương chúng ta trong đức tin” (Titus 3:15)
“Tôi từng nhận được nhiều hân hoan và phấn khởi nhờ t́nh yêu thương của
anh chị em” (Phil. 7)
“Ta hăy xem sét cách làm sao khích lệ lẫn nhau để yêu thương và làm các
việc tốt” (Heb 10:24).
Thánh Phaolô diện đối diện với T́nh Yêu trên đường đi Đamát và sẽ không
bao giờ c̣n như trước nữa. Trong cuốn “Ca tụng Thánh Phaolô” của ḿnh,
Thánh Chrysostom viết như sau: “Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với
ngài là ngài biết Chúa Kitô yêu ngài”. Có lẽ Đức Bênêđíctô XVI có đọc qua
câu vừa trích, cho nên trong bài giảng ngày 28 tháng Sáu, ngài nói: “Điều
thúc đẩy ngài [Thánh Phaolô] cách sâu xa hơn cả chính là sự kiện được Chúa
Giêsu Kitô yêu thương và ư muốn được thông truyền t́nh yêu ấy cho người
khác. Thánh Phaolô là người có khả năng yêu thương, và mọi lao nhọc và đau
khổ của ngài chỉ có thể giải thích nhờ cái cốt lơi đó”.
Một trong phương thế đo lường mức tăng trưởng t́nh yêu của ta là dùng
chương 13 của thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô để “xét ḿnh” hàng tuần. Ai
cũng biết rơ chương này “t́nh yêu th́ nhẫn nhục và hiền hậu; t́nh yêu
không ghen tương hay khoác lác”… Điều cơ bản là thay chữ “t́nh yêu” ở mỗi
mệnh đề bằng chính tên của bạn. Thí dụ “Tâm không tự đắc hay làm điều bất
chánh; Loan không t́m điều tư lợi; Bỉnh không nóng giận hay nuôi hận thù”
(1Cor 13:5). Điều ấy có thể làm bạn buồn cười lúc đầu, nhưng nếu ta thật
t́nh muốn biến “t́nh yêu thành mục tiêu” trong Năm Thánh kính Thánh Phaolô,
việc ấy sẽ là chất xúc tác dẫn tới xoay chiều, hồi tâm, trở lại. Thánh
Phaolô từng cầu nguyện cho giáo hội ở Êphêsô để Chúa Kitô ngự trong tâm
hồn họ bằng đức tin và họ được bén rễ và đặt cơ sở trên t́nh yêu (Eph
3:17). Chúng tôi nghĩ Ngài không bao giờ lại hết cầu xin như thế cho Giáo
hội và mọi người chúng ta ngày nay, nhất là trong Năm Thánh kỷ niệm Ngài.
2) Gia tăng biên tế tiên tri. Nhiều người chỉ hiểu tiên tri theo nghĩa
tiên đoán tương lai. Dù nghĩa này không hẳn sai, nhưng Thánh Phaolô, qua
lời nói và việc làm, sẽ giúp ta hiểu tiên tri có nghĩa ǵ đối với Giáo Hội.
Các suy nghĩ của Đức Bênêđíctô XVI về Thánh Phaolô cũng sẽ giúp ta hiểu rơ
hơn.
Nguyên ngữ Hi-bá-lai nabi, chỉ tiên tri, có nghĩa “người được kêu gọi để
lên tiếng”. Ta lên tiếng ra sao trong Giáo Hội? Theo Huấn Quyền, mọi tín
hữu đă rửa tội đều được kêu gọi tham dự thừa tác vụ tiên tri của chính
Chúa Giêsu (Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo các số 783-785). Ở tâm
điểm chức vụ tiên tri Kitô giáo là việc làm chứng nhân cho Chúa Kitô giữa
thế gian. Thánh Phaolô làm gương cho ta trong vai tṛ chứng nhân hết sức
can đảm của Ngài cho Chúa Kitô, bất chấp bách hại đau đớn không tài nào
tưởng tượng nổi. Ngài nêu gương một chứng nhân triệt để, một ḷng can đảm
đầy tính tiên tri mà thế giới ngày nay hết sức cần tới. Về gương sáng đó,
Đức Bênêđíctô nói rằng: “Anh chị em thân mến, cũng như trước đây, cả ngày
nay nữa, Chúa Kitô đang cần những tông đồ sẵn sàng biết hy sinh bản thân
ḿnh. Ngài cần các chứng nhân và tử đạo như Thánh Phaolô. Thánh Phaolô,
trước đó vốn là một người bách hại Kitô hữu một cách cuồng bạo, nhưng khi
ngă xuống đất và bị choáng ngợp bởi ánh sáng thiên giới trên đường tới
Đamát, đă không ngần ngại đứng về phía Đấng Chịu Đóng Đinh và bước theo
Người không một chút suy tính. Ngài sống và làm việc cho Chúa Kitô, Ngài
chịu đau khổ và chết v́ Người. Gương sáng của Ngài c̣n hợp thời xiết bao!”.
Bởi thế, để “gia tăng biên tế tiên tri”, việc đầu tiên phải làm là xin ơn
thánh để ta trở thành chứng nhân can đảm trong nền văn hóa và phát ngôn
công cộng. Ta phải trở thành quán quân của nền văn minh t́nh yêu trong nền
văn hóa sự chết.
Cách thứ hai để “gia tăng biên tế tiên tri” trong Năm Thánh kính Thánh
Phaolô là thực hành khía cạnh thứ hai của thừa tác vụ tiên tri. Thánh
Phaolô cho ta biết khía cạnh thứ hai này trong thư thứ nhất gửi tín hữu
Côrintô của Ngài. Chương 13 thư ấy có lẽ là suy nghĩ mạnh mẽ và đáng nhớ
nhất trong các thư của Thánh Phaolô. Đó là chương của Ngài nói về t́nh yêu,
ơn phúc trổi vượt nhất của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên ít ai biết điều
Thánh Nhân khuyên ta như ơn phúc thứ hai quan trọng nhất đến độ ta phải
“hết sức khát khao” (1 Cor 14:1). Đó chính là ơn làm tiên tri. Đối với
Thánh Phaolô, vai tṛ tiên tri trong Giáo Hội có khác với điều ta tưởng
tượng. Theo Ngài, chúng ta thi hành vai tṛ tiên tri, khi ta nói với Giáo
Hội để “xây dựng, khích lệ và an ủi” Giáo Hội (1 Cor 14:3). Tiên tri như
thế là tiên tri của ḷng hy vọng (chủ đề Thông Điệp khác của Đức Bênêđíctô
XVI). Bởi thế, phần đầu của ơn gọi tiên tri là can đảm làm chứng nhân cho
Chúa Kitô trước mặt thế gian, phần hai là đem Chúa Kitô đến với Hiền Thê
của Người bằng lời nói và việc làm luôn xây dựng, khích lệ và an ủi. Ba
đặc tính đó nằm ngay trung tâm các thư biến cải của Thánh Phaolô gửi cho
các cộng đoàn Kitô giáo non trẻ thời Ngài. Dù Ngài có thách thức hay trách
cứ họ đi chăng nữa, nhưng nhiệm vụ hàng đầu của Ngài vẫn chỉ là xây dựng,
khích lệ và an ủi. Thực vậy, thư thứ nhất của Ngài gửi tín hữu Côrintô
khuyên họ không nên “phổng mũi” kiêu hănh mà đúng ra phải “xây dựng” lẫn
nhau bằng hành vi yêu thương và tự hiến. Trong các câu đầu của thư thứ hai
gửi tín hữu Côrintô, Ngài sẽ tiếp tục nhắc họ nhớ rằng an ủi là trách vụ
hỗ tương của họ. Khi một cộng đoàn đặc thù nào đó sống thực ơn gọi tiên
tri này, họ đều được Ngài ngợi khen và khích lệ. Ngài viết cho người
Thê-xa-lô-ni-ca: “Cho nên hăy khích lệ nhau và xây dựng lẫn nhau, như anh
chị em đang làm” (1 Thess. 5:11).
Các nguyên tắc tiên tri ấy (Làm nhân chứng giữa trần gian và làm nguồn an
ủi cho nhau) là hai lời mời quan trọng gửi tới chúng ta trong thời đại này.
Hơn lúc nào khác, chúng ta đang cần các nhân chứng can đảm và các chi thể
biết xây dựng. Hăy tưởng tượng xem trong một thế hệ thôi, thế giới sẽ biến
đổi ra sao nếu tất cả chúng ta đều hoàn thành được sứ mệnh tiên tri làm
chứng nhân can đảm truớc mặt thế gian. Hăy tưởng tượng xem Giáo Hội sẽ
mạnh mẽ và hiệp nhất xiết bao nếu mọi chi thể biết bỏ qua một bên các nghị
tŕnh, các tư thế và chỉ trích cá nhân và thay vào đó thực thi ơn gọi làm
tiên tri hy vọng. Thánh Phaolô viết rất hay trong thư gửi tín hữu Êphêsô:
“Đừng để những lời độc ác thoát ra từ cửa miệng anh chị em, nhưng chỉ là
các lời tốt đẹp để xây dựng, hợp lúc, để chúng đem lại ơn thánh cho người
nghe” (Eph 4:29).
3) Viết thư. Bước thứ ba để theo chân Thánh Phaolô trong Năm Thánh của
Ngài xem ra có vẻ thường quá, nhưng thật sự lại là một thực hành khá mạnh
mẽ, đó là việc viết thư. Khoảng một phần ba Tân Ước là các thư của Thánh
Phaolô và một vài vị khác. Các thư này đă đem lại những tác động như thế
nào, ai trong chúng ta cũng đă biết.
Trong thời đại của “nhắn tin” (text messages), của “nhắn tiếng”
(voice-mails) và điện thư (e-mails) này, quả là vui khi nhận được một lá
thư viết tay có dán tem do người ta yêu gửi tới. Thành thử năm nay quả là
lúc thuận tiện để tái lập nghệ thuật viết thư xem ra đang mai một đi. Thực
vậy, viết thư là bước tuyệt hảo để bổ túc cho hai bước đầu tiên trong việc
theo chân Thánh Phaolô. Bởi nó là phương tiện tuyệt hảo để biểu lộ t́nh
yêu và trở thành “tiên tri” bằng cách làm chứng cho Chúa Kitô và khích lệ
lẫn nhau. Việc thực hành này cũng là cách rất hay để hiến ḿnh cho người
khác (vốn là cách tuyệt hảo để bước chân theo Thánh Phaolô).
Trước nhất, bạn có thể viết thư cho những người lớn tuổi hơn bạn. Hăy viết
những bức thư có suy nghĩ, duyên dáng cho cha mẹ hay một vị d́u dắt nào đó
vốn có ảnh hưởng lớn trong đời bạn. Có lẽ chưa bao giờ bạn có th́ giờ để
nói với họ bằng lời về tầm quan trọng của các ngài đối với bạn. Hăy cố
gắng t́m một câu Sách Thánh có thể nói lên các ư nghĩ của bạn và miêu tả
được các đặc điểm của các ngài. Có thể bạn cần làm ḥa với vị nào đó, th́
một lá thư viết tay có thể mở được cánh cửa tha thứ. C̣n nếu vị đó làm bạn
phật ḷng, th́ đi bước đầu có thể sẽ khởi diễn được tiến tŕnh hàn gắn.
Thứ hai, hăy nghĩ đến việc viết một lá thư cho người trẻ hơn bạn, người mà
bạn có thể d́u dắt về phương diện tâm linh. Hăy nghĩ tới các bài học sống
nào đó bạn từng học được và nghĩ ra cách hay nhất để có thể thông truyền
một cách đơn sơ và rơ ràng các bài học đó đến với họ. Trong một thế giới
đang mất đi các nhà d́u dắt (mentors), th́ lá thư này sẽ là món quà vô giá
đối với một người trẻ (con hay cháu bạn).
Thứ ba, hăy viết thư cho người cùng trang lứa với bạn. Thánh Phaolô là vị
Tông Đồ vĩ đại, một phần, v́ người cùng trang lứa với Ngài là Banaba đă
dám ‘cả gan’ mà ủng hộ người tín hữu mới này của Chúa Kitô. Hăy nghĩ đến
việc viết một lá thư cho một người bạn cho họ hay họ quan trọng với bạn ra
sao. Dĩ nhiên, bạn cũng nên gồm trong đó một câu Sách Thánh nào đó xem ra
thích hợp. Và không chỉ câu Sách Thánh mà thôi, nhưng c̣n một vài suy nghĩ
của bạn về họ nữa. Nói cách khác, hăy chia sẻ hoa trái cuộc sống cầu
nguyện hay Đọc Lời Chúa (Lectio Divina) của bạn với họ.
Nếu bạn có con hay có cháu, th́ lại càng cần phải là quán quân đối với
nghệ thuật viết thư nay đang mất dần đi này. Hăy thường xuyên viết cho
chúng và khi chúng ở với bạn, bạn hăy giúp chúng soạn một bức thư gửi cho
người chúng yêu thương. Rất có thể đấy là thói quen quan trọng nhất bạn
truyền cho chúng.
Cuối cùng, điều quan trọng là phải chứng tỏ sự thật trong ngôn từ của ta
bằng các hành động cụ thể. Hăy tưởng tượng cảnh một ông chồng phản bội
công khai viết thư ‘t́nh’ cho vợ. Điều ấy chỉ mang lại đau đớn chứ không
giúp được ǵ, v́ hành động của ông ta không đi đôi với các lời phát biểu
trong thư. Dĩ nhiên, đây chỉ là một thí dụ quá đáng, tuy nhiên, chắc bạn
nhận ra ư nghĩa của nó. Cuộc sống ta phải là các bức thư sống động của yêu
thương luôn đi đôi với lời viết tay. Thánh Phaolô nói rất hay về điểm này
với tín hữu Côrintô. Khi người khác đặt nghi vấn về “tư cách” của Ngài,
Ngài lấy đoàn chiên của ḿnh ra làm chứng minh chắc chắn nhất cho sự chân
chính của ḿnh. Cuộc sống của họ đă trở nên những lá thư sống động minh
chứng rằng Thánh Phaolô quả đă truyền thông được Chúa Kitô cho họ qua lời
nói và việc làm. Ngài hân hoan công bố: “Thư giới thiệu chúng tôi là chính
anh em. Thư ấy viết trong tâm hồn chúng tôi, mọi người đều biết và đọc. Rơ
ràng anh em là bức thư của Đức Kitô được giao cho chúng tôi chăm sóc,
không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống,
không phải ghi trên “những tấm bia bằng đá”, nhưng trên những tấm bia bằng
thịt, tức là ḷng người” (2Cor 3:2-3).
4) Chấp nhận sức mạnh cứu rỗi của đau khổ. Ư niệm cho rằng các đau khổ của
ta có thể kết hợp với các đau khổ của Chúa Kitô và gây hiệu quả cứu chuộc
trong thế gian, là ư niệm được các trước tác của Thánh Phaolô nhắc đến đầu
tiên. Đây quả là một ư niệm cách mạng: đau khổ không phải là điều ta phải
tránh bằng mọi giá, nhưng đúng hơn nó chứa đầy ư nghĩa và c̣n đem lại cả
sức sống nữa.
Trong thư gửi tín hữu Côlôxê, Thánh Phaolô viết về giáo huấn ấy một cách
đơn giản rằng: “Tôi vui mừng v́ các đau khổ tôi chịu v́ anh em, và bằng
thân xác tôi, tôi hoàn tất điều c̣n thiếu trong nỗi thống khổ mà Chúa Kitô
phải chịu v́ nhiệm thể Người, tức Giáo Hội” (Cl 1:24). Thánh Phaolô không
tuyên bố rằng ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu không đầy đủ nhưng cho thấy một
điều hết sức đẹp. Qua việc Nhập Thể của Người, Chúa Giêsu Kitô đă mở ra
một khả thể ‘làm ăn hùn hạp’ (partnership) với chúng ta. Người muốn những
ai thụ hưởng công tŕnh cứu rỗi của Người dự phần vào đó.
Ta hăy dùng cuộc đời và các lá thư của Ngài để nh́n kỹ hơn cái ơn phúc
huyền nhiệm này. Đau khổ có liên hệ với ơn gọi của Thánh Phaolô ngay từ
đầu. Sau khi thuật lại cuộc gặp gỡ làm Ngài mù mắt trên đường tới Đamát,
Thánh Luca nói với ta rằng Chúa Giêsu hiện ra với người môn đệ trung thành
tên là Ananias để thông báo cho ông một tin tức ít ai tin được: ông có
nhiệm vụ đi t́m Saulô, kẻ bách hại Kitô hữu, và chữa lành cho ông ta. Thấy
Ananias ngần ngại, Chúa Giêsu cho ông hay: “Con phải đi, v́ người này là
dụng cụ đă được chọn để đem tên Ta tới Dân Ngoại, vua chúa và con cái
Israel; v́ Ta sẽ chỉ cho người này biết phải đau khổ ra sao v́ danh Ta” (Cv
9:15-16). Ít người trong chúng ta có được ơn trở lại đầy cảm kích như
Thánh Phaolô, nhưng tất cả chúng ta đều chia sẻ sứ mệnh của Ngài. Tất cả
chúng ta đều được mời gọi làm nhân chứng cho Chúa trước mặt mọi dân nước (hăy
nhớ lại việc gia tăng biên tế ‘tiên tri’), và tất cả chúng ta đều được mời
gọi chia sẽ Thánh Giá.
Không những việc kếp hợp với Thánh Giá Chúa Kitô nằm ngay trung tâm sứ
mệnh của Thánh Phaolô, nó c̣n là yếu tính sứ điệp của ngài. Tuy là một
trong những người có học nhất thời ngài, nhưng thánh nhân vẫn nói với tín
hữu Côrintô rằng: “Hồi c̣n ở giữa anh em, tôi đă không muốn biết chuyện ǵ
khác ngoài Chúa Giêsu Kitô mà là Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh” (1 Cor
2:2).
Việc Thánh Phaolô chấp nhận Thánh Giá sẽ c̣n vượt quá bên kia sứ mệnh và
sứ điệp của ngài mà đụng tới chính sự sống của ngài nữa. Như các tiên tri
ngày xưa, ngài sẽ nhập thân sứ điệp của ngài vào chính bản thân ḿnh. “Tôi
từng chịu đóng đinh với Chúa Kitô; không c̣n là tôi sống nữa, mà là Chúa
Kitô sống trong tôi; và sự sống tôi đang sống bây giờ trong xác thịt tôi,
tôi sống bằng đức tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đă thương yêu tôi và hiến
ḿnh v́ tôi” (Gl 2:20). Thánh Paholô coi các đau khổ của ngài như một đáp
trả đối với Chúa kitô, Đấng đă yêu thương ngài và hiến thân cho ngài trên
Thánh Giá. Đền đáp t́nh yêu ấy bằng một hiến thân tương tự đă trở thành
mục tiêu của Thánh Phaolô. Chính trong hành vi đau khổ, ngài yêu thương
lại Chúa Kitô và kết hợp mật thiết hơn với Chúa Kitô, “để tôi có thể biết
Người và sức mạnh phục sinh của Người, và chia sẻ được các đau khổ của
Người” (Pl 3:10). Rơ ràng là Thánh Phaolô chịu nhiều đau khổ v́ Thánh Giá,
nhưng ngài được nâng đỡ nhờ điều đang chờ ngài ở cuối đường, “Chúng ta là…người
đồng thừa tự với Chúa Kitô, nhờ chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng
được hưởng vinh quang với Người. Tôi nghĩ rằng các đau khổ ở đời này chẳng
đáng chi sánh với vinh quang sắp được mạc khải cho ta” (Rm 8:17-18). Chính
niềm hy vọng Phục Sinh đă đem lại bối cảnh rộng lớn hơn cho nỗi đau khổ
của Người và của cả chúng ta nữa. Đó chính là điều đă nâng đỡ Chúa Kitô
trên Thánh Giá. Hăy nghe thư Do Thái 12:2: “Chúa Giêsu là Đấng khai mở và
kiện toàn đức tin của ta, Đấng đă khước từ niềm vui dành cho ḿnh, mà cam
chịu khổ h́nh thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai
Thiên Chúa”. Không có nhân đức hy vọng, đau khổ măi măi vẫn chỉ là một mầu
nhiệm không thể hiểu thấu. Hy vọng phải được kết hợp với đau khổ và cứu
rỗi của ta. “Chúng ta được cứu rỗi nhờ đức cậy” (Rm 8:24) chính là ḍng mở
đầu thông điệp mới đây của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI. Ta phải mang lấy
nhân đức này cách đặc biệt trong Năm Thánh mừng Thánh Phaolô, nhất là v́
ta muốn đi sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa Giêsu cứu chuộc và các đau khổ bản
thân của ta.
Ta cũng nên đọc thông điệp “Spe Salvi” trong Năm Thánh này để bồi đắp nhân
đức trông cậy ngơ hầu có thể đứng vững trong những lúc gặp khó khăn, đau
đớn hay đau khổ lớn lao và kết hợp các giờ phút ấy cách hoàn toàn hơn với
Chúa Giêsu để cứu vớt thế gian.
5. Tái dấn thân phục vụ người nghèo. Song song với việc rao giảng Phúc Âm,
Thánh Phaolô cũng coi việc quyên góp của bố thí cho người nghèo, nhất là
những người nghèo tại Giêrusalem, như một sứ mệnh của ḿnh. Cũng như Chúa
Kitô, Ngài muốn nuôi sống người ta cả phần hồn lẫn phần xác. Dù sao, thói
quen gửi của bố thí qua Giêrusalem (Rm 15:26) đă kéo dài măi đến ngày nay.
Hàng năm các nhà thờ khắp thế giới Công Giáo vẫn có buổi lạc quyên đặc
biệt cho giáo hội tại Giêrusalem. Thượng Phụ Giêrusalem đánh giá cao sự
giúp đỡ này để duy tŕ sự hiện hữu của Kitô giáo tại đó, bất chấp các khó
khăn chồng chất hiện nay. Năm Thánh mừng Thánh Phaolô này hẳn phải là lư
do đặc biệt để ta gia tăng sự đóng góp đó cho anh em Kitô hữu tại Đất
Thánh.
Khi ta giúp đỡ người nghèo, ta chứng tỏ ḷng mến Chúa Kitô. Ta nói lên
ḷng mến đó một phần bằng cách bắt chước Người. Thừa tác vụ của Người được
đánh dấu bằng t́nh thương đặc biệt đối với người bé nhỏ và người nghèo khó,
và Thánh Giá của Người cho thấy Người sẵn sàng thực hiện sự hy sinh tối
hậu cho người nghèo về phương diện thiêng liêng. Cho thêm hơn một chút
trong năm nay, giữa thời buổi kinh tế khó khăn này, có thể là một hy sinh
đấy, nhưng đó là một hy sinh ta sẽ được trả gấp trăm đời sau.
Thánh Phaolô dành hai chương trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô để nói
về các nguyên tắc của việc cho. Ta hăy dành ít phút để cùng đọc hai chương
tám và chín của thư ấy. Hăy xin Chúa biến ta thành “người cho một cách vui
vẻ” trong Năm Thánh này. Ta hăy cầu xin Chúa ban cho ta cặp mắt để nh́n ra
người nghèo ở quanh ta và cặp tai để nghe thấy tiếng kêu cứu của họ.
Khi nói đến người nghèo, không phải ta chỉ muốn nói đến người nghèo thể lư.
Bên cạnh “Thương Xác Bẩy Mối” ta cũng có “Thương Linh Hồn Bẩy Mối” nữa.
Dạy giáo lư cho các đối tượng khác nhau chắc chắn sẽ có nhiều ư nghĩa đặc
biệt trong Năm Thánh này.
Sau cùng, tưởng cũng nên nhắc đến một số đoạn chủ yếu trong Sách Giáo Lư
Của Giáo Hội Công Giáo nói đến mối tương quan của Kitô hữu đối với người
nghèo. Khi đọc những đoạn đó, ta hăy cố gắng lên khuôn một vài mục tiêu cụ
thể đem lợi ích lại cho người nghèo trong Năm Thánh này. Trong các đoạn
này, ta sẽ thấy ra động lực tham gia các công việc thế tục, mối liên hệ
của người nghèo với Phép Thánh Thể, sự khôn ngoan giúp ta sống Ngày Của
Chúa ra sao, người nghèo và Giáo Hội tại gia, sự hiện diện của Chúa Kitô
nơi người nghèo, phục vụ người nghèo như một tham dự vào chức vụ Vương Giả
của Chúa Kitô…(các số 2443-2449; 1397; 1939-1942; 2186; 2208; 1373, 786).
6. Sống với thái độ tạ ơn. Thánh Phaolô là người được đào tạo trong Cựu
Ước vốn thấm nhiễm tinh thần tạ ơn. Tạ ơn là một đáp trả hiệp đoàn trước
sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đền Thờ Salômôn (2Sb 7:3) và là lệnh
chiến đấu của các thầy Lêvi, những người đi trước dẫn dân Do Thái lâm trận
(2Sb 7:6). Ngoài việc đứng hàng đầu trong việc thờ phuợng tại đến thờ và
chiến trận ra, tạ ơn cũng là lời cầu nguyện liên tục của thánh vịnh gia
(7:17; 9:1; 28:7; 30:12; 54:6; 86:12; 109:30; 118:28…)
Thánh Phaolô cho rằng “tạ ơn” là một trong hai điều nhân loại tội lỗi đă
từ chối không chịu dành cho Thiên Chúa (Rm 1:21). Đây là vấn đề công bằng
(dành cho Chúa điều Chúa có quyền được hưởng), và là điều chủ yếu để nhân
loại chúng ta nói lên lời tạ ơn và ca tụng Thiên Chúa. Khi ta không làm
việc đó, tâm trí ta bèn trở nên tối tăm. Ta bắt đầu đánh mất nhân tính của
ḿnh và hành động như thú vật.
Khi thực sự hiểu được ơn phúc của Thiên Chúa nơi Chúa Kitô, th́ đáp trả
duy nhất ta có thể làm được phải là liên tục tạ ơn. Thánh Phaolô nắm rất
vững chân lư này, và đời sống Ngài được đánh dấu bằng tinh thần tạ ơn.
Không những Ngài truyền cho Kitô hữu phải tạ ơn (Cl 1:12; 3:17; 1Tx 5:18)
mà Ngài c̣n nêu gương việc đó trong đời sống và các thư từ của Ngài. Thực
vậy, một trong những phần chủ yếu trong các lá thư của Thánh Phaolô đă
được dùng để Ngài dâng lời cám ơn cả Thiên Chúa lẫn các tín hữu đồng đạo
của ḿnh (Rm 6:17; 7:25; 1Cor 1:4; 15:57; 2Cor 2:14; 9:15; 1Tx 1:3; 2Tx
2:13).
Trong Năm Thánh mừng Thánh Phaolô này, ta hăy đặc biệt cố gắng, cả bằng
lời nói lẫn việc làm, trở thành người biết tạ ơn. Ngay khi mới thức dậy,
lời đầu tiên ngỏ với Chúa phải là “con tạ ơn Chúa”. Cũng thế, lời cuối
cùng khi vào giường ngủ cũng phải là “con tạ ơn Chúa”. Khởi đầu và kết
thúc một ngày với lời tạ ơn như thế sẽ tạo ảnh hưởng đối với mọi thời khắc
khác của một ngày sống, nhờ thế ta có thể dâng lên Chúa trọn ngày sống của
ta như “của lễ tạ ơn”.
Sống cuộc sống tạ ơn cũng liên hệ với phụng vụ. Đàng sau từ ngữ tiếng Hy
Lạp chỉ “tạ ơn” có một điều ǵ đó c̣n sâu sắc hơn là việc biết ơn đơn giản.
V́ gốc Hy Lạp của chữ tạ ơn chính là eucharistia (Phép Thánh Thể, Phụng Vụ
Thánh Thể). Thánh Giá đă trở thành của lễ tạ ơn tối hậu dâng lên Chúa Cha
trong Chúa Thánh Thần, được ta cử hành mỗi lần tụ họp dâng Thánh Lễ. Cho
nên, một trong những cách sống cuộc sống tạ ơn sâu xa là năng tham dự tích
cực hơn vào phụng vụ. Trong phụng vụ ấy, ta dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha,
cùng với lời tạ ơn v́ các công tŕnh của Người. Hành vi yêu thương trên
Thánh Giá làm tâm hồn Kitô hữu chúng ta vừa khiêm nhu vừa bạo dạn. Nó mời
ta đáp trả yêu thương tương ứng v́ “Người đă yêu ta trước” (1Ga 4:19). Ta
trở thành dân thánh thể khi ta dâng ḿnh cho Chúa như của lễ “tạ ơn” nhờ
của lễ tạ ơn của Con Một Người.
7. Bền đỗ đến cùng. Thánh Phaolô dĩ nhiên là gương mẫu của ta về ḷng bền
đỗ đến cùng. Về cuối đời, Ngài suy nghĩ về chính cái chết của ḿnh trong
thư thứ hai gửi Timôtê. Những lời cuối cùng của một người sắp chết đáng ta
chú ư cẩn thận, và các nhân vật thánh kinh thường để lại những lời sau hết
rất quan trọng.Giacóp từng làm như thế (các chương sau hết của Sáng Thế),
Môsen cũng vậy (cuối sách Đệ Nhị Luật), Thánh Phêrô trong các thư của Ngài
(nhất là thư thứ 2) và chính Chúa Giêsu trên Thánh Giá nữa.
Thư thứ hai gửi Timotê có lẽ đă được viết từ nhà tù Mamertime ở Rôma nơi
Thánh Phaolô chờ phúc tử đạo, cùng với Thánh Phêrô. Với viễn tượng chết
trước mắt, Ngài viết rằng: “C̣n tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đă
đến giờ tôi phải ra đi”. Sau những lời ấy, Ngài thêm những lời thật đẹp
như sau: “ Tôi đă đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đă chạy hết chặng đường,
đă giữ vững niềm tin” (2 Tm. 4:6-7). Liệu ta có thể thốt ra những lời
tương tự như thế vào lúc cuối đời chăng? Liệu có ai dám nói như thế hay
ghi như thế trước mộ phần chúng ta hay chăng?
Có thể Năm Thánh này là năm cuối cùng cuộc sống ta trên dương thế. Nghe ra
có vẻ chết chóc bi quan, nhưng thực tế là ta phải chuẩn bị để gặp mặt sự
chết bất cứ lúc nào…Cái chết có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Một giáo lư
viên kia kể lại: ông ra đề tài cho học viên làm bài. Chủ đề như sau: “một
nhà thần học nổi tiếng kia có lần nhận xét:nhiệm vụ khẩn trương nhất của
ta trên đời là học để chết lành. Với nhận xét ấy, bạn chuẩn bị ra sao
chính cái chết của bạn”. Một trong các học viên chăm chỉ của ông tự tay
viết một bài trả lời với nhiều ư tưởng sâu sắc. Và v́ là buổi học cuối
cùng, nên cô gửi bài trả lời qua đường bưu điện. Giáo lư viên này chưa
nhận được thư của cô, đă nghe tin cô bạo bệnh mà qua đời!
Cuộc sống Kitô hữu là một cuộc chiến đấu đ̣i phải tỉnh táo, kiên tâm và
sức mạnh thiêng liêng. Khi thảo luận lời xin cuối cùng trong Kinh Lạy Cha
(xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ), Giáo Hội muốn nhắc ta nhớ tới nguồn
ban các ơn sau cùng này, “Cuộc chiến đấu ấy và cuộc chiến thắng ấy chỉ có
thể có được qua lời cầu nguyện. Chính qua lời cầu nguyện của ḿnh, Chúa
Giêsu đă đánh bại kẻ cám dỗ Người, cả ở buổi đầu sứ vụ công khai của Người
lẫn trong cuộc chiến đấu tối hậu lúc Người hấp hối (Mt 4:1-11). Trong lời
cầu xin với Cha trên trời của ta, Chúa Kitô kết hợp ta với cuộc chiến đấu
và cuộc hấp hối của Người. Người thúc giục ta phải tỉnh táo trong tâm hồn
mà hiệp thông với Người. Tỉnh táo là “người ǵn giữ tâm hồn” và Chúa Giêsu
cầu nguyện cùng Chúa Cha cho ta: “Xin ǵn giữ chúng trong danh Cha” (Ga
17:11). Chúa Thánh Thần luôn t́m cách làm chúng ta tỉnh táo mà canh thức
(1Cor 16:13; Cl 4:2; 1Tx 5:6). Cuối cùng, lời cầu xin này có được ư nghĩa
cảm kích của nó trong liên hệ với cơn cám dỗ cuối cùng trong cuộc chiến
đấu trên trần gian của chúng ta; nó đ̣i ta phải kiên nhẫn đến cùng. “Này,
Ta đến như kẻ trộm! Phúc cho ai tỉnh thức “ (Kh 16:15).
Về phương diện này, điều hữu ích là học thuộc ḷng và hàng ngày đọc lời
nguyện mà linh mục thường đọc sau khi cả cộng đoàn đă đọc xong Kinh Lạy
Cha: “Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho
những ngày chúng con đang sống được b́nh an. Nhờ Chúa rộng ḷng thương cứu
giúp, chúng con sẽ luôn luôn thoát khỏi tội lỗi và được an toàn khỏi mọi
biến loạn, đang khi chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc, và ngày trở
lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng con”.
Viết theo Thomas Smith (www.gen215.org)
Vũ Văn An
Thomas Smith trước đây là một mục sư Thệ Phản nhưng đă trở lại Công Giáo
năm 1996. Hiện ông cộng tác với Đài Truyền H́nh EWTN và nhiều đài phát
thanh Công Giáo, đồng thời là một diễn giả được nhiều người mộ mến trong
các tuần đại phúc cũng như hội nghị, và là nhà tŕnh bầy quốc tế chương
Thánh Phaolô, Nhà Truyền
Giáo Vĩ Đại
(Hồ sơ của Hăng tin Fides, ngày 28 tháng Sáu năm 2008 do Cha Jean Baptiste
Edart thu thập, và Luca de Malta biên tập )
Dẫn Nhập
Thánh Phaolô “tỏa sáng như v́ sao rực rỡ nhất trong lịch sử Giáo Hội” (Đức
Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Buổi Triều Yết ngày 25 tháng Mười năm 2006). Vị
Tông Đồ Dân Ngoại, một khuôn mặt rất phong phú và phức tạp này, không
những là tác giả của nhiều Lá Thư hiện đang được chúng ta thưởng ngoạn
ngày nay, mà trước nhất và đầu hết Ngài c̣n là một nhà truyền giáo vĩ đại.
Cuộc gặp gỡ của Ngài với Chúa Kitô trên đường tới Đamát là nguồn suối mọi
lời giảng thuyết và trọn bộ nền thần học của Ngài. Trên đường du hành khắp
miền Địa Trung Hải, kinh qua cấm cách, nguy hiểm đường dài, lúc nào Ngài
cũng tận tụy làm việc không biết mệt mỏi. Niềm hănh diện của Ngài là được
công bố Phúc Âm ở những nơi chưa ai nghe về nó.
Chiêm ngắm khuôn mặt đầy biểu tượng và tiên phong này trong Năm Thánh mừng
kính Ngài chắc chắn sẽ là nguồn suối thúc đẩy ta lên đường truyền giáo. Nó
hệ ở việc nh́n lại con người Thánh Phaolô. Nhận thức gốc gác địa dư và tôn
giáo của Ngài ngơ hầu nắm vững hơn bản chất cuộc gặp gỡ hết sức sâu sắc
của Ngài với Chúa Kitô và hiểu rơ con người Ngài đă được biến đổi và chuẩn
bị ra sao để phục vụ công việc truyền giáo. Thứ đến, ta sẽ xét xem Thánh
Phaolô hiểu thế nào và tiến hành ra sao nhiệm vụ truyền giáo của ḿnh.
Tông đồ là người thế nào? Làm sao nhận diện được một tông đồ? Quả là thích
thú khi t́m hiểu một cách cụ thể Thánh Phaolô đă nói với những ai và tại
những nơi nào, Ngài đă công bố Phúc Âm như thế nào, các lời giảng, các
phép lạ và các đặc sủng đă xuất hiện trong thừa tác vụ của Ngài ở chỗ nào.
Tất cả những khía cạnh đó sẽ giúp ta hiểu rơ hơn những công việc nền tảng
của mọi sinh hoạt truyền giáo.
Thánh Phaolô là ai?
Nguồn gốc không gian và thời gian của Ngài
Thánh Luca cho hay có lẽ Thánh Phaolô sinh tại Tarsus (Cv 22:3). Cha mẹ
của Ngài di cư tới Tarsus và có lẽ bị người La Mă dăn dân tới đó. Khi đă
ổn định, họ được ban cấp quyền công dân La Mă, một quyền họ có thể truyền
lại cho Saolô (Cv 25:11-12). Ta biết Ngài có một người chị và một người
cháu trai (Cv 23:16). Thánh Phaolô lớn lên tại Tarsus (Cv 9: 11, 25;
21:39; 22:3), thủ đô vùng Cilicia, hiện nay là Thổ Nhĩ Kỳ.
Tarsus, một thành phố lớn, giầu có, tọa lạc trên một trong những con lộ
nhiều người qua lại nhất trên thế giới hồi đó, là cửa ngơ dẫn vào Tiểu Á,
rất nổi tiếng về phẩm chất hàng vải. Điều ấy giải thích tại sao nghề được
Thánh Phaolô học lại là nghề làm lều. Tarsus có nền hành chánh riêng, có
thẩm phán do dân bầu và tiền tệ riêng. Người ta thấy rơ ở đấy đă có mặt
một Cộng đồng Do Thái trong thế kỷ thứ nhất CN. Năm 66 trước CN, thành phố
này chống lại Cassius, kẻ ám sát Julius Caesar, và để tưởng thưởng, Mark
Antonio đă ban cho thành phố quy chế tự do và không buộc phải nạp thuế nữa.
Tarsus cũng nổi tiếng là một trung tâm giáo dục và triết học. Strabone,
trong tác phẩm Geografia (14.5.14), quả quyết rằng Tarsus nổi hơn cả
Athens, Alexandria và bất cứ nơi nào khác về giáo dục. Ông ta nói tới sự
trổi vượt trong các trường dạy hùng biện (rhetoric) của nó. Các triết gia
thuộc phái khắc kỷ thích cư ngụ tại đây và việc họ giảng dạy ngay bên
đường là điều khá thông thường. Thánh Phaolô tiếp nhận được nét văn hóa ấy
ngay trong nền học vấn của ḿnh. Trong nhiều lá thư của ḿnh, Ngài có nhắc
đến các thuật ngữ địa phương, các luận chứng rút từ nền văn hóa triết học
và kịch nghệ của thời Ngài sống.
Các yếu tố chắc chắn nhất trong tiểu sử của Thánh Phaolô chính là cuộc gặp
gỡ của Ngài với Chúa Giêsu Kitô vào khoảng năm 32 và việc Ngài bị cầm tù
tại Rôma trong các năm 60-62. Ngài chịu tử đạo tại Rôma giữa khoảng các
năm 63 và 67. Các điểm khác th́ khó có thể nói chắc, như con số chính xác
các lần Ngài đi truyền giáo chẳng hạn. Có nhiều ư kiến khác nhau nhưng con
số 3 lần th́ xem ra có phần đúng hơn cả. Các giai đoạn và biến cố chính
trong cuộc đời Ngài bao gồm việc Ngài được huấn luyện tại học đường của
Gamaliel ở Giêrusalem (Cv 22:3) (*), việc Ngài bách hại Kitô hữu trong các
năm sau đó, rồi cuộc gặp gỡ của Ngài với Chúa Kitô trên đường tới Đamát
đầu thập niên 30, gặp các tông đồ tại Giêrusalem, sứ mệnh giảng đạo cho
Dân Ngoại, phúc tử đạo tại Rôma.
Người Do Thái tên Saolô
Thánh Phaolô nhiều dịp nói về ḿnh và điều ấy giúp ta hiểu Ngài là ai.
Ngài cung cấp cho ta nhiều tín liệu quan trọng trong thư gửi tín hữu
Philíphê 3:5-6: “tôi chịu cắt b́ ngày thứ tám, thuộc ḍng dơi Ítraen, họ
Bengiamin, là người Hípri, con của người Híppri; giữ luật th́ đúng như một
người Pharisêu; nhiệt thành đến mức ngược đăi Hội Thánh; c̣n sống công
chính theo Lề Luật, th́ chẳng ai trách được tôi”. Ngài chịu cắt b́ tám
ngày sau khi sinh. Điều ấy cho thấy sự trổi vượt về nguồn gốc của Ngài:
Ngài chịu cắt b́ đúng theo đ̣i hỏi của Luật Môsen trong sách Lêvi 12:3.
“Ḍng dơi Ítraen” vốn là một thuật ngữ dùng để chỉ bản sắc tôn giáo. “Họ
Bengiamin”: do nhiều lư do, thuộc họ này là một vinh dự lớn trong Do Thái
Giáo. Bengiamin vốn là con trai Rakhen, người vợ yêu qúy của Giacóp, lại
là người duy nhất sinh tại Đất Hứa (St 35:16-18). Họ này đem lại cho
Ítraen ông vua đầu tiên (1Sm 9:1-2) và măi măi trung thành với ḍng dơi
Đavít (1V 12:21). Cùng với họ Giuđa, họ Bengiaminlà nhóm đầu tiên tái
thiết Đền Thờ sau thời lưu đầy (Xh 4:1). Không lạ ǵ được thuộc họ này là
một vinh dự lớn. “Là người Hípri con của người Hípri” nói cách khác ‘thuộc
gia đ́nh sống đạo’, luôn giữ luật Môsen và nói tiếng Aram. Những câu ấy mô
tả cho ta một người Do Thái hoàn hảo.
Thánh Phaolô cũng mô tả ḿnh là người Pharisêu, vốn nổi tiếng là yêu luật
Môsen và luật truyền khẩu. Luật truyền khẩu này được viết thành văn bản từ
thế kỷ thứ hai trước CN trở đi và trở thành bộ Talmud. Flavius Joseph, một
sử gia Do Thái phục vụ người La Mă, cho hay: “Người Pharisêu áp đặt lên
dân chúng nhiều luật lệ của truyền thống Cha Ông vốn không được ghi chép
trong luật Môsen” ( (Antiquités Juives, 13.297). Ta sẽ t́m thấy ư tưởng đó
một lần nữa trong Thư của chính Thánh Phaolô khi Ngài cho hay Ngài cuồng
tín “bênh vực truyền thống Cha Ông” (Gl 1:14). Các luật liên quan tới ăn
uống, cashroute, được coi là quan trọng. Chúng có tính biểu tượng để phân
biệt Dân Chúa Chọn với các dân khác. Niềm tin mới, trong ḷng Do Thái Giáo,
đă bỏ rơi sự phân biệt này. Việc bỏ rơi ấy những người Pharisêu sùng đạo
như Saolô không thể nào chấp nhận được: đối với họ, nó đe doạ chính sự tồn
vong của Ítraen.
Tuy nhiên, bức tranh do Thánh Phaolô tự mô tả về chính ḿnh không nên
khiến ta có cái nh́n khép kín đối với nền văn hóa tôn giáo của Ngài. Ta đă
thấy bối cảnh trong đó Thánh Phaolô lớn lên tại Tarsus. Các Thư của Ngài
xác định rằng Ngài từng được thụ huấn nơi hội đường nhưng cũng được hấp
thụ môi trường Hy Lạp nữa. Việc Ngài thành thạo với thuật hùng biện Hy Lạp
đến độ có thể trích dẫn hay tham chiếu các tác giả cổ điển Hy Lạp cho thấy
Ngài từng học hỏi các vấn đề ấy, ít nhất cũng đến lúc 14, 15 tuổi. Rồi sau
đó, Ngài được gửi tới Giêrusalem để học hỏi các truyền thống Cha Ông tại
học đường của Gamaliel (*). Ngay các rabbis, vào thời ấy, cũng không ngần
ngại cho các học tṛ của ḿnh đọc các tác giả Hy Lạp. Bởi thế ta thấy chân
trời văn hóa và trí thức của Thánh Phaolô khá rộng lớn.
Việc trở lại và đi truyền giáo của Thánh Phaolô
Trở lại?
Ơn gọi đi truyền giáo và “trở lại” là hai điều liên kết chặt chẽ với nhau
nơi Thánh Phaolô. Đó là lư do tại sao nghiên cứu bản chất cuộc biến đổi
thiêng liêng này lại thích thú để có thể hiểu ơn gọi làm nhà truyền giáo
của Ngài.
Thánh Phaolô nói rất ít về biến cố này trong các Thư của Ngài. Các đoạn
thư chính là 1Cor 15:1-11; Gl 1:13-17 và Pl 3:2-14, nhưng chúng chứa rất
ít chi tiết lịch sử. Thánh Tông Đồ chỉ tập chú nhiều hơn vào ư nghĩa. Ngài
nói tới một kinh nghiệm đă hoàn toàn thay đổi đời Ngài, hơn là một biến cố
biệt lập, và Ngài coi nó như một ơn gọi từ ngay lúc c̣n trong ḷng mẹ (Gl
1:15). Bởi thế, ta không thể giải thích cuộc gặp gỡ Chúa Kitô đó mà không
xét tới trọn bộ cuộc hiện sinh của Ngài.
Vậy biến cố ấy có nghĩa ǵ? Nói đến trở lại, ta sẽ lầm lẫn nếu chỉ coi đó
như việc từ một tôn giáo này chuyển qua một tôn giáo khác. Thực thế, Thánh
Phaolô không bao giờ coi ḿnh đă thay đổi tôn giáo. Cần ghi nhận một điều:
đến lúc đó, chưa có sự tách biệt giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo. Việc trở
lại của Ngài v́ thế có một ư nghĩa hết sức sâu sắc, một mở ḷng ra với
Thiên Chúa, một ngập tràn ơn thánh và biến đổi trọn con người.
Thánh Phaolô nhận định về cuộc gặp gỡ Chúa Kitô này như sau: “Nhưng Thiên
Chúa đă dành riêng tôi ngay từ khi tôi c̣n trong ḷng mẹ, và đă gọi tôi
nhờ ân sủng của Người. Người đă đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đă chẳng
thuận theo các lư do tự nhiên” (Gl 1,15-16). Thánh Tông Đồ coi cú xốc nội
tâm này như kết quả của diễn tŕnh chín mùi từng khởi đầu ngay từ giây
phút đầu tiên trong cuộc hiện sinh của Ngài: từ lúc mới sinh, Ngài đă được
Thiên Chúa hướng dẫn, cách từ từ, kiên nhẫn, cho đến lúc quyết định khi
Chúa Giêsu nắm chặt lấy Ngài và biến Ngài thành của Người vĩnh viễn (Pl
3:12). Trong các Thư của ḿnh, Thánh Phaolô nhấn mạnh tới sáng kiến thần
thánh này. Chỉ trong giây lát, mọi sự đă ra khác hẳn.
Việc trở lại ấy quả là việc sinh lại lần nữa. Biến cố ấy đem lại sự mới mẻ
từ cội rễ. Thánh Phaolô bị việc mạc khải của Chúa Kitô làm cho mù mắt.
Phép Rửa phục hồi lại thị giác cho Ngài (Cv 9:18), quả là một biểu tượng
mạnh mẽ. Một người trước đây không nh́n được, nay được sinh hạ vào cuộc
sống mới. Một thế giới mới được mạc khải cho vị Tông Đồ. Toàn bộ tư tưởng
của Thánh Phaolô được xây dựng trên kinh nghiệm này. Đó không phải chỉ là
một thị kiến đơn thuần về Chúa Kitô. Đúng hơn, đó là một mạc khải cho thấy
sự biến đổi thế giới sâu sắc do Chúa Kitô Phục Sinh thực hiện. Trong các
trước tác của ḿnh, Thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự phân biệt giữa thế giới
cũ và thế giới mới. Ngài cảm nghiệm được sự phân biệt ấy ngay trong thân
xác Ngài.
Ngài dùng hai biểu thức để mô tả điều xẩy ra: Ngài “thấy” Chúa Kitô (1Cor
9:1; 15:8) và nhận được “mạc khải” (Gl 1:16; 2:2; Eph 3:3), một hạn từ
được Ngài hay dùng (Rm 16:25; 1Cor 1:7; 2Cor 12:17...). Cả hai hạn từ trên
đều chỉ hành vi của Thiên Chúa. Chúa Kitô không được nh́n thấy, nhưng
Người là Đấng tự để cho ḿnh được nh́n thấy. Khi nói tới thị kiến ấy,
Thánh Phaolô dùng các động từ ở thể thụ động. Thiên Chúa mạc khải chính
Người cho con người; đó là việc thông truyền mầu nhiệm Thiên Chúa. Không
phải là vô lư khi Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Êphêsô chương 1, câu
17, nói tới “thần trí khôn ngoan và mạc khải”, nguồn nhận thức về mầu
nhiệm Thiên Chúa, đối với Kitô hữu.
Nhà truyền giáo
Cuộc mạc khải trên không t́m thấy lư do hiện hữu của nó ngay trong chính
nó. Thánh Phaolô giải thích rằng cuộc mạc khải này được ban cho Ngài “để
nó (mầu nhiệm Chúa Kitô) được loan báo cho dân ngoại”. Cuộc mạc khải ấy
nhằm biến Ngài thành nhà truyền giáo, nhưng phải hiều sứ mệnh truyền giáo
của Ngài theo ḍng ơn gọi tiên tri. Thư Galát chương 1, các câu 15-16 dựa
vào hai tham chiếu đối với ơn gọi tiên tri của Isaia (Is 49:1) và Giêrêmia
(Giêrêmia 1:5). Thánh Phaolô coi ơn gọi ra đi truyền giáo cho dân ngoại
của Ngài như một tiếp nối sứ mệnh của các tiên tri xưa, và nhất là sứ mệnh
của người tôi trung Thiên Chúa như đă được mô tả trong Isaia. Nhà truyền
giáo là một sứ giả ghé vai gánh vác sứ mệnh người tôi trung Thiên Chúa
từng được giải thích trong Isaia 40-45. Tuy nhiên, trong một thị kiến lúc
c̣n ở Côrintô, Thánh Phaolô được chỉ thị: “Đừng sợ; hăy lên tiếng và đừng
giữ im lặng: Ta luôn ở với con. Ta có nhiều người thuộc về Ta trong thành
phố này đến nỗi sẽ không ai có thể làm hại con đâu” (Acts 18,9-10). Chúng
ta đọc trong Is 41:10: “Đừng sợ, v́ Ta ở với ngươi; đừng ngă ḷng, v́ Ta
là Thiên Chúa của ngươi; Ta sẽ củng cố ngươi; đúng, ta sẽ giúp ngươi; đúng,
Ta sẽ nâng đỡ người bằng cánh tay mặt đức công chính của Ta”. Nhiệm vụ của
Thánh Phaolô tại Côrintô là thi hành trách vụ người tôi trung Thiên Chúa.
Phần lớn các đoạn văn trên liên hệ tới Isaia và nhất là khuôn mặt người
tôi trung của Giavê. Nền giáo lư Kitô giáo thuở ban đầu nhận ra trong nhân
vật bí nhiệm này lời tiên tri về Chúa Kitô. Chỉ cần nhớ lại cuộc đối thoại
giữa viên hoạn quan Êtiôpia và tông đồ Philíp trên đường Gaza (Cv
8:30-35). Thành thử có thể nói được là Thánh Phaolô, khi áp dụng lời tiên
tri ấy vào chính ḿnh, đă hiểu được rằng sứ mệnh của Ngài chính là một nối
dài sứ mệnh của Chúa Kitô. Việc đồng hóa vị rao giảng với Chúa Kitô này
phải được hiểu theo nghĩa năng động hơn là tĩnh tụ. Đến đây, ta nhận ra
điểm căn bản trong thần học của Thánh Phaolô: việc đồng hóa với Chúa Kitô
bắt đầu với Phép Rửa và là một diễn tŕnh kéo dài suốt đời. Được Chúa Kitô
“chiếm đoạt” (Pl 3:12), được Người dẫn tới cuộc biến đổi bản thân sâu sắc
này. Việc ấy đă đặc biệt xẩy tới trong trường hợp của Thánh Phaolô.
Lời tự biện minh của Thánh Phaolô khi bị chỉ trích quả hết sức phong phú
về giáo huấn (2Cor 4:7-15). Thánh Phaolô buộc phải biện minh phẩm tính
Tông Đồ của ḿnh đối với những nhà truyền giáo Kitô giáo gốc Do Thái vốn
không mấy kính trọng phẩm tính ấy: “Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa
đựng trong những b́nh sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ
Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2 Cor 4,7-15). Câu này nói lên
một lư thuyết mà thánh nhân sẽ chứng minh bằng các câu tiếp theo: tính
mỏng ḍn của vị Tông Đồ trong sứ vụ tông đồ của ḿnh, phải sống trong cảnh
cấm cách, không phải là dấu hiệu yếu đuối, nhưng đúng hơn là điều kiện cần
thiết để kho tàng Ngài đang mang trong tay, tức nhận thức về Chúa Kitô,
được mạc khải và để cộng đồng Kitô giáo tiếp nhận sự sống của Chúa Kitô
Phục Sinh. Câu 10 và câu 11 minh họa rơ Ngài đă đồng hóa sự đau khổ của
ḿnh với sự đau khổ của Chúa Kitô ra sao. Thánh Phaolô viết: chúng ta
“hằng bị cái chết đe dọa”. Kiểu nói “hằng bị cái chết đe dọa” hay được
Thánh Phaolô và các phúc âm gia sử dụng để chỉ cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô.
Ngài tiếp tục việc đồng hóa này trong câu 14, khi Ngài cho hay Ngài sẽ
cùng Chúa Kitô chỗi dậy từ cơi chết. Bởi thế, sứ mệnh của Ngài là hiến
mạng sống ḿnh như Chúa Kitô từng làm: “Chúng tôi luôn mang nơi thân ḿnh
cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu
lộ nơi thân ḿnh chúng tôi.Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết
đe doạ v́ Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân
xác phải chết của chúng tôi” (2 Cor 4,10). Hai câu này gợi ư rằng cái chết
đang hoạt động trong người rao giảng chính là nguồn sống cho cộng đoàn,
cũng như cái chết của Chúa Kitô là nguồn sống của ta. Nhờ thừa tác vụ Tông
Đồ của ḿnh, Ngài làm cho lễ hy sinh cứu chuộc của Chúa Kitô trở thành
hiện thực. “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ v́ anh em. Những gian
nan thử thách Đức Ki-tô c̣n phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ
mức, v́ lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Col 1,24). Ở đây, ta có
được yếu tính thánh thể cho mọi đời sống truyền giáo.
Tới với mọi dân tộc
Phổ quát là đặc điểm chủ yếu trong sứ mệnh truyền giáo của Thánh Phaolô.
Nó là hậu quả trực tiếp từ bản chất niềm tin mới. Nhiệm vụ của Ngài là
loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Câu này, thấy trong thư Galát, chương 1,
câu 16, được xác nhận một cách đầy đủ bằng lời hứa trợ giúp ta thấy trong
Công Vụ 26:17: “Ta sẽ cứu con khỏi những người và những dân tộc mà Ta sẽ
gửi con tới”. Đối với người Do Thái lẫn không Do Thái, Thánh Phaolô sẽ là
nhân chứng của Đấng Phục Sinh, được Chúa của Tán Tụng sai đi, Đấng mà Ngài
cũng như nhóm Mười Hai đều đă tận mắt nh́n thấy. Một tŕnh thuật khác về
thị kiến ấy được dùng làm nền cho sứ mệnh của Ngài nơi dân ngoại, nơi các
dân tộc. Công Vụ 22:17-21 nhắc đến một thị kiến xẩy ra trong đền thờ.
Thánh Phaolô phải đi tới với mọi “dân tộc”. Điều ấy có thể chỉ những người
không phải là Do Thái nhưng cũng chỉ cả những người sống bên ngoài
Giêrusalem. Ở đây, ta gặp một trong các trọng điểm của sự mới mẻ trong đức
tin Kitô giáo và thần học của Thánh Phaolô: tính phổ quát của Ơn Cứu Rỗi.
Chúa Kitô hiến mạng sống Người cho toàn thể nhân loại và Người muốn mọi
người được cứu rỗi. T́nh yêu của Chúa Kitô, từng bùng cháy trong tâm hồn
Thánh Tông Đồ, sẽ dẫn dắt Ngài tới những nơi xa xăm như Tây Ban Nha (Rm
15:24), mà thời ấy, vốn được coi là cơi tận cùng trái đất được người ta
biết đến.
Truyền giáo và Giáo Hội
Thánh Phaolô cho hay Ngài là một “Tông Đồ” tuy không thuộc Nhóm Mười Hai.
Chữ “tông đồ” (Apostle) là do một hạn từ Hy Lạp vốn có nghĩa là “sai đi”.
Quyền được Thánh Phaolô nêu ra để “đ̣i” cho được tước hiệu này dựa vào sự
kiện chính Chúa Kitô Phục Sinh đă sai Ngài đi rao giảng (1Cor 1:17), cho
dân ngoại mầu nhiệm về Chúa Kitô (Gl 1:16; Eph 3:8), và Ngài ư thức rất
sâu sắc niềm vinh hạnh lớn lao hàm chứa trong tước hiệu ấy: “V́ tôi là
tông đồ tầm thường nhất trong các tông đồ và thực sự không xứng đáng được
gọi là tông đồ, v́ tôi từng bách hại Giáo Hội của Thiên Chúa” (1Cor 15:9).
Muốn làm tông đồ, Ngài phải được sai đi; nguyên sự kiện Ngài được thấy
Chúa Kitô mà thôi không đủ. Trong 1Cor 15:5-7, Thánh Phaolô phân biệt “năm
trăm anh em” với “tất cả các tông đồ” (các vị sau cũng khác biệt với Nhóm
Mười Hai). Sự phân biệt trên hệ ở chỗ nhóm trước không được trao phó việc
ra đi truyền giáo.
Sự chính xác về ngữ nghĩa ấy đă dẫn ta vào chủ đề Giáo Hội. Như chính Ngài
đă khẳng định, Ngài được chính Chúa Kitô trực tiếp sai đi, th́ liệu có thể
có chăng một thứ truyền giáo ở bên ngoài Giáo Hội? Trong các tŕnh thuật
khác nhau về ơn gọi của Ngài, cả trong các Thư lẫn trong Công Vụ, ta thấy
Giáo Hội không bao giờ vắng mặt. Dù Thánh Phaolô hay cho rằng sứ vụ truyền
giáo của Ngài không phải là một trách vụ do Giáo Hội trao phó cho, mà đúng
hơn đó là một đặc sủng của chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, ta cũng thấy chính
trung gian Giáo Hội đă chứng thực cho tính chân thực trong sứ mệnh của
Ngài. Thánh Phaolô tới gặp Thánh Phêrô để khỏi rơi vào cái ảo tưởng “ngược
xuôi vô ích” (Gl 2:2). Trong Công Vụ 9:10-18, ta thấy Ngài tiếp nhận việc
Ngài được sai đi truyền giáo không phải trực tiếp từ Chúa Kitô mà qua
trung gian Ananias. Mục đích việc Ananias làm trung gian không phải để
tŕnh bầy với Thánh Phaolô một học lư mới mà là giúp Ngài hiểu rằng việc
trao ban phẩm chức tông đồ cho Ngài được thực hiện dưới ánh sáng truyền
thống Giáo Hội (1Cor 11:2; 11:23; 15:1). Dù sao, quan tâm liên tục của
Thánh Phaolô từ trước tới nay vẫn là được cộng đồng sai đi. Điều ấy đúng
cho lúc Ngài khởi đầu sinh hoạt truyền giáo, khi Ngài lên đường rời khỏi
Antiốc (Cv 13:1-3), mà c̣n đúng cho đến cả lúc tận cùng nữa. Sau này khi
viết cho tín hữu Rôma, Thánh Phaolô đă yêu cầu họ nhiều điều, nhưng trong
đó có việc xin họ hỗ trợ và nh́n nhận sứ mệnh truyền giáo của ḿnh (Rm
15:24). Thành ra không hề có mâu thuẫn giữa sứ mệnh truyền giáo của Ngài
và truyền thống Giáo Hội.
Sứ mệnh truyền giáo của Thánh Phaolô
Ta vừa thấy nguồn gốc sứ mệnh truyền giáo và ư nghĩa của nó đối với Thánh
Phaolô. Giờ đây, ta sẽ khai triển các khía cạnh cụ thể trong sứ mệnh
truyền giáo của Ngài. Ngài có một chiến lược nào không? Ngài thi hành
chiến lược ấy ra sao? Ngài bắt đầu như thế nào? Đó là những câu hỏi mà bất
cứ ai tham dự vào việc truyền bá Phúc Âm cũng cần lưu ư.
Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn
Thánh Phaolô nói với người Do Thái trước và chỉ sau đó mới nói với dân
ngoại, nhưng Ngài biết Ngài phải nói với cả người không phải là Do Thái
nữa. Ngài là nhà truyền giáo cho cả hai (Rm 1:16). Kế hoạch có tính chiến
lược của Ngài khá đơn giản: để chu toàn nhiệm vụ được trao phó, Ngài quyết
định ḿnh sẽ loan báo Phúc Âm cho những người không phải là Do Thái tại
những nơi chưa ai nghe nói tới Phúc Âm ấy bao giờ (Gl 2:7; Rm 15: 14-21).
Khi du hành trên khắp các ngả đường La Mă, Thánh Phaolô đi từ thành này
tới thành nọ của vùng Arabia, Syria và Cicicia, rồi tiếp tục tới Cyprus,
Tiểu Á, Macedonia, Achaia và cả Tây Ban Nha, nơi chính Ngài dự tính sẽ tới.
Thánh Phaolô trao phó con đường truyền giáo của ḿnh vào tay Thiên Chúa.
Dù đặt kế hoạch đàng hoàng cho các hành tŕnh truyền giáo của ḿnh, Thánh
Phaolô vẫn ư thức rơ ḿnh cần tới hành động của Chúa Thánh Thần, Đấng Ngài
nhận làm người hướng dẫn (Cv 16:9), bất chấp bách hại. Và bách hại chính
là nguyên nhân khiến Thánh Phaolô không ngừng di chuyển, có khi c̣n chạy
trốn nữa: trốn Antiốc (Cv 13:5051), trốn khỏi Icôniô (14:5-5); trốn khỏi
Lystra (14:19-20); trốn khỏi Philippi (16:19-40); trốn khỏi Thessalonica
(17:5-9), Berea (17:13-14) và Êphêsô (20:1).
Hội đường, các nơi công cộng
Chiến lược của Thánh Phaolô là tập chú vào các trung tâm thành thị, các
trung tâm hành chánh La Mă, văn hóa Hy Lạp và có người Do Thái sinh sống,
để Phúc Âm có thể được truyền bá từ các cộng đoàn do Ngài lập nên mà lan
ra ngoài tới toàn bộ xứ sở.
Khi tới một thành thị nào đó, việc đầu tiên Thánh Tông Đồ làm là tới hội
đường địa phương vào ngày Sabát, để tham dự buổi thờ phượng tại đấy. V́ là
khách phương xa, thế nào Ngài cũng được các nhà chức trách tôn giáo sở tại
mời cắt nghĩa sách Torah. Đây là dịp tốt để Ngài đăng đàn loan báo Chúa
Kitô Phục Sinh. Theo quan điểm chiến lược, người ngoại giáo nào nh́n nhận
Thiên Chúa của Israel, “những người kính sợ Thiên Chúa”, đều là mục tiêu
tốt nhất cho công việc loan báo Tin Mừng nơi dân ngoại. Trong khi loan báo
Phúc Âm tại các hội đường, Thánh Phaolô nhằm những người đó để chinh phục.
Hội đường v́ thế là tham chiếu thường xuyên trong cuộc đời Thánh Phaolô.
Ngay về cuối đời, lúc tới Rôma, Thánh Phaolô vẫn mời người Do Thái tại
thành phố này đến nghe điều Ngài có bổn phận phải nói (Cv 28).
Về môi trường ngoại giáo, như Công Vụ 17:16-34 đă cho thấy, khi nhắc đến
việc rao giảng tại Athens, địa điểm Thánh Phaolô ưa chọn để rao giảng
chính là các quảng trường công cộng. Ngài không bao giờ ngần ngại sử dụng
bất cứ dịp may nào để loan báo Phúc Âm của Chúa Kitô, ngay cả lúc ngồi tù
(Cv 16:25-34), trong đó có câu truyện trở lại hết sức cảm động của cả một
gia đ́nh.
Tư gia
Các tư gia là nơi chủ yếu cho việc truyền giáo. Sinh hoạt của các cộng
đoàn Kitô giáo tiên khởi có quan hệ mật thiết với tư gia. Mà tư gia hồi đó
bao gồm trọn một ‘gia đ́nh’ kể cả đầy tớ và nô lệ. Tư gia được coi như
điểm quy chiếu, nơi cộng đoàn tụ tập nhau vào Ngày Của Chúa và được dùng
làm bản doanh cho công tác truyền giáo. Điều ấy không có chi mới lạ đối
với các tín hữu gốc Do Thái, từng được giáo dục trong môi trường tụ họp
nhau thường xuyên tại các tư gia. Các tư gia c̣n có lợi điểm khác nữa: sau
cử hành Lễ Tạ Ơn, cộng đoàn có thể cùng nhau chia sẻ bữa ăn chung. Tư gia
bảo đảm sự kín đáo, một điều sau đó không lâu đă trở nên cần thiết khi
người La Mă khởi diễn cơn cấm cách và người của hội đường tỏ ra ganh ghét.
Điều lư thú đáng ghi nhận là Thánh Phaolô từng khuyên vợ một dân ngoại
đừng bỏ chồng (1Cor 7:13-14). Điều ấy rất đáng lưu ư v́ tư gia vốn là nơi
thờ phượng của gia đ́nh. Các thần minh của dân ngoại vốn có bàn thờ riêng.
Pater familias, tức người chủ gia đ́nh, được tự do tới đền thờ để cầu
nguyện hay thi hành một chức năng tư tế nào đó. Ông ta cũng có quyền tự do
lui tới các động điếm, vốn rất thịnh hành hồi đó. Ta cũng thường nghe nói
tới việc cả một gia đ́nh trở lại đạo: gia đ́nh bà Lydia, gia đ́nh viên cai
ngục ở Philippi (Cv 16: 14-15, 32-34), hai gia đ́nh Crispus và Stephana ở
Côrintô (Cv 18:8; 1Cor 1:16; 16:15). Các nghiên cứu trong ngành kiến trúc
cho thấy tùy theo cỡ nhà, các tư gia thường chứa ít nhất 20 người đến thờ
phương, nhưng cũng có tư gia có thể chứa tới 100 người.
Các thính giả của Thánh Phaolô
Thánh Phaolô nói với đủ mọi thành phần trong xă hội. Dù người Côrintô phần
lớn thuộc giai cấp tầm thường trong xă hội và các tên được nhắc tới trong
thư Rôma 16 cũng cho thấy họ có lối sống đơn giản, Thánh Luca cũng đă hơn
một lần tường thuật rằng Thánh Phaolô từng tiếp xúc với các thành viên
thuộc giai cấp thượng lưu trong xă hội: Lydia chẳng hạn là một phụ nữ làm
nghề buôn tơ lụa, nhiều phụ nữ khác thuộc giai cấp thượng lưu ở
Thessalonica và Berea (Cv 17:4, 12), cũng như nhiều chức sắc miền Asia (Cv
19:31). Những người vừa kể được coi là bằng hữu của Thánh Phaolô, có thể
là kết quả công tŕnh truyền giáo của Ngài. Công Vụ 13:7 ghi lại cho chúng
ta trường hợp nổi tiếng của Sergius Paulus, tổng đốc tại Paphos.
Cuộc giáp mặt của Thánh Phaolô với tổng trấn Festus và Vua Agrippa là điều
đáng lưu ư, nó cho thấy Thánh Phaolô từng nói truyện với những nhân vật ở
tột cùng bậc thang xă hội. Với Festus, người từng gọi Ngài là một tên điên,
Thánh Phaolô trả lời bằng cách thưa truyện thẳng với Vua Agrippa, người
tin vào các tiên tri (Cv 26:27). Ngài kết luận bằng cách bày tỏ ư muốn:
một ngày kia các thính giả của ḿnh cũng bắt chước nhà vua mà trở thành
tín hữu (Cv 26:29). Đoạn văn có tính hô hào trong nghệ thuật hùng biện
truyền giáo này không những cho thấy ḷng can đảm của Thánh Phaolô mà c̣n
cho thấy công cuộc truyền giáo ngày một tỏ ra thành công hơn nơi người Do
Thái.
Theo thư thứ 2 gửi Timôtê 4:16-17, Thánh Phaolô rao giảng Phúc Âm ngay cả
thời gian bị giam tại Rôma” Khi tôi đứng ra tự biện hộ lần thứ nhất, th́
chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đă bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ.
Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đă ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà
việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin
Mừng. Và tôi đă thoát khỏi nanh vuốt sư tử”.
Những tiếp xúc và đối thoại trong các hoàn cảnh tương tự như thế giúp Ngài
nhận được sự hỗ trợ về chính trị và tới lui được nhiều địa điểm gặp gỡ
rộng lớn. Chúng cũng chothấy sự kiện này nữa là Phúc Âm đụng tới mọi tầng
lớptrong xă hội. Tuy nhiên, trong các bản văn này, không có chỗ nào cho
thấy ở các lănh vực này, Thánh Phaolô có bất cứ chiến thuật đặc thù nào.
Thời gian các lần truyền giáo tại thành thị
Đọc lướt qua Tông Đồ Công Vụ cũng như các Thư của Thánh Phaolô, ta có cảm
tưởng Ngài không lưu lại lâu tại bất cứ thành phố nào. Ngài chỉ đi qua các
thành phố đó mà thôi. Nhưng thật ra, có khi Ngài dừng chân tại một thành
phố khá lâu. Như ở Syria (Antiốc) chẳng hạn, Công Vụ 11:26 nói tới một năm.
Việc truyền giáo tại Macedonia và Achaia kéo dài ba năm từ năm 49 CN tới
năm 51 CN. Trong thời gian đó, Thánh Phaolô lập ra ít nhất bốn cộng đoàn:
Philippi, Thessalonica, Berea và Côrintô. Thánh Phaolô cũng lưu lại
Côrintô 18 tháng (Cv 18:11, từ tháng Hai-Ba năm 50 tới tháng Chín năm 52
CN). Việc truyền giáo của Ngài tại Asia trong các năm 52-55 tập trung
chính ở Êphêsô, nơi Ngài làm việc trong ba năm (Cv 20:31): Ngài giảng dạy
trong hội đường ba tháng (Cv 19:8), tại trường của Tyrannô khoảng hai năm
và có thể hơn một chút, tuy không được tường thuật chính xác (Cv 19:22).
Nhà truyền giáo nào cũng biết rằng muốn chuyển giao đức tin cho ai, th́
cần dành nhiều th́ giờ với họ.
Cách thông đạt của Thánh Phaolô
Sự phong phú của Thánh Phaolô làm chúng ta thèm thuồng! Cẩn thận đọc các
thư của Ngài cũng như Tông Đồ Công Vụ, ta hiểu rơ lư do của sự phong phú
phi thường ấy. Ta đă thấy: Thánh Tông Đồ giống như chiếc b́nh bằng đất sét,
dễ bể, dễ nứt rạn. Nhưng chiếc b́nh ấy là nơi cư ngụ của Chúa Thánh Thần,
của quyền lực Thiên Chúa. Và Thánh Phaolô t́m mọi cách làm dễ dàng quyền
lực ấy, làm dễ dàng công việc của Chúa Thánh Thần. Đó sẽ là điểm đầu tiên
cho cuộc tŕnh bầy của chúng ta. Thánh Phaolô hoàn toàn sống v́ Phúc Âm và
sống với Phúc Âm. Phúc âm được loan báo chủ yếu nhờ hai phương tiện:rao
giảng và thực hành đặc sủng.
Mọi sự cho Phúc Âm và nhờ Phúc Âm
Theo Thánh Phaolô, điều kiện chính của hoạt động truyền giáo là lối sống
nhất quán. Cuộc sống của nhà truyền giáo phải là một công bố Phúc Âm. Nó
không được cản trở việc công bố này bất cứ cách nào. Thánh Tông Đồ phát
biểu quan điểm này cách đặc biệt khi Ngài cho hay Ngài không muốn trở
thành gánh nặng cho cộng đoàn mà Ngài tới thăm viếng và loan báo Phúc Âm,
dù Ngài nh́n nhận rằng nhà rao giảng có quyền sống nhờ sự rao giảng của
ḿnh. Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, chương 9, tŕnh bầy cho ta rơ suy
nghĩ của Thánh Phaolô về điểm này. Dù có quyền hưởng hoa trái lao công của
ḿnh, thánh nhân cũng đă từ khước không hưởng đặc quyền ấy. Lư do chính là:
Thánh Phaolô coi việc rao giảng Phúc Âm như nhiệm vụ được trao phó cho
Ngài: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm!” (1 Cor 9:16). Tiếp
nhận sáng kiến rao giảng ấy không tùy thuộc ở Ngài. Phần thưởng của Ngài
nằm ở chỗ được tự do loan báo Phúc Âm! Và để làm việc đó, Ngài ráng hết
sức để trở thành mọi sự cho mọi người!
Cộng đoàn duy nhất được Ngài vui ḷng tiếp nhận sự hỗ trợ về tài chánh là
cộng đoàn Philippi. Khi Thánh Phaolô đang bị cầm tù, nghĩa là không thể
làm việc được, cộng đoàn này đă cung cấp cho Ngài những thứ cần dùng. Các
tù nhân thường chẳng được ăn uống ǵ khác, ngoài ‘của thăm nuôi’ từ gia
đ́nh hay bạn bè. Tù nhân Phaolô cũng vậy thôi.
Rao giảng
Thánh Phaolô là bậc thầy trong nghệ thuật rao giảng. Chỉ cần lướt qua các
thư của Ngài, ta cũng thấy Ngài ‘xuất khẩu thành văn’, không cần phải
chuẩn bị chi. Chắc chắn Ngài được Chúa Thánh Thần “linh hứng”, rất khác
với lối thuyết giảng rỗng tuếch của các diễn giả ngụy biện thời ấy. Tuy
nhiên, thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô 2:1-5 cho ta thấy cách xếp đặt nền
tảng trong lời giảng của Ngài. Chắc chắn Thánh Phaolô không thích lối tu
từ học rỗng tuếch chỉ biết vụ khoe khoang của thời ấy. Tuy nhiên, vốn xuất
thân từ những trường nổi danh, hẳn Ngài cũng biết: bất cứ bài nói truyện
nào, muốn có hiệu quả, đều cần phải áp dụng các luật căn bản của khoa hùng
biện Hy Lạp. Ngài áp dụng nhận thức đó vào việc phục vụ Phúc Âm. Thư thứ
nhất gửi tín hữu Côrintô, chương 2, cho ta một bài học có giá trị về điểm
này, ta cần khảo sát kỹ. Bề ngoài xem ra như Ngài chỉ trích nghệ thuật ăn
nói, mà bên trong, quả Ngài đă khai triển ra cả một nền thần học về rao
giảng. Trước nhất, Ngài nhắc cho mọi người hay sứ mệnh của Ngài là rao
giảng Chúa Giêsu như Đấng Được Xức Dầu, nhưng là Đấng Được Xức Dầu Chịu
Đóng Đinh. Công bố cái chết của Chúa là điều chính yếu. Người chia sẻ bàn
tiệc Chúa phải công bố cái chết của Người (1Cor 11:26), lời Chúa phải được
công bố trong các hội đường (Cv 13:5). Ngài cho các thành phần Giáo Hội
tại Rôma hay đức tin của họ đang nổi tiếng khắp thế giới (Rm 1:8). Cần
phải nhấn mạnh tới việc tŕnh bầy nơi công cộng. Không nhất thiết phải
hiểu là công bố tại các công trường hay công thự. V́ điều ấy buộc Thánh
Phaolô phải đảm nhiệm vai tṛ một diễn giả nơi công cộng. Tuy nhiên, việc
công bố bao giờ cũng có tính công cộng: không thông đạt một thứ giáo
thuyết kỳ bí cho một nhóm người được dẫn nhập bí mật, nhưng là thuật lại
các biến cố cho bất cứ ai sẵn sàng lắng nghe. Không như các nhà hùng biện
thời Ngài, Thánh Phaolô từ khước không dùng bất cứ điều ǵ chỉ có mục đích
khoái tai người nghe, mà cản trở việc hiểu rơ Phúc Âm. Ngài không nhằm gây
giật gân, quyến rũ thính giả. Việc công bố của Ngài nhằm loan báo mầu
nhiệm Thánh Giá. Ngài chỉ biết một điều, đó là Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Nhận thức ấy là trọn bộ nội dung sứ điệp của Ngài. Ngài thực sự nhập thân
thực tại ấy. Chúa Kitô chịu đóng đinh sống trong Ngài (Gl 2:20).
Ngài cho ta biết Ngài rao giảng ra sao: Ngài rao giảng trong “run sợ”, một
điều hết sức ngạc nhiên v́ các thư của Ngài cho thấy Ngài có một đức kiên
cường rất sáng ngời. Thực ra, đây là kiểu nói đặc biệt trong Cựu Ước,
thường được dùng để nói về một người đang giáp mặt với kẻ thù hay một cuộc
tấn công sinh tử (Xh 15:16; Đnl 2:25; Giuđít 2:28; Tv 54:6; Is 19:16). Rao
giảng là một cuộc chiến đấu. Sự yếu đuối của Ngài giữa người Côrintô không
phải là chuyện thường t́nh. Nó là bối cảnh để quyền lực của Thiên Chúa tự
mạc khải ra. Ta thấy điều ấy trong 1Cor 1:27-29 và trong 2Cor 12:9 (“ơn Ta
đă đủ cho con”). Thái độ này thật trái ngược với thái độ tự phụ của những
nhà ngụy biện xiết bao. Thánh Phaolô chắc chắn không phải là loại người
bạn có thể gọi là diễn giả mua vui cho đám đông.
Bản chất đặc biệt trong nghệ thuật rao giảng của Ngài thấy rơ trong các
câu 1 Cor 2: 4 và 5 trong đó Ngài chơi chữ khá tinh tế. Nhiều chữ được
Thánh Phaolô dùng với nghĩa kép, khó ḷng ta mới có thể dịch nguyên văn
được. Ngài dùng các chữ có nghĩa trong từ vựng tôn giáo nhưng cũng có
nghĩa kỹ thuật trong khoa hùng biện. Chúa Thánh Thần được Ngài tŕnh bầy
như Đấng thuyết phục các tâm hồn. Thuật ngữ ấy dành cho Chúa Thánh Thần
sức mạnh thuyết phục. Người mới là Đấng “chứng minh” (demonstration, bản
phổ thông: ostensione) (một từ chuyên môn trong khoa hùng biện), và kết
quả của việc chứng minh này không phải chỉ là một chứng cớ, một xác tín,
nhưng là chính đức tin. Sức mạnh của Chúa Thánh Thần đánh tan sự yếu đuối
của Thánh Phaolô và sức mạnh chứng minh của Chúa Thánh Thần đánh tan sức
mạnh thuyết phục của lời nói, vốn thuộc sự khôn ngoan của người đời.
Ngoài bối cảnh lịch sử phần nào xác định ra lối rao giảng của Thánh Phaolô,
ta cũng có thể nhận diện được một vài yếu tố quan trọng đối với việc loan
báo Phúc Âm. Sứ điệp phải đặt trọng tâm nơi mầu nhiệm Thánh Giá, nói cách
khác, nơi ơn cứu độ. Phương tiện sử dụng phải phụ thuộc vào nội dung sứ
điệp, hay tốt hơn, phải làm nổi bật sứ điệp ấy. Hoa trái của rao giảng
phải là đức tin, chứ không phải là một h́nh thức thuyết phục. Nơi Thánh
Phaolô, đức tin phải được biểu hiệu bằng đức vâng lời (xem Rm 1:18). Nó là
ḷng trung thành với con người và lời nói của Chúa Kitô. Đó mới chính là
hoa trái việc làm của Chúa Thánh Thần. Người mới là diễn giả thực sự, đứng
đàng sau con người của nhà truyền giáo, là người có nhiệm vụ phải hành
động trong “run sợ”. Đồng thời, điều ấy có nghĩa: t́nh thế ở đây không có
chi ổn định, nó là một trận chiến, nhưng cũng cần hiểu thêm: đây là công
việc của Thiên Chúa. Nó diễn ra trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Do đó,
việc truyền giáo quả là một ‘nghề’ có tính thần học. Việc sắp xếp tinh tế
trong đoạn văn vốn sử dụng được mọi phương tiện của khoa tu từ học này cho
thấy nó không nghèo nàn về ngôn từ hay tính độc đáo. Trái lại, phương thế
nào có thể chuyên chở được sứ điệp th́ đều đă được Ngài sử dụng.
Đặc sủng và phép lạ
Không nên đánh giá quá thấp mà cũng không nên đánh giá quá cao vấn đề đặc
sủng và phép lạ. Sách Tông Đồ Công Vụ cho ta thấy phép lạ không phải là
nguyên nhân chính của việc rao giảng Phúc Âm. Đôi khi phép lạ đă không
đóng góp tích cực chi vào việc rao giảng ấy nữa. Khi một đám đông trở lại,
th́ điều ấy chủ yếu không do phép lạ mà là do lời rao giảng. Cũng có hiện
tượng trong đó phép lạ bị hiểu lầm và trở thành nguồn cho lầm lẫn. Ở đây,
chỉ cần nhắc đến việc chữa lành cho một người bất toại ở Lystra trong Công
Vụ 14. Thoạt đầu, dân thành Lystra nghĩ Thánh Phaolô và Banaba là các thần
Zeus và Hernes! Ngay sau biến cố ấy, ta được tường thuật rằng Thánh Phaolô
bị ném đá, sau khi công chúng bị một nhóm người Do Thái từ Icôniô và
Antiốc tới xúi giục (Cv 14:19). Công Vụ 16:18 thuật lại việc giải thoát cô
gái nô lệ khỏi qủy ám đă gây phẫn nộ ra sao nơi người chủ vốn hưởng lợi
nhờ ‘tài’ bói toán của cô ta. Sau cùng trong Công Vụ 28, Thánh Phaolô bị
rắn hổ mang cắn nhưng không chết. Tuy nhiên những người chứng kiến cảnh ấy
đâu có trở lại mà chỉ ngó nhau ngạc nhiên như thể muốn nói Thánh Phaolô
chắc phải là một vị thần!
Tuy nhiên cũng không nên đánh giá quá thấp các đặc sủng và phép lạ, coi
chúng như không có hay hoàn toàn vô ích. Lịch sử rao giảng Phúc Âm đầy các
ơn lạ của Chúa Thánh Thần, những ơn lạ đă cùng các phương tiện thông
thường và ngoại thường khác đem nhiều tín hữu lại cho đức tin. Muốn rơ
điều ấy, chỉ cần đọc đoạn nói về các đặc sủng trong 1Cor 12-14. Tuy nhiên,
vẫn phải nhớ: chính lời tiên tri, lời linh hứng trong các buổi tụ tập cầu
nguyện mới là nguyên nhân trực tiếp làm người chưa có đức tin trở lại.
Trong các Thư của ḿnh, Thánh Phaolô nói rất ít tới các phép lạ ngoại trừ
trong đoạn nói về các đặc sủng, trong 1Cor 12-14 và có lẽ cả trong 1Cor
2:4, trong đó, khi nhắc đến việc chứng minh bằng quyền lực Chúa Thánh Thần,
có thể Ngài muốn ám chỉ tới phép lạ. Chỉ có Sách Tông Đồ Công Vụ mới chứng
thực cho các phép lạ mà thôi. Ở đây ta phải nhận rằng dù đôi lúc bị người
ta hiểu lầm, nhưng các phép lạ thường là nguồn làm nhiều người trở lại.
Như việc chữa người bất toại ở Lydda và việc phục sinh Tabitha ở Jaffa (Cv
9:32-43), việc Thánh Phaolô và Sila được thả cách lạ lùng khỏi nhà tù (Cv
16:25-34) chẳng hạn. Công Vụ 14:3 c̣n đáng lưu ư hơn. Lúc ấy Thánh Phaolô
và Banaba đang giảng đạo tại Icôniô, và sách Công Vụ thuật lại như sau:
“Phaolô và Banaba ở lại một thời gian khá lâu, mạnh dạn v́ dựa vào Chúa,
là Đấng chứng nhận lời giảng về ân sủng của Người, khi cho tay các ông
thực hiện những dấu lạ điềm thiêng”.
Kết luận
Thánh Phaolô từng được hiểu lầm là người sáng lập ra Kitô giáo chỉ v́ tác
động mạnh của Ngài trong công cuộc truyền giáo từ thuở ban đầu. Như thế
quả không vô lư khi ta coi Ngài như tấm gương chói lọi của mọi nhà truyền
giáo. Đặc điểm chính yếu ta nên noi gương Ngài chắc chắn phải là sự gần
gũi của Ngài với Chúa Kitô: “điều đáng kể là phải đặt Chúa Giêsu Kitô làm
tâm điểm đời ta, để bản sắc ta chủ yếu được đánh dấu bằng cuộc gặp gỡ,
bằng cuộc hiệp thông với Chúa Kitô và với Lời Người” (Đức Bênêđíctô XVI,
buổi triều yết ngày 25 tháng Mười năm 2006).
Đặc điểm thứ hai là quan điểm truyền giáo của Ngài. Ngài coi nó như công
việc của Chúa Thánh Thần cộng với ư thức về sự nghèo nàn của bản thân ḿnh.
Nhà tông đồ phải là một với Chúa Kitô, nhưng phải là Chúa Kitô trên Thánh
Giá. Sức mạnh của nhà tông đồ phải là sự yếu đuối của ḿnh, v́ qua sự yếu
đuối ấy, Chúa Thánh Thần mới biểu dương được hết mọi quyền lực của Người.
Việc mở ḷng ra với Chúa Thánh Thần này phải là điều kiện cho bất cứ hoạt
động tông đồ có kết quả nào.
Đặc điểm quan trọng thứ ba là quan niệm của Thánh Phaolô về tính phổ quát
của ơn cứu rỗi. Ngài là người của phổ quát tính. Trong một thế giới đầy
chia rẽ và phân hóa giữa các dân tộc và các nền văn hóa, Ngài đă hiểu ra
rằng sứ điệp của Chúa Kitô là sứ điệp dành cho mọi người, bất kể họ thuộc
nền văn hóa hay tôn giáo nào, quốc tịch hay hoàn cảnh xă hội nào. Ngài
hiểu rơ: “Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi người” (Bênêđíctô XVI, buổi
triều yết chung ngày 25 tháng Mười năm 2006).
Cuối cùng, tính trung tâm của Giáo Hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô, chắc chắn
phải là bài học sau hết ta rút được từ gương sáng của Ngài. Thánh Phaolô
luôn nghĩ rằng sứ mạng truyền giáo của Ngài phải được thực hiện trong ḷng
Giáo Hội và qua Giáo Hội. Truyền giáo là xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô.
Điều ấy có nghĩa: Ngài không bao giờ tưởng tượng được việc rao giảng mà
lại không do Giáo Hội sai đi. Dù khi phải gặp cho bằng được Thánh Phêrô để
chắc mẩm là ḿnh không rao giảng vô ích, hay khi yêu cầu cộng đoàn ở Rôma
hỗ trợ, Thánh Phaolô đều biết rằng công việc truyền giáo luôn phải là hoa
trái do mối liên kết sống động với Giáo Hội đem lại.
Phụ lục
Thánh Phaolô Tông Đồ, trong giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI
Từ lúc được bầu làm giáo hoàng cho đến nay, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI
thường hay nhắc đến khuôn mặt Thánh Phaolô, Tông Đồ Mọi Dân Tộc. Ngay từ
ngày 25 tháng Tư năm 2005, Đức Thánh Cha đă đi thăm mộ Thánh Phaolô, nơi
đó, Ngài đă nói trong bài giảng như sau: “Tôi đến đây để làm sống lại
trong đức tin “ơn phúc tông đồ” này, v́, như lời Thánh Tông Đồ Dân Ngoại
từng nói, Thiên Chúa đă ủy thác cho tôi “nỗi lo lắng đối với mọi Giáo Hội”.
Thánh Tông Đồ chủ yếu nổi tiếng là người rao giảng Phúc Âm cho mọi dân tộc.
Nếu nhiệm vụ của Giáo Hội là truyền giáo, th́ người kế nhiệm Thánh Phêrô
đă tới đây “có thể nói, trong một cuộc hành hương t́m về cội rễ của việc
truyền giáo ấy” (Thăm Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô, ngày 25 tháng
Tư năm 2005).
Đức Giáo Hoàng nói về Thánh Phaolô trong ngày lễ kính hai thánh Phêrô và
Phaolô và trong lễ bế mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Sự Hiệp Nhất các Kitô Hữu
hàng năm. Ngài cũng nói đầy đủ về con người và nền thần học của Thánh
Phaolô vào các buổi triều yết chung các ngày Thứ Tư hàng tuần và khi loan
báo Năm Thánh Phaolô, Ngài tŕnh bầy Thánh Phaolô như người để ta bắt
chước.
Khi đề cập tới con người của Thánh Phaolô, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến
bản chất triệt để của cuộc gặp gỡ giữa thánh nhân và Chúa Kitô và sự mạc
khải thánh nhân tiếp nhận được trên đường tới Đamát, coi chúng như nguồn
thần học của Thánh Phaolô. “Ngài hiểu ngay tức khắc điều Ngài sẽ diễn tả
sau này trong các trước tác của ḿnh là: Giáo Hội hợp thành một cơ thể duy
nhất với Chúa Kitô là đầu. Và điều này nữa: từ một người bách hại các Kitô
hữu, Ngài đă trở thành Tông Đồ Dân Ngoại” (Kinh Chiều tại Nhà Thờ Thánh
Phaolô ở Rôma, 25 tháng Giêng năm 2006).
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI nhấn mạnh tới việc Thánh Phaolô ư thức ḿnh
được Thiên Chúa chọn và sai đi. Đối với Thánh Phaolô, ơn Chúa gọi này, ơn
Chúa tỏ bầy ḷng nhân hậu này là lư do để Ngài đích thân tham dự việc
truyền giáo. Việc tự hiến thân là nguyên nhân chính đem lại hoa trái cho
việc tông đồ của Ngài (Kinh Chiều, 28 tháng Sáu năm 2007). Trong buổi
triều yết ngày 25 tháng Mười năm 2006, Đức Giáo Hoàng cho rằng cuộc sống
Thánh Phaolô được đánh dấu bằng tính trung tâm nơi con người Chúa Kitô và
tính phổ quát nơi hoạt động tông đồ của thánh nhân. Điều giúp thánh nhân
vượt qua được các chặng đường truyền giáo khó khăn chính là t́nh yêu của
Chúa Kitô dành cho Ngài và t́nh yêu của Ngài dành cho Chúa Kitô (2Cor
5:14-15). Như thế, phúc tử đạo chỉ là hậu quả luận lư, là biểu thức tối
hậu của t́nh yêu hoàn toàn, một t́nh yêu dẫn thánh nhân tới chỗ tự đồng
hóa ḿnh với Thầy Chí Thánh, cả trong sự chết.
Đối với Đức Giáo Hoàng, sứ điệp của Thánh Phaolô có tính quy Kitô rơ rệt (Buổi
triều yết chung ngày 8 tháng 11), là công việc của Chúa Thánh Thần (15
tháng 11), là Giáo hội hiện diện trong tâm hồn Ngài (Buổi triều yết chung
ngày 22 tháng Mười Một năm 2006).
Chúa Kitô công chính hóa con người “bằng ḷng nhân từ của Thiên Chúa”, qua
việc đi vào hiệp thông sâu sắc với con người, tha thứ mọi tội lỗi của họ.
Đó là cảm nghiệm căn bản trong cuộc trở lại của Thánh Tông Đồ. Con người
nên công chính nhờ đức tin. Khía cạnh thứ hai cho thấy khía cạnh quy Kitô
này chính là bản sắc Kitô hữu: “Bản sắc Kitô hữu này được tạo thành bởi
hai yếu tố: hạn chế không tự đi t́m chính ḿnh; thay vào đó phải tiếp nhận
ḿnh từ Chúa Kitô và cùng với Chúa Kitô, tự hiến ḿnh đi, nhờ thế tự ḿnh
tham gia vào đời sống của chính Chúa Kitô đến độ tự đồng hóa ḿnh với
Người và biết chia sẻ cả sự chết lẫn sự sống của Ngài” (Buổi triều yết
ngày 8 tháng Mười Một).
Cuộc sống của Thánh Tông Đồ trở thành một thể hiện cuộc sống của Chúa Kitô.
Việc này xẩy ra trong chúng ta qua sự sống Chúa Thánh Thần, sự sống được
Thánh Phaolô gọi là Thần Khí Chúa Kitô. Thánh Phaolô phân tích việc làm
của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời Kitô hữu như sau: Người làm việc trong
hiện thể và hoạt thể của họ (Buổi triều yết 15 tháng Mười Một năm 2006).
Đối với Đức Giáo Hoàng, tư cách con cái Thiên Chúa, vốn là hoa trái sự
hiện diện của Chúa Thánh Thần nơi Kitô hữu đă rửa tội, là ơn phúc đầu tiên
và là ơn phúc chính của Chúa Thánh Thần, một ơn giúp Kitô hữu có thể gọi
Thiên Chúa là “Lạy phụ thân, lạy cha của con”. Sự hiện diện của t́nh yêu
Thiên Chúa trong ta này là lời hứa hẹn cho vinh quang mai hậu.
Giáo Hội là chương cuối trong suy niệm của Đức Giáo Hoàng về Thánh Phaolô,
là người “đă trở lại với Chúa Kitô và Giáo Hội của Người” (Buổi triều yết
chung ngày 22 tháng Mười Một năm 2006). Giáo Hội t́m thấy ḿnh một cách
đúng đắn trong cuộc đời của Thánh Tông Đồ. Đối với Ngài, các giáo hội vừa
là nguồn vui vừa là nguồn sầu khổ. Đối với các giáo hội, Ngài vừa là cha
vừa là mẹ. Nhiệm Thể Chúa Kitô được tiếp nhận trong Phép Thánh Thể (1Cor
10:17). Lời kêu gọi hiệp nhất và bác ái của Thánh Phaolô là kết quả tức
khắc của quan niệm thần học nơi Ngài. Giáo Hội là nơi hiệp thông với Thiên
Chúa và với nhau, đó là cộng đoàn những người kêu danh Chúa Giêsu Kitô.
Các suy niệm của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI về con người Thánh Phaolô
quả là một bản tóm lược giáo huấn của Ngài. Đức Thánh Cha đặt ta diện đối
diện với một soạn giả mà có lần chính Thánh Phêrô cũng cho là khó hiểu.
Các suy niệm này là phương pháp tuyệt hảo để ta phân tích các thư của
Thánh Phaolô
____________________________________________________________
(*) Nhiều tác giả hoài nghi điểm này v́ nếu Thánh Phaolô học tại
Giêrusalem vào lúc đó, hẳn bản thân Ngài phải biết hay nghe nói về Chúa
Giêsu. Thực tế, không thấy Ngài để lộ cái biết ấy. Xem bài “Vài nét sử học
về cuộc đời Thánh Phaolô” (Vietcatholic các ngày 5 và 6 tháng 9 năm 2008)
Vũ Văn An
Trở về trang chủ |