|

|
|
“Theo huyết thống, tôi là người Anbani. Theo quốc tịch,
tôi là người Ấn Độ. Theo đức tin, tôi là một nữ tu công giáo. Theo ơn gọi,
tôi thuộc về thế gian. Theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa
Giêsu”
Với dáng người nhỏ bé, nhưng với một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêxa thành
Calcutta được giao phó sứ mạng công bố t́nh yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối
với nhân loại, đặc biệt đối với những người bần cùng nhất. “Thiên Chúa vẫn
măi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi để biểu lộ t́nh
yêu và ḷng thương cảm của Người đối với người nghèo”. Mẹ có một tâm hồn
tràn đầy ánh sáng Chúa Kitô, một tâm hồn bùng cháy t́nh yêu đối với Ngài và
bị thôi thúc bởi một mong ước duy nhất: “xoa dịu cơn khát của Chúa: khát
t́nh yêu và khát các linh hồn”.
THỜI THƠ ẤU
Agnes Gonxha Bojaxhiu sinh ngày 26 tháng 08 năm 1910, và chịu phép rửa ngay
hôm sau, tại Skopje, Macedonia. Gia đ́nh cô thuộc cộng đồng người Anbani.
Đây là một gia đ́nh công giáo, mặc dù đa số người Anbani ở đấy theo Hồi Giáo.
Thời bấy giờ, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ cai trị đất nước. Cha cô, ông Nikola, là
một doanh nhân. Ông làm chủ một công ty và một cửa hàng thực phẩm. Ông
thường du hành đó đây, biết nhiều thứ tiếng và rất quan tâm đến chính trị.
Ông là một thành viên của Hội Đồng người Anbani. Cùng với vợ ḿnh là bà
Drana, ông đă dạy cho Agnès những bài học bác ái đầu tiên.
Khi Agnes lên 9, năm 1919, cha cô qua đời một cách đột ngột. Bà Drana phải
một ḿnh buon ch?i h?u nuôi dạy ba người con là Aga (1904), Lazar (1907) và
Gonxha (1910). Để sinh sống, bà lao động vất vả qua nghề thêu may. Dù vậy,
bà vẫn dành th́ giờ để giáo dục con cái. Gia đ́nh cầu nguyện mỗi tối, đi nhà
thờ hằng ngày, lần chuổi Mân Côi mỗi ngày trong suốt tháng Năm và chuyên cần
tham dự các lễ kính Đức Mẹ. Họ cũng luôn quan tâm giúp đỡ những người nghèo
và thiếu thốn đến gơ cửa nhà họ. Trong các kỳ nghỉ, gia đ́nh có thói quen
đến tĩnh tâm tại một nơi hành hương kính Đức Mẹ, tại Letnice.
Agnes rất thích đi nhà thờ, cô cũng thích đọc sách, cầu nguyện và ca hát. Mẹ
cô t́nh nguyện chăm sóc một phụ nữ nghiện rượu ở gần đấy. Mỗi ngày hai lần,
bà đến rửa ráy và cho người phụ nữ ấy ăn, đồng thời bà cũng chăm sóc một bà
góa có 6 con. Những ngày bà không đi được, th́ Agnes thay bà đi làm các việc
bác ái đó. Khi bà góa qua đời, những người con của bà đến sống với bà Drana
như con ruột của ḿnh.
ƠN GỌI
Những năm trung học, cô Agnes dùng phần lớn thời gian để hoạt động trong hội
Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Mariae). V́ giỏi ngoại ngữ, cô giúp một linh mục gặp
khó khăn trong ngôn ngữ, cô dạy giáo lư và đọc rất nhiều sách về các nhà
thừa sai Slovenia và Croatia ở Ấn Độ. Khi lên 12, lần đầu tiên cô mong muốn
dâng đời ḿnh để làm việc Chúa, hiến trọn đời ḿnh cho Chúa để Người quyết
định. Nhưng cô phải làm sao để biết chắc chắn là Chúa có gọi cô hay không?
Cô cầu nguyện nhiều rồi tâm sự với các chị và mẹ ḿnh. Cô cũng tŕnh bày với
vị linh mục giải tội: “Làm sao con biết chắc?”. Cha trả lời: “Căn cứ trên
NIỀM VUI. Nếu con cảm thấy thực sự hớn hở vui mừng với ư tưởng rằng Chúa có
thể gọi con phục vụ Người và tha nhân, th́ đấy là bằng chứng cho thấy rằng
con có ơn gọi”. Và cha nói thêm: “Niềm vui sâu xa mà con cảm nhận là la bàn
để chỉ cho con biết hướng đi của đời ḿnh.”
Năm 18 tuổi là năm trọng đại. Cô quyết định. Hai năm trước đó, cô đă đến
tĩnh tâm nhiều lần tại Letnice và nhận ra rơ ràng là cô sẽ phải đi truyền
giáo ở Ấn Độ. Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời năm 1928, cô đến Letnice
cầu nguyện xin Đức Mẹ chúc lành trước khi ra đi. Cô chuẩn bị gia nhập ḍng
Đức Mẹ Lorette, một hội ḍng đang hoạt động tích cực tại Ấn Độ.
Ngày 25 tháng 09, cô lên đường. Cả cộng đồng tiễn cô ra ga: nào bạn hữu, nào
láng giềng già trẻ, và dĩ nhiên cả Mẹ và bà chị Aga. Mọi người đều khóc.
Cô đi qua Zagreb, Áo, Thụy Sĩ, Pháp và đến Luân Đôn, rồi từ đấy vào một tu
viện gần Dublin là nhà mẹ của Hội Ḍng Đức Mẹ Lorette. Tại đấy, cô học nói
tiếng Anh và sống nếp sống nữ tu. Ngày mặc áo ḍng, cô chọn tên là Têrêxa,
để tưởng nhớ chị thánh Têrêxa Hài Đồng ở Lisieux, nơi mà cô dừng chân trên
đường đến Luân Đôn. Cùng thời gian này cô làm các thủ tục giấy tờ và năm
1928 cô khởi sự cuộc hành tŕnh đầu tiên đến với Ấn Độ: đất nước ước mơ của
cô! Cuộc hành tŕnh này thật gian nan. Có vài chị em nữ tu đi cùng tàu với
cô nhưng phần đông hành khách th́ theo Anh giáo. Suốt nhiều tuần lễ, họ
không được dự lễ và rước lễ, kể cả ngày Giáng Sinh. Tuy nhiên, họ cũng làm
một máng cỏ, lần hạt và hát thánh ca Giáng Sinh.
Đầu năm 1929 họ đến Colombo, rồi đến Madras và cuối cùng là Calcutta. Họ
tiếp tục đi đến Darjeeling, dưới chân dăy Hy mă lạp sơn, nơi mà người nữ tu
trẻ sẽ hoàn tất thời gian huấn luyện. Ngày 23 tháng 05 năm 1929, chị Têrêxa
vào tập viện và hai năm sau chị khấn lần đầu. Ngay sau đó, chị được chuyển
đến Bengali để giúp đỡ các chị trong một bệnh viện nhỏ hầu chăm sóc các bà
mẹ đau yếu, đói khát và không nơi nương tựa. Chị bị đánh động trước nỗi khốn
cùng vô biên tại nơi này.
NỮ TU VÀ GIÁO VIÊN
Sau đó, chị được gởi đến Calcutta để học sư phạm. Khi nào có thể, chị đều đi
giúp chăm sóc bệnh nhân. Khi ra trường, chị trở thành giáo viên và mỗi ngày
phải đi xuyên qua thành phố. Công việc đầu tiên của chị là lau pḥng học.
Chẳng bao lâu, các em bé yêu mến cô giáo v́ sự nhiệt t́nh và ḷng tŕu mến
của cô, nên số học sinh lên đến ba trăm em. Ở một khu khác trong thành phố,
c̣n 100 em nữa. Chị nh́n thấy nơi các em ở và đồ các em ăn. Cảm được sự chăm
sóc và t́nh yêu của chị, các em gọi chị là ‘ma’ (mẹ). Những ngày chúa nhật,
chị đi thăm viếng gia đ́nh các em.
Ngày 24 tháng 05 năm 1937, chị khấn trọn đời ở Darjeeling và trở thành, như
lời chị nói, “hiền thê của Chúa Giêsu cho đến đời đời”. Chị được cử làm hiệu
trưởng một trường phổ thông cơ sở tại trung tâm Calcutta, dành cho nữ sinh
Bengali. Đôi khi chị cũng đích thân dạy sử địa. Cạnh trường là một trong
những khu ổ chuột lớn nhất Calcutta. Chị Têrêxa không thể nhắm mắt làm ngơ
được: Ai chăm sóc cho những người nghèo sống lang thang trên đường phố đây?
Tinh thần bác ái toát ra từ những bức thư của mẹ chị nhắc lại tiếng gọi căn
bản: hăy chăm sóc người nghèo.
Hội đoàn Legio Mariae cũng hoạt động trong trường này. Cùng với các nữ sinh,
chị Têrêxa thường đi thăm bệnh viện, khu ổ chuột, người nghèo. Họ không chỉ
cầu nguyện suông. Họ cũng nghiêm túc trao đổi về những ǵ ḿnh thấy và làm.
Cha Henry, một linh mục ḍng Tên người Bỉ, là vị linh hướng của chị; ngài
gợi ư nhiều điều trong công tác này. Ngài hướng dẫn chị Têrêxa trong nhiều
năm. Qua các gợi ư của ngài, chị càng ngày càng mong muốn phục vụ người
nghèo, nhưng bằng cách nào đây?
‘ƠN GỌI TRONG ƠN GỌI ’
Với tất cả những thao thức ấy, chị đi tĩnh tâm ngày 10 tháng 09 tại
Darjeering. Sau này chị nói: “đấy là chuyến đi quan trọng nhất trong đời tôi’.
Đấy chính là nơi mà chị thực sự nghe được tiếng Chúa: “Hăy đến làm ánh sáng
cho Thầy”. Sứ điệp của Người rất rơ ràng: chị phải rời tu viện để giúp đỡ
những kẻ khốn khổ nhất và cùng sống với họ. “Đấy là một mệnh lệnh, một bổn
phận, một xác tin tuyệt đối. Tôi biết ḿnh phải làm ǵ, nhưng không biết
phải làm thế nào”. Ngày 10 tháng 09 là một ngày quan trọng đến nỗi Hội Ḍng
gọi ngày này là ‘ngày linh hứng’ (inspiration day).
Chi Têrêxa cầu nguyện, tŕnh bày cho vài chị khác, tham khảo ư kiến mẹ bề
trên, và mẹ bảo chị đến gặp đức tổng giám mục Calcutta, Đức Cha Perrier. Chị
giải thích cho ngài về ơn gọi của ḿnh, nhưng đức cha không cho phép. Ngài
đă trao đổi với các cha ḍng Tên Henry và Celeste Van Exem, là những vị biết
rơ chị Têrêxa. Các ngài xem xét mọi mặt vấn đề: Ấn Độ sắp được độc lập và
chị Têrêxa lại là một người Âu! E rằng chị sẽ gặp những nguy hiểm về chính
trị và nhiều vấn đề khác xuất phát từ việc phân biệt sắc tộc. Liệu Rôma có
phê chuẩn quyết định này chăng? Đức cha khuyên chị cầu nguyện một năm nữa
trước khi thực hiện quyết định này, nếu không th́ nên gia nhập ḍng các Nữ
Tử thánh Anna, những nữ tu mặc sari xanh đang hoạt động cho người nghèo. Chị
Têrêxa nghĩ rằng đấy không phải là con đường thích hợp cho ḿnh. Chị muốn
sống cùng với người nghèo. Một năm sau, khi chị Têrêxa tŕnh lên ư định ḿnh,
đức tổng giám mục muốn cho phép, nhưng ngài bảo tốt hơn là chị hăy xin phép
Rôma và Mẹ bề trên tổng quyền của chị ở Dublin. Chị lại phải chờ đợi một
thời gian khá lâu để nhận được quyết định từ trung ương.
QUYẾT ĐỊNH
Tháng 08 năm 1948, chị Têrêxa được phép rời cộng đoàn Lorette với điều kiện
là tiếp tục tuân giữ các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Chị
chia tay với chị em ḿnh năm 38 tuổi, rời tu phục ḍng Lorette để mặc lấy
chiếc sari rẻ tiền màu trắng viền xanh. Trước hết, chị đến Patna để theo học
một khóa huấn luyện y tá cùng với các nữ tu tại đấy. Chị thấy rơ ràng là chị
chỉ có thể giúp đỡ người nghèo trong các căn nhà bẩn thỉu bệnh hoạn của họ
nếu chị biết cách pḥng bệnh và chữa bệnh. Kiến thức y khoa là điều kiện
không thể thiếu được hầu chu toàn ơn gọi mới của ḿnh.
Vị bề trên ở Patna, một bác sĩ, đă cho chị một lời khuyên khôn ngoan khi chị
tỏ ư muốn ra sống giữa những người nghèo và chăm sóc họ. Chị bảo rằng chị
muốn sống chỉ bằng cơm với muối, giống như người nghèo, và vị bề trên đáp
lại rằng đấy là cách hay nhất để cản trở chị khỏi phải đi theo ơn gọi của
chị: nếp sống mới đ̣i hỏi ở chị một sức khoẻ thật vững và thật tốt.
Sau khi trở về Calcutta, chị Têrêxa đến với các khu ổ chuột và đường phố,
thăm viếng và giúp đỡ người nghèo. Toàn bộ tài sản của chị vẻn vẹn là một
cục xà pḥng và năm rupi (một đôla = 45 rupi; và 5 rupi = dưới 2000 VNĐ).
Chị giúp tắm các em bé và rửa các vết thương. Người nghèo rất ngạc nhiên:
Cái bà người Âu mặc chiếc sari nghèo nàn này là ai vậy? Mà bà nói thông thạo
tiếng Bengali! Bà lại đến giúp họ rửa ráy, lau chùi và chăm sóc họ nữa chứ!
Thế rồi chị bắt đầu dạy các em bé nghèo học chữ, học cách rửa ráy và giữ vệ
sinh. Sau đấy chị mướn được một pḥng nhỏ để làm lớp học.
Phần chị, chị vẫn tạm trú tại nhà các Chị Em Người Nghèo. Chúa là nơi nương
tựa của chị để có được những sự trợ giúp vật chất. Và Người luôn có mặt: lúc
nào chị cũng t́m ra thuốc men, quần áo, thức ăn và chỗ ở để đón người nghèo
và chăm sóc họ. Vào giữa trưa, các em bé được uống một ly sữa và nhận một
miếng xà pḥng, nhưng đồng thời các em cũng được nghe nói về Chúa, Đấng T́nh
Yêu, và - ngược với các thực trạng rành rành trước mắt các em - Người yêu
thương các em, thực sự yêu thương các em.
MỘT THỜI ĐIỂM CẢM ĐỘNG
Một hôm, một thiếu nữ Bengali, xuất thân từ một gia đ́nh khá giả và là cựu
học sinh của Mẹ Têrêxa, muốn đến ở với Mẹ mà giúp một tay. Đây là một thời
điểm cảm động. Nhưng Mẹ Têrêxa rất thực tế: Mẹ nói về sự nghèo khó toàn diện,
về những khía cạnh khó chịu của công việc Mẹ làm. Mẹ đề nghị thiếu nữ chờ
đợi một thời gian nữa.
Ngày 19 tháng 03 năm 1949, thiếu nữ ấy trở lại trong một chiếc áo nghèo nàn
và không mang trên người một món nữ trang nào. Cô đă quyết định. Cô là người
đầu tiên gia nhập cộng đoàn của Mẹ Têrêxa và lấy tên khai sinh của Mẹ là
Agnes. Những thiếu nữ khác nối tiếp cô: vào tháng 05 cộng đoàn có ba người,
tháng 11 là năm người, năm sau đó là bảy người. Mẹ Têrêxa thiết tha cầu
nguyện để có được nhiều ơn gọi hơn nữa cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Có quá
nhiều việc phải làm. Các chị em thức dậy thật sớm, cầu nguyện lâu giờ, dự
thánh lễ để kín múc sức mạnh cho đời sống thiêng liêng hầu thực thi những
công việc phục vụ người nghèo. Tạ ơn Chúa, có một ông tên là Gomes đă dâng
tặng tầng cao nhất của căn nhà ḿnh cho cộng đoàn Mẹ Têrêxa. Đây cũng là năm
mà Mẹ Têrêxa lấy quốc tịch Ấn Độ.
Mẹ Têrêxa nh́n cộng đoàn lớn lên và biết rằng Mẹ có thể nghiêm túc nghĩ đến
việc sáng lập một hội ḍng. Muốn xây dựng hiến pháp đầu tiên, Mẹ tham khảo ư
kiến của hai người đă từng giúp Mẹ trước đây: các cha ḍng Tên Julien Henry
và Celest Van Exem. Vị linh mục đọc lại lần cuối là cha De Gheldere. Giờ đây
“hiến pháp của Hội Ḍng Thừa Sai Bác Ái’ có thể tŕnh lên đức tổng giám mục,
và ngài gởi về Rôma để xin phê chuẩn.
Đầu mùa thu, sắc lệnh phê chuẩn của Đức Thánh Cha đến, và ngày 7 tháng 10
năm 1950, lễ Mân Côi, nghi thức khánh thành diễn ra trong nhà nguyện của chị
em. Đức tổng giám mục cử hành thánh lễ và cha Van Exem đọc sắc lệnh thành
lập. Vào lúc ấy, có 12 chị em. Không đầy 5 năm sau, cộng đoàn được nâng lên
thành hội ḍng Ṭa Thánh, có nghĩa là trực thuộc Đức Thánh Cha.
NHỮNG LĂNH VỰC KHÁC
Muốn đáp ứng trọn vẹn hơn các nhu cầu vật chất và thiêng liêng của người
nghèo, Mẹ Têrêxa sáng lập, năm 1963: tu hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái; năm
1976: Nhánh nữ tu chiêm niệm; năm 1979, các Nam tu sĩ chiêm niệm và năm
1984, hội linh mục Thừa Sai Bác Ái. Tuy nhiên, thao thức của Mẹ không dừng
lại nơi những người có ơn gọi tu tŕ mà thôi. Mẹ thiết lập hội Những Cộng
Tác Viên với Mẹ Têrêxa và những Cộng Tác Viên Bệnh Tật Và Đau Khổ, gồm những
người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau mà Mẹ chia sẻ tinh thần cầu nguyện,
đơn sơ, hy sinh và công tác tông đồ qua những việc làm hèn mọn v́ t́nh yêu.
Tinh thần này cũng thôi thúc Mẹ thiết lập hội Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái. Để
đáp lại yêu cầu của nhiều linh mục, năm 1981, Mẹ Têrêxa khởi xướng phong
trào Corpus Christi dành những linh mục nào muốn chia sẻ linh đạo và đặc
sủng của Mẹ.
Trong những năm lớn mạnh đó, thế giới bắt đầu chú ư đến Mẹ và các công tŕnh
mà Mẹ đă khởi xướng. Mẹ nhận được nhiều giải thưởng: giải Padmashri của Ấn
Độ, năm 1962; giải Hoà B́nh của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, năm 1971; giải
Nêru v́ có công thăng tiến nền ḥa b́nh và sự thông cảm trên thế giới, năm
1972; và Giải Nobel Ḥa B́nh, năm 1979; trong khi đó, các phương tiện truyền
thông càng ngày càng ca tụng Mẹ hết lời qua các công việc Mẹ làm. Mẹ đón
nhận tất cả ‘v́ vinh danh Thiên Chúa và nhân danh người nghèo’
CHỨNG TỪ CỦA MỘT CUỘC ĐỜI.
Toàn bộ cuộc đời và công tŕnh của Mẹ Têrêxa là một chứng từ cho niềm vui
trong yêu thương, cho sự cao cả và phẩm giá của mỗi một con người, cho giá
trị của từng việc nhỏ nhất được thực thi với đức tin và t́nh yêu, và trên
hết, cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Nhưng có một khía cạnh anh
dũng khác của vĩ nhận này mà ta chỉ biết được sau khi Mẹ qua đời. Đây là một
điều Mẹ dấu kín đối với mọi người, kể cả những thân hữu gần gũi nhất với Mẹ:
trong cuộc sống nội tâm, Mẹ có một cảm nghiệm sâu lắng, đau đớn và thường
xuyên rằng Mẹ ở xa cách Chúa, thậm chí bị Người ruồng bỏ, và v́ thế càng
ngày Mẹ càng khao khát được Chúa yêu thương nhiều hơn. Mẹ gọi cái cảm nghiệm
nội tâm ấy là ‘bóng tối’. Cái ‘đêm đem cay đắng’ này khởi sự từ ngày Mẹ bắt
đầu công việc phục vụ người nghèo và tiếp tục măi cho đến cuối đời, khiến Mẹ
ngày càng kết hiệp mật thiết hơn với Chúa. Qua cái tối tăm đó, Mẹ tham dự
một cách huyền nhiệm vào cơn khát cùng cực và đau đớn của Chúa Giêsu và chia
sẻ tự thâm sâu sự khốn cùng của người nghèo.
Trong những năm cuối đời, mặc cho sức khoẻ càng ngày càng giảm sút, Mẹ vẫn
tiếp tục điều hành Hội Ḍng và đáp ứng các nhu cầu của người nghèo và của
Giáo Hội. Năm 1997, số nữ tu của Mẹ Têrêxa là 4000 chị hoạt động tại 610 nhà
trong 123 quốc gia trên thế giới. Tháng 03 năm 1997, Mẹ chúc phúc cho vị bề
trên tổng quyền mới của Hội Ḍng Thừa Sai Bác Ái (chị Nirmala Joshi), rồi
thực hiện một chuyến du hành ở nước ngoài. Sau khi yết kiến Đức Thánh Cha
lần chót, Mẹ về lại Calcutta, dành những ngày cuối đời để tiếp khách và dạy
dỗ các nữ tu con cái ḿnh. Ngày 05 tháng 09 là ngày cuối cùng trong cuộc đời
trần thế của Mẹ. Mẹ được tiễn đưa về vĩnh cửu theo nghi lễ quốc táng của Ấn
Độ và thi hài Mẹ được chôn cất tại nhà mẹ của hội ḍng Thừa Sai Bác Ái. Mộ
của Mẹ trở thành nơi hành hương cho mọi người, giàu cũng như nghèo.
Không đầy hai năm sau ngày qua đời, do sự thánh thiện mà mọi người đă đồng
thanh ca ngợi và những báo cáo về các ơn thiêng nhận được qua Mẹ, nên Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II đă cho phép tiến hành xem xét hồ sơ phong thánh
cho Mẹ. Ngày 20 tháng 12 năm 2002, ngài phê chuẩn sắc lệnh công nhận nhân
đức anh hùng và các phép lạ của Mẹ.
Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước. Mẹ là người
được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử giáo hội từ trước đến nay:
chỉ 6 năm sau ngày qua đời. Trước Mẹ, thánh Gioan Bosco và thánh Maximilian
Kolbe được phong chân phước 30 năm sau ngày qua đời và là những người được
phong chân phước nhanh nhất.
CHÂN PHƯỚC TÊRÊXA THÀNH CALCUTTA - một người của toàn thể nhân loại, mang
ḍng màu Anbani, có quốc tịch Ấn độ và là công dân danh dự của Hoa kỳ, nhung
lại xó ḿnh đến nỗi ít ai c̣n nhớ đến cái tên khai sinh Agnes Gonxha
Bojaxhiu - măi măi là h́nh ảnh của một Kitô hữu có một đức tin không hề lay
chuyển, một đức cậy bất chấp phong ba và cho một đức ái vượt mọi biên thùy.
Lời đáp trả trước tiếng gọi của Chúa Giêsu “Hăy đến làm ánh sáng cho Thầy’
đă biến người thành một nhà Thừa Sai Bác Ái, một ‘người mẹ của kẻ nghèo’,
một biểu tượng cho ḷng thương cảm của Thiên Chúa đối với con người và một
bằng chứng sống động cho thấy rằng Chúa Giêsu từng ngày khắc khoải chờ đợi
t́nh yêu của mỗi một linh hồn.
Tổng hợp theo tài liệu của Mạng Lưới Vatican và Hội Ḍng Thừa Sai Bác Ái.
VÀI TƯ TƯỞNG CỦA MẸ TÊRÊXA.
NGƯỜI NGHÈO THẬT CAO CẢ
Người nghèo không cần chúng ta thông cảm và thương hại. Người nghèo cần
chúng ta đồng cảm và yêu thương. Họ cho chúng ta nhiều hơn chúng ta cho họ.
Trong thời gian khủng khiếp mà hằng triệu người đến tị nạn tại Ấn Độ, chúng
tôi kêu gọi trợ giúp và nhiều người t́nh nguyện đến sống vài tháng với chúng
tôi, để yêu thương và phục vụ, bằng tấm ḷng tŕu mến và bằng sự chăm sóc
tận t́nh. Khi ra về, họ bảo rằng họ đă nhận nhiều hơn là cho.
Tại Calcutta, cách đây một thời gian, mỗi đêm chúng tôi ra đường đem bốn năm
người hấp hối về Nhà Vĩnh Biệt của chúng tôi. Có một bà ở trong t́nh trạng
thật bi đát nên tôi muốn tự tay ḿnh chăm sóc. Tôi gởi hết t́nh yêu thương
vào công việc này. Khi tôi đặt bà lên giường, bà nắm lấy tay tôi và môi bà
nở một nụ cười tuyệt diệu. Bà chỉ nói có một tiếng: “Cám ơn” rồi bà chết. Bà
đă cho tôi nhiều hơn tôi cho bà, rất nhiều. Bà đă tặng tôi tấm ḷng biết ơn
của ḿnh và tôi thầm nghĩ: Ở hoàn cảnh bà tôi sẽ làm ǵ nhỉ? Rồi tôi tự trả
lời: hẳn là tôi sẽ cố gắng lôi kép sự chú ư về ḿnh; hẳn là tôi sẽ bảo: tôi
đói hay tôi lạnh hay tôi sắp chết. Nhưng phần bà, bà thật cao cả, bà thật
tuyệt vời qua hành động trao tặng của ḿnh. Người nghèo thật cao cả.
TỰ NHIÊN
Nếu bạn cầu nguyện bằng lời, th́ hăy để cho lời ấy được ch́m ngập trong
t́nh yêu xuất phát tự đáy ḷng ḿnh. Hăy chắp tay, nhắm mắt và hướng ḷng
lên với Chúa. Hăy để cho kinh nguyện của bạn trở thành một của lễ tinh tuyền
dâng lên Thiên Chúa. Đừng cầu nguyện lớn tiếng hay quá im lặng. Hăy cầu
nguyện đơn sơ. Hăy để cho ḷng bạn lên tiếng. Hăy cầu nguyện với Chúa bằng
trọn tâm hồn ḿnh.
Lời nói sẽ trỗi dậy từ đáy ḷng bạn và bạn sẽ cảm nhận được niềm vui khi cầu
nguyện. Thỉnh thoảng dừng lại ở một lời và suy đi nghĩ lại, để cho lời ấy
ch́m sâu vào ḷng bạn.
Hăy giữ lời ấy suốt ngày: lời ấy giữ bạn trong b́nh an.
T̀NH YÊU
Đừng nghĩ rằng một t́nh yêu chân chính phải là một điều ǵ phi thường.
Điều cần thiết là yêu thương liên tục. Làm thế nào mà ngọn đèn cháy măi nếu
nó không được nuôi dưỡng bằng một giọt dầu? Khi hết dầu th́ không c̣n ánh
sáng và vị hôn phu sẽ nói: Tôi không biết các người.
Các bạn thân mến, những giọt dầu của ngọn đèn các bạn là ǵ? Đấy là những
điều nhỏ nhặt trong đời thường: niềm vui, ḷng quảng đại, những việc lành
nho nhỏ, đức khiêm nhường và sự nhẫn nại. Một suy nghĩ hướng đến tha nhân.
Cách thức mà chúng ta thinh lặng, lắng nghe, tha thứ, nói năng và hành động.
Đấy là những giọt dầu chân chính giúp cho ngọn đèn chúng ta cháy măi suốt
cuộc đời ḿnh. Đừng t́m kiếm Chúa Giêsu ở nơi xa xôi, Người không có ở đấy
đâu. Người đang ở trong các bạn, hăy chăm sóc ngọn đèn của ḿnh rồi các bạn
sẽ nh́n thấy Người.
SUY NIỆM TẠI BỆNH VIỆN Ngày 19 tháng 06 năm 1983
“Các con bảo Thầy là ai?” (Matthêu 16,15)
Thầy là Thiên Chúa
Thầy là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa
Thầy được sinh ra, mà không phải tạo thành.
Thầy đồng bản tính với Thiên Chúa Cha
Thầy là Con Thiên Chúa Hằng Sống
Thầy là Ngôi Hai Thiên Chúa Ba Ngôi
Thầy là Một cùng Thiên Chúa Cha
Thầy ở trong Cha Thầy từ nguyên thủy: mọi sự đều được Chúa Cha dựng nên qua
Thầy.
Thầy là Người Con Chí Ái đẹp ḷng Chúa Cha.
Thầy là con của Đức Maria, được Chúa Thánh Thần tượng thai trong ḷng Đức Mẹ.
Thầy sinh ra ở Bêlem,
Thầy được Đức Maria vấn tă và đặt vào máng cỏ.
Thầy được sưởi ấm bằng hơi thở của con lừa từng chỡ người Mẹ đang cưu mang
Thầy. Thầy là con ông Giuse, mà dân thành Nazareth biết đến với tư cách là
người thợ mộc.
Thầy là một người tầm thường, học vấn không cao, như các nhà trí thức Israen
đánh giá.
“Chúa Giêsu là ai, đối với tôi ?”
Chúa Giêsu là Ngôi Lời nhập thể.
Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống.
Chúa Giêsu là Hy Lễ dâng lên trong thánh lễ v́ tội lỗi thế gian và tội lỗi
tôi.
Chúa Giêsu là Ngôi Lời - cần diễn đạt
Chúa Giêsu là Sự Thật - cần loan truyền
Chúa Giêsu là Con Đường - cần đi theo
Chúa Giêsu là Ánh Sáng - cần thắp lên
Chúa Giêsu là Sự Sống - cần phải sống
Chúa Giêsu là T́nh Yêu - cần phải yêu
Chúa Giêsu là Niềm Vui - cần chia sẻ
Chúa Giêsu là Của Lễ - cần tiến dâng
Chúa Giêsu là B́nh An - cần trao ban
Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống - cần rước lấy
Chúa Giêsu là Người Đang Đói - cần cho ăn
Chúa Giêsu là Người Đang Khát - cần cho uống
Chúa Giêsu là Người Ḿnh Trần - cần cho mặc
Chúa Giêsu là Người Không Nhà - cần đón tiếp
Chúa Giêsu là Người Bệnh Hoạn - cần chữa lành
Chúa Giêsu là Người Cô Đơn - cần yêu thương
Chúa Giêsu là Người Phung Hủi - cần chăm sóc
Chúa Giêsu là Người Ăn Xin - cần nụ cười
Chúa Giêsu là Người Nghiện Rượu - cần lắng nghe
Chúa Giêsu là Người Tâm Thần - cần bảo vệ
Chúa Giêsu là Người Bé Mọn - cần che chỡ
Chúa Giêsu là Người Đui Mù - cần dẫn đi
Chúa Giêsu là Người Câm Miệng - cần nói thay
Chúa Giêsu là Người Tàn Tật - cần đồng hành
Chúa Giêsu là Người Ma Túy - cần thông cảm
Chúa Giêsu là Người Măi Dâm - cần viếng thăm
Chúa Giêsu là Người Già Nua - cần phục vụ
Đối với tôi...
Chúa Giêsu là Thiên Chúa của tôi
Chúa Giêsu là Phu Quân của tôi
Chúa Giêsu là Sự Sống của tôi
Chúa Giêsu là Mối T́nh duy nhất của tôi
Chúa Giêsu là Tất Cả của tôi.
Chúa Giêsu là Mọi Sự của tôi.
Chúa Giêsu, tôi yêu mến Người hết ḷng, hết tâm trí tôi.
Tôi hiến dâng Người mọi sự, kể cả tội lỗi ḿnh và Người đă kết hôn tôi với
Người trong tŕu mến và yêu thương.
Giờ đây và trọn đời, tôi là hiền thê của ĐẤNG LANG QUÂN Chịu Đóng Đinh.
Amen
Mẹ Têsêxa - Trần Duy Nhiên dịch từ ‘Thoughts’
Website:
http://www.tisv.be/mt/en/indmt.htm
Trần Duy Nhiên
Vietcatholic.net
Mẹ Têrêsa sáng lập những
chi nhánh ḍng nào?
21/10/2003
ROME - Nhiều người trên thế giới hầu như chỉ biết Mẹ Têrêsa đă lập ḍng Thừa
Sai Bác Ái, mà không biết mẹ Têrêsa đă cùng với một số người khác lập nhiều
chi nhánh ḍng, nhưng cùng chung lư tưởng là thực thi công việc bác ái. Sau
đây là các ḍng được xếp thứ tự theo ngày tháng thành lập.
Thứ nhất: Ḍng Truyền Giáo Bác Ái Nữ được thành lập năm 1948. Ḍng
này do Mẹ thành lập và nhân sự hiện nay của ḍng trên toàn thế giới là 4500
nữ tu.
Thứ hai: Ḍng Truyền Giáo Bác Ái Nam do Mẹ Têrêsa và thầy Andrew sáng
lập tháng 3 năm 1963. Hiện nay nhân số của ḍng khoảng 400. Nhà ḍng chuyên
phục vụ nam giới như săn sóc các người bệnh cùi, bệnh liệt kháng, cai nghiện
thuốc và rượu, săn sóc các người trước kia bị tù đầy.
Thứ ba: Ḍng Truyền Giáo Bác Ái Chiêm Niệm Nữ do Mẹ Têrêsa và chị
ḍng Nirmala Joshi sáng lập vào ngày 25 tháng 6 năm 1976 tại khu Bronx ở
thành phố New York, Hoa Kỳ. Nhân số của chi nhánh này là 100. Lư tưởng của
ḍng là dùng hầu hết th́ giờ vào việc tôn sùng thánh thể, đọc kinh cầu
nguyện cho các hoạt động Truyền Giáo Bác Ái. Các chị ḍng mỗi ngày cũng dành
5 giờ đồng hồ làm công tác bác ái.
Thứ tư: Ḍng Truyền Giáo Bác Ái Chiêm Niệm Nam do Mẹ Têrêsa và cha
Sebastian sáng lập vào ngày 19 tháng 3 năm 1979. Nhân số của ḍng hiện nay
là 30 người chuyên lo cầu nguyện và phục vụ những người nghèo khó trong tù,
trong bệnh viện, kẻ vô gia cư, và những người du mục.
Thứ năm: Ḍng Truyền Giáo Bác Ái gồm các linh mục do Mẹ Têrêsa và cha
Joseph Langford thành lập ngày 26 tháng 6 năm 1984. Nhân số của ḍng hiện
nay là 25 linh mục. Các linh mục ḍng này thực hiện công tác mục vụ bác ái
đối với những người vô gia cư, sống bên lề xă hội.
Ngoài ra c̣n hàng ngàn người t́nh nguyện thuộc đủ mọi tôn giáo, quốc tịch,
giai cấp xă hội, nhưng cùng chia sẻ một lư tưởng của Mẹ Têrêsa. Họ đến các
cơ sở nhà ḍng Truyền Giáo Bác Ái ở khắp nơi trên thế giới để phục vụ người
nghèo và bệnh tật.
Nguyễn Long Thao
Vietcatholic.net
Mẹ Têrêsa, vị tông đồ hoan
lạc
16/10/2003
MẸ TÊRÊSA, VỊ TÔNG ĐỒ HOAN LẠC
Ngay lúc sinh thời, Mẹ Têrêsa đă được nhiều người coi như một vị thánh sống
v́ đă tận tuỵ hiến dâng cuộc đời cho những kẻ bần cùng và những người bị bỏ
rơi trên khắp thế giới. Nhưng hôm 19 tháng 10 này, ngày Khánh nhật Truyền
giáo, khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong chân phước cho Mẹ th́
thực thụ Mẹ đă một bước gần hơn tiến tới bậc hiển thánh.
Theo linh mục Bian Kolodiejchuk, là cáo thỉnh viên vụ tuyên thánh, Mẹ Têrêsa
không chỉ là biểu tượng của một tấm ḷng từ bi nhân hậu và một vị nữ tu hoạt
động xă hội, mà c̣n hơn thế nữa. Sau đây là tŕnh thuật của cha Brian - các
nữ tu ḍng Thừa sai Bác Ai thường gọi tên cha vắn tắt như thế - ngài sinh
tại Winnipeg (tỉnh bang Manitoba, Canada) năm 1956 và gặp Mẹ Têrêsa năm
1977.
Chiều sâu của ḷng phục vụ đầy yêu thương của Mẹ đă được khám phá trong suốt
tiến tŕnh tuyên thánh khởi đầu từ năm 1999, chỉ hai năm sau ngày Mẹ qua đời
ở tuổi 87. Suốt cuộc đời, Mẹ Têrêsa đă rất kín đáo không đề cập tới những
tranh đấu nội tâm cũng như nhiệt tâm thúc đẩy thành lập Tu hội Thừa Sai Bác
Ái.
Trưởng thành về nhân đức
Cha Brian nói: Trong lúc điều tra về cuộc đời Mẹ Têrêsa tôi đă khám phá ra
ngay lúc c̣n là nữ tu ḍng Loreto dạy học tại Calcutta Mẹ đă trưỡng thành
trong cuộc sống tâm linh. Năm 1948, lúc 40 tuổi Mẹ rời bỏ ḍng tu Loreto sau
khi tu tập đă 20 năm trời và cho rằng lúc ra đi Mẹ thấy khó khăn c̣n hơn cả
lúc rời gia đ́nh nữa. Ngay từ năm 1942 Mẹ Têrêsa đă long trọng nhưng âm thầm
khấn hứa là sẽ không từ chối Chúa bất cứ điều ǵ. Đó là một bước quan trọng
trong sự phát triển đời sống đạo đức. Coi ḿnh như là người hiền thê của
Chúa Giêsu, Mẹ Têrêsa đă “bừng cháy một niềm yêu mến Người như chưa từng yêu
Người như thế”, Mẹ đă thuật lại câu đó. Và Mẹ muốn “làm điều ǵ thật tốt đẹp
cho Chúa”.
Khoảng năm 1946-1947 Mẹ Têrêsa đă đạt tới giai đoạn quan trọng trong tiến
tŕnh tăng tiến về nhân đức. Mẹ đă có những đàm thoại nội tâm với Chúa Giêsu
và Chúa đă yêu cầu Mẹ thiết lập một nhóm người mới để phục vụ những người
bần cùng nhất, theo lời Mẹ, là “để thỏa măn ḷng Chúa khát khao t́nh yêu và
các linh hồn”.
Mặc dầu Mẹ cảm thấy không xứng đáng với trách nhiệm lập tu hội, Mẹ nghe
tiếng Chúa thách thức: “Con sợ là con sẽ mất ơn gọi, sẽ trở thành người thế
tục, sẽ bị đ̣i hỏi phải kiên tŕ nhẫn nại. Này con, ơn gọi của con là yêu
mến, là chịu khổ đau và cứu rỗi các linh hồn, và theo đường bước đó con sẽ
thỏa măn nỗi khát khao của trái tim Cha đối với con“. Đă nhiều lần Mẹ nghe
Chúa Giêsu hỏi Mẹ có từ chối lời Người yêu cầu không. Và Mẹ đă không từ chối
Người.
Gương mẫu cuộc sống thánh thiện
Bằng một tấm ḷng nao nức, Mẹ bắt đầu công tác mới phục vụ những kẻ cùng khổ
nhất ở An độ. Mẹ t́m thấy tấm gương khuôn mẫu nơi chị Frances Xivier Cabrini
(1850-1917) một nữ tu người Ư đă phục vụ tại Mỹ. Mẹ Têrêsa viết: “Tôi đọc
sách thuật về cuộc đời của thánh Cabrini, thấy rằng người đă phục vụ hết
ḿnh cho người Mỹ v́ người đă hoà ḿnh làm một người Mỹ như họ. Tại sao tôi
lại không làm được ở An như thánh nhân đă làm ở Mỹ?”
Giai đoạn cuối cùng trong sự tăng tiến về nhân đức của Mẹ đă tới khi Mẹ bắt
tay vào công tác mới. Mẹ khổ sở v́ điều Mẹ gọi là “Bóng tối”: Mẹ mong mỏi
được Chúa, nhưng cảm thấy hụt mất Người.
Mẹ thú nhận: “Tôi càng mong mỏi Chúa tôi càng cảm thấy Người ít cần tôi”.
Nhưng Mẹ vẫn kiên tŕ trong lời đă khấn hứa với Người và trung thành với kỷ
luật tự đặt ra cho ḿnh, chẳng hạn ngày nào cũng thức dậy vào 4g40 sáng để
có mặt đầu tiên tại nhà nguyện. “Bóng tối” đă trở thành người bạn đồng hành
với Mẹ. Mẹ hàng phục Chúa Giêsu bằng một đức tin thuần khiết nhưng mù quáng,
tự coi ḿnh như “cây viết ch́ trong tay Người”
Mẹ là chứng nhân mạnh mẽ cho điều mà nhiều người gọi là “đêm đen bao phủ tâm
hồn”. Mẹ đă có lần viết: “Tôi tự hỏi khi mà trong nội tâm tôi chẳng có ǵ
hết th́ Chúa lấy ǵ mà nhận đây?” Trong một bức thư viết cho Tổng Giám m ục
Calcutta là Ferdinand Perier, Mẹ viết: “Linh hồn con có thật nhiều mâu thuẫn:
con mong muốn Chúa thật sâu xa đến nỗi đau khổ triền miên, nhưng lại thấy
Chúa chẳng muốn ǵ con, thấy bị ruồng bỏ, trống vắng, không niềm tin, không
t́nh yêu, không nhiệt t́nh. Các linh hồn không c̣n là điều làm con hấp dẫn.
Thiên đường không c̣n ư nghĩa, con chỉ thấy như là một nơi trống vắng. Vậy
mà con lại bị hành hạ v́ ḷng mong muốn yêu mến Chúa. Xin cầu nguyện để con
vẫn mỉm cười với Người bất chấp những chuyện đó.”
Mẹ coi điều khổ sở nhất là nỗi khổ của những người không được yêu mến, không
được chăm sóc, không được ai cần, những người nghèo nàn tâm linh mà chính Mẹ
đă trải qua trong mối liên lạc với Chúa Giêsu.
Rạng rỡ niềm vui
Mẹ đă dự phần vào cuộc khổ nạn của Chúa, vào cảm giác bị bỏ rơi nơi vườn Cây
dầu và trên thập giá. Chính sự chia sẻ khổ đau đó với Chúa đă kéo người ta
đến với Mẹ. Và nỗi khổ đau tiếp tục theo Mẹ đến cuối cuộc đời.
Tuy nhiên thay v́ bám chặt lấy nỗi cô đơn của ḿnh, Mẹ đă trở thành vị tông
đồ của niềm vui. Bất chấp nỗi đau khổ của chính ḿnh, Mẹ đă lúc nào cũng làm
rạng rỡ niềm vui cho những người chung quanh, đó là minh chứng hùng hồn đức
tin sâu xa của Mẹ.
Cha Brian đă thấy có mối liên hệ giữa sự tăng tiến nhân đức của Mẹ với công
việc xă hội và cách thức Mẹ thực hiện: Nhiều người đă hỏi tại sao Mẹ không
lập một nhà thương to lớn và tân tiến tại Calcutta mà lại làm Nhà Cho Người
Hấp Hối. Nhưng Mẹ đă muốn mọi công tác phải đuợc thực hiện trên căn bản cá
nhân, cho từng người, để thể hiện t́nh Chúa yêu thương, từ bi và hiện diện,
như lời chứng của một bệnh nhân: “Tôi đă sống như một con vật nhưng với Mẹ
Têrêsa tôi đang chết như một thiên thần.”
Cần phải có một phép lạ trước mới được tuyên thánh. Mẹ Têrêsa đă làm đuợc
phép lạ nào?
Đó là vụ chữa lành năm 1998 cho một phụ nữ An tên Monika Besra, bị sưng một
bướu lớn nơi bụng. Sự chữa lành mau chóng đă hội đủ các điều kiện đ̣i hỏi
của một phép lạ là phải tức thời, hoàn toàn, vĩnh viễn và không giải thích
được bằng khoa học. Monika khoảng chừng hơn 30 tuổi và có 5 đứa con. Bà sẽ
tham dự lễ phong chân phước Mẹ Têrêsa.
Christopher Hitchins đă viết một cuốn sách chỉ trích Mẹ Têrêsa v́ đă liên
lạc với các nhà lănh đạo thối nát như Fidel Castro và Ferdinand Marcos vị
tổng thống Phi luật tân đă bị dân chúng bắt lưu vong, và v́ Mẹ được chữa trị
bằng các phương tiện tốn kém mà những người Mẹ phục vụ không được hưởng. Cha
Brian trả lời rằng: Mẹ đă phải vâng lời các giám mục v́ các ngài yêu cầu cho
Mẹ được chữa trị tại các nhà thương tốt như ở Tijuana. Phải nhiều cố gắng
cam go mới giữ được Mẹ ở trên giường bệnh viện v́ Mẹ vẫn mong muốn đuợc chết
trên chính chiếc giường của ḿnh chung quanh là các chị em của tu hội. Và Mẹ
đă qua đời như vậy.
Vâng phục ư Chúa
Giáo Hội Chúa sẽ phong phú hơn khi Mẹ Têrêsa đuợc tôn phong hiển thánh. Cha
Brian cho biết làm nhiệm vụ cáo thỉnh viên là một kinh nghiệm tốt đẹp cho
ngài.
“Ngoài việc khám phá ra khía cạnh huyền nhiệm nơi Mẹ Têrêsa, tôi c̣n cảm
nhận sâu xa đuợc sự kiện “các thánh cùng thông công” nữa. Lúc này tôi cám ơn
nhiều hơn t́nh thương đích thực và sâu xa của các vị thánh trên thiên đường
đối với chúng ta và thấy các ngài có thể trở thành bạn đồng hành và bằng hữu
của chúng ta. Mẹ Têrêsa chẳng hạn, khi c̣n sống ta khó mà tiếp xúc được với
người bằng điện thoại, và ngay cả khi được người trả lời th́ câu chuyện cũng
vắn tắt lắm v́ người không ưa nói chuyện lâu bằng điện thoại. Thế nhưng bây
giờ th́ tôi có cảm giác rằng người sẵn sàng ở đó 24 giờ một ngày và 7 ngày
một tuần.
Và mặc dầu Mẹ Têrêsa đang trên đường tiến tŕnh trở thành một vị thánh, cha
Brian nói Mẹ cũng đă có những yếu đuối của con người. Mẹ cũng đă có lúc tức
bực, chẳng hạn khi có lầm lẫn trong việc sắp xếp buổi nói chuyện của Mẹ tại
một giáo xứ ở Roma khiến giáo dân phải chờ đợi, Mẹ đă rầy la chị nữ tu có
trách nhiệm nhưng sau đó, theo thói quen của Mẹ, Mẹ đă xin lỗi bằng một cử
chỉ thân thiện.
Một chuyện nữa là Mẹ rất thích carem. Tại nhà ḍng chính ở Calcutta, v́ có
đông các nữ tu nên theo lệ là mỗi năm chỉ có carem hai hoặc ba lần. Nhưng
nếu có ai đưa carem cho Mẹ th́ Mẹ nhận liền. Cha Brian nói khi song thân cha
tới thăm Mẹ thường có đem theo một số bánh ngọt. Mẹ Têrêsa tiếp nhận bánh
ngọt đó với tâm t́nh cũng như khi nhận một món ăn cháy khét, như cả hai đều
do Chúa ban. Đó là cách thức Mẹ vâng theo ư Chúa.
(viết thaeo Desmond O’Grady)
Phạm Hoàng Nghị
Vietcatholic.net
Lời trối của Mẹ Têrêsa
Calcutta, vị thừa sai táo bạo của Phúc Âm
19/10/2004
Hôm nay ngày 19-10, nhân ngày kỷ niệm phong chân phước cho Mẹ Têrêsa thành
Calcutta mà đời sống của Mẹ là một “lời tuyên dương hùng hồn Phúc Âm Chúa”
như chính Đức Gioan Phaolô II đă nói trong dịpo phong chân phước, chúng ta
hăy đọc lại lá thư của Mẹ Têrêsa viết cho các nữ tu Thừa Sai Bác Ái vào ngày
5-9-1997, chỉ vài giờ trước khi Mẹ qua đời. Đây cũng là bản văn được đọc
trong ngày lễ kính chân phước Têrêsa thành Calcutta. Lá thư như sau:
Các chị em thân mến,
Đây là điều mang lại cho chị em t́nh yêu, lời cầu nguyện và phước lành của
Mẹ Thiên Chúa là mỗi người trong chị em phải là tất cả cho Chúa Giêsu qua Mẹ
Maria. Tôi biết rằng Mẹ thường nói “là tất cả cho Chúa Giêsu qua Mẹ Maria”,
thế nhưng cũng bởi v́ đó là tất cả những ǵ mà Mẹ muốn cho chị em, tất cả Mẹ
muốn từ chị em. Nếu trong trái tim của chị em tất cả chỉ v́ cho Chúa Giêsu
qua Mẹ Maria và nếu chị em làm mọi sự chỉ v́ Chúa Giêsu qua Mẹ Maria, th́
chị em đích thực là Nữ tu Thừa Sai Bác Ái.
Cám ơn chị em v́ tất cả những lời chúc yêu mến mà chị em gửi tới trong dịp
Lễ của Hội Ḍng chúng ta. Chúng ta có nhiều điều phải cám tạ Thiên Chúa, đặc
biệt v́ Người đă ban cho chúng ta tinh thần của Đức Mẹ, cũng là tinh thần
của Hội Ḍng. Sự tín tưởng yêu mến và Sự Tận Hiến trọn vẹn đă khiến cho mẹ
nói tiếng “xin vâng” với lời truyền tin của thiên sứ, và Ḷng Vui Tuơi khiến
Mẹ vội vă tới phục vụ người chi họ Elizabeth. Đó cũng chính là cuộc sống của
chúng ta - nói tiếng “xin vâng với Chúa Giêsu và vội vàng phục vụ Người
trong những người khó nhất trong những người nghèo. Chúng ta hăy sống gần
gủi Mẹ và Mẹ sẽ giúp tinh thần đó lớn lên trong mỗi người chúng ta.
Ngày 10 tháng 9 (*) sắp tới nơi. Đó là cơ hội tốt đẹp cho chúng ta đứng gần
Mẹ, lắng nghe Cơn Khát Vọng của Chúa Giêsu và trả lời với hết tâm can của
chúng ta. Chỉ cùng với Mẹ Maria chúng ta mới nghe được tiếng kêu than “Ta
Khát” của Chúa Giêsu, và chỉ với ḿnh Mẹ chúng ta có thể cảm tạ Thiên Chúa
cách xứng hợp v́ đă ban cho Hội Ḍng chúng ta ơn cao trọng này. Năm vừa qua
trong dịp kỷ niệm Lễ Kim Khánh Ngày được Ơn Linh Ứng, và tôi hy vọng rằng
trong cả năm nay sẽ là thời gian biết ơn. Trong ngày hồng phúc này, chúng ta
sẽ không bao giờ hết món quà mà chính Mẹ đă ban cho Ḍng chúng ta. Và v́ thế
không bao giờ ngưng cám tạ v́ điều đó. Hăy để ḷng biết ơn của chúng ta trở
thành quyết tâm mạnh mẽ làm tan biến đi cơn khát của Chúa Giêsu bằng đời
sống bác ái thực sự -- yêu mến Chúa Giêsu trong cầu nguyện, yêu mến Chúa
Giêsu trong các Chị Em của chúng ta, yêu mến Chúa Giêsu trong các người
nghèo khó nhất trong các người nghèo, và không ǵ khác hơn thế cả.
Và giờ đây, tôi nghe thấy được rằng Chúa Giêsu đang ban tặng cho chúng ta
một món quà nữa. Năm nay, sau hơn 100 năm thánh nữ Hoa Hồng Bé Nhỏ của Chúa
Giêsu về nhà Cha trên trời, Đức Thánh Cha tuyên dương Thánh Nữ Hoa Hồng Nhỏ
là tiến sĩ Hội Thánh, như thánh Augustine và Thánh Têrêsa Cả! Đúng như Chúa
Giêsu nói trong Phúc Âm với những người ngồi tại những nơi thấp nhất, “Các
bạn hăy tiến lên chỗ cao hơn”. Do vậy chúng ta hăy giữ vị trí rất nhỏ và
theo đường lối bé mọn của Hoa Hồng Nhỏ, con đường tín thác, t́nh yêu và vui
tươi, và chúng ta sẽ hoàn thành lời hứa của Mẹ Maria là ban các thánh nhân
cho Mẹ Giáo Hội.
(*) Vào ngày 10-9-1946 trong chuyến xe lửa từ Calcutta tới Darjeeling trên
đường đi dự tuần tĩnh tâm hằng năm, Mẹ Têrêsa nhận được ơn “linh ứng”, ơn
gọi từ ơn gọi là: phục vụ những người nghèo khó nhất trong những người nghèo.
LM Trần Công Nghị
Vietcatholic.net
5 năm sau khi Mẹ Têrêsa
qua đời trong cảnh khó nghèo giữa các người nghèo khó nhất của Calcutta
09/09/2002
Mùng 5 tháng 9 năm 1997, cách đây đúng 5 năm, Mẹ Têrêsa thành Calcutta, sáng
lập Ḍng Các Nữ tu Thừa sai bác ái, qua đời trong cảnh khó nghèo giữa các
người nghèo khó nhất của Calcutta, thành phố đă được liên kết với tên Mẹ và
với sứ mệnh tông đồ của Mẹ.
Mẹ qua đời trong cảnh nghèo khó giữa những người nghèo khó nhất trên thế
giới này. Mẹ chỉ để lại làm gia tài một Ảnh Thánh giá và một tràng hạt đă bị
ṃn đi nhiều; đây là tràng hạt mà Mẹ luôn luôn cầm trong tay, để cầu nguyện,
bất cứ ở nơi nào, bất cứ lúc nào, cả lúc Mẹ gặp các Vị lănh đạo các quốc gia,
hay Cộng đồng quốc tế, cả lúc Mẹ lănh Giải thưởng Nobel về ḥa b́nh năm 1979
tại Stockolm, thủ đô Thụy điển. Trước khi qua đời, Mẹ c̣n xin tháo bỏ đôi
giép (sandales) đơn sơ và cũ kỹ, để Mẹ có thể đến trước mặt Chúa không giầy,
không giép, trong sự khiêm tốn tuyệt đối của một trong các người nghèo khó
nhất trên thế giới này.
Mẹ qua đi trong khó nghèo vật chất, nhưng đă để lại một gia tài thiêng liêng
vô giá. Các người thừa kế gia tài này không phải chỉ là những ai đă sống bên
cạnh Mẹ và thi hành cũng một sứ mệnh của Mẹ. Các người thừa kế gia tài của
Mẹ có thể nói được là tất cả mọi người chúng ta, không phân biệt có tín
ngưỡng hay không có tín ngưỡng, bởi v́ tất cả chúng ta, không trừ một ai cả,
đều được mời gọi nh́n nhận khuôn mặt của Chúa Kitô nơi dung mạo của tất cả
những ai bị đau khổ. Nhân loại đau khổ kêu cứu và chất vấn lương tâm mỗi một
người trong chúng ta.
Thật là một gương mù hết sức lố bịch, nếu chúng ta nghĩ đến Hội nghị thượng
đỉnh vừa qua tại Johannesburg. Trong lúc người dân đói khổ, không cơm ăn,
không nước uống, các phái đoàn hùng hậu của các quốc gia tham dự Hội Nghị,
sống tại các khách sạn bốn sao, năm sao, với những thực phẩm hảo hạng, cả
rượu champagne được chở từ các nước Tây phương đến Johannesburg, để thỏa măn
khẩu vị của các phái đoàn trong 10 ngày Hội nghị thượng đỉnh. Trước hội nghị,
nhà cầm quyền Nam phi ra lệnh quét sạch các người hành khất khỏi thành phố.
Các phái đoàn không dám viếng thăm vùng ngoại ô, xóm nhà lá, ổ chuột, nơi
các người nghèo sống chui rúc, thiếu thốn mọi dịch vụ vệ sinh. Cảnh Lagiaro
nghèo khổ, bệnh hoạn, nằm trước cửa nhà người hộ phú chờ đợi những mụn bánh
rơi rớt từ mân cao cỗ đầy... vẫn tiếp diễn hằng ngày trên thế giới văn minh
này, một thế giới vẫn tự phụ tiến bộ về mọi phương diện, nhưng đầy bất công,
ích kỷ, trục lợi...
Chúng ta có thể nhắc lại nơi đây lời Mẹ Têrêsa trả lời cho một phóng viên
báo chí đến quan sát công việc của Mẹ tại Calcutta. Thấy Mẹ làm những công
việc ghê tởm: cúi ḿnh trước những người hấp hối, người phong cùi, ông nói
với Mẹ: Nếu có ai cho tôi một triệu Mỹ kim đi nữa, tôi cũng không có can đảm
làm những việc ghê tởm như vậy. Mẹ trả lời: Tôi không làm v́ tiền bạc. Tôi
làm v́ tôi nh́n thấy khuôn mặt của Chúa đau khổ nơi anh chị em tôi. Khẩu
hiệu được viết khắp nơi tại các cơ sở của Mẹ là chính lời Chúa Giêsu nói
trên Thánh Giá: Ta khát: Ta khát t́nh yêu! Đây là cái Mẹ Têrêsa và các con
cái của Mẹ đang ban phát cho nhân loại đau khổ, bị loại ngoài lề xă hội.
Để biểu lộ ḷng biết ơn Mẹ, vị đại ân nhân không những của Calcutta, của Ấn
độ mà thôi, nhưng của cả nhân loại đau khổ, ngày 13 tháng 9 năm 1997, Chính
phủ đă tổ chức lễ nghi an táng hết sức long trọng, với sự tham dự của nhiều
vị quốc trưởng và thủ tướng trên thế giới. Quốc táng như vậy chỉ dành cho
lănh tụ Mahatma Gandhi, vị Anh hùng của nền độc lập Dân tộc mà thôi. Trong
ngày lễ an táng Mẹ Têrêsa, Ấn độ như ngừng mọi hoạt động để cùng nhau hướng
về Calcutta và nói lên lời cảm ơn Vị Nữ tu của Giáo hội công giáo, đă hy
sinh suốt cuộc đời cho các người nghèo khổ nhất trong các người nghèo khổ.
Người dân Ấn độ không phân biệt tôn giáo: Ấn giáo, Hồi giáo, Kitô giáo đều
nghiêng ḿnh trước thi hài của Vị Nữ tu nầy, nhỏ bé về thể xác, nhưng là một
vĩ nhân trước nhân loại và trước Thiên Chúa.
ĐTC Gioan Phaolô II biết Mẹ từ lâu và đă viếng thăm cơ sở của Mẹ tại
Calcutta trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Ấn độ tháng hai năm 1986. ĐTC đă
cử ĐHY Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh, làm Đặc sứ của ngài, chủ tế thánh lễ an
táng Mẹ Têrêsa. Và chính ĐTC, theo lời thỉnh cầu của nhiều Giám mục và giáo
dân trên thế giới, đă ban phép làm án phong Chân phước cho Mẹ trên cấp giáo
phận, sau hai năm qua đời, thay v́ 5 năm theo luật ấn định. Công việc được
khởi sự ngày 26/07/1999, và ngày Lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời năm 2001
vừa qua, tất cả các hồ sơ đă được Đức TGM Calcutta chuyển về Bộ Phong Thánh
ở Roma. Bộ Phong Thánh đang xúc tiến nhanh chóng, để trong thời gian gần đây,
Mẹ Têrêsa được cất nhắc lên danh dự bàn thờ. Dĩ nhiên người dân, Công giáo
hay ngoài Công giáo, vẫn coi Mẹ là Thánh, ngay từ lúc c̣n sống và mộ của Mẹ
tại Calcutta trở nên nơi hành hương và cầu nguyện hằng ngày. Nhưng để được
tôn kính công khai, sự thánh thiện của Mẹ cần được Giáo hội chính thức công
nhận và tuyên bố.
Có người hỏi: Mẹ Têrêsa đă làm những ǵ đặc biệt? Mẹ trả lời luôn luôn bằng
lời này: Cái chúng tôi làm chỉ là một giọt nước trong Đại dương, nhưng nếu
chúng tôi không làm th́ Đại dương thiếu đi một giọt nước. Trong dịp khác Mẹ
trả lời: Nhưng tôi có làm ǵ đặc biệt đâu.
Ngày nay gia đ́nh tinh thần của Mẹ Têrêsa nguyên ngành nữ mà thôi có khoảng
4,500 Nữ tu huật động trong gần 700 nhà, rải rắc tại 127 quốc gia. Bề trên
Tổng quyền Ḍng Các Nữ Tu thừa sai bác ái, do Mẹ thiết lập ngày 7/10/1950 (Lễ
kính Đức Maria rất thánh Mân côi) là Nữ Tu Nirmala Joshi, từ Ấn giáo trở lại
Công giáo. Được hỏi: Từ ngày Mẹ qua đời, những ǵ đă thay đổi trong 5 năm
nay, Vị Tổng phụ trách trả lời cách hết sức đơn sơ: Không có ǵ thay đổi cả,
bởi v́ các người nghèo luôn luôn ở giữa chúng tôi và Mẹ chỉ xa cách chúng
tôi về thể xác mà thôi. Chúng tôi vẫn tiếp tục làm công việc Mẹ đă dạy chúng
tôi bằng gương sáng của Mẹ. Chúng tôi phục vụ các người nghèo khổ, v́ nơi họ
chúng tôi nh́n ra chính Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu chúng tôi phục vụ nơi các
người nghèo là chính Chúa Giêsu chúng tôi tôn thờ trong Thánh Thể. V́ lư do
này chúng tôi là những người chiêm niệm trong hành động. Cũng nên nhắc lại:
Mỗi ngày, mỗi Nữ tu thừa sai bác ái chầu Thánh Thể một giờ. Chính đây là sức
sống, sức mạnh và thành công của các hoạt động của Hội Ḍng. Mẹ Têrêsa
thường nhắn nhủ con cái Mẹ như sau: Th́ giờ trước Nhà Tạm với Chúa không
phải là th́ giờ mất đi.
Sau khi Mẹ qua đời, Ḍng Nữ tu thừa sai bác ái đă trải qua cả kinh nghiệm
của Phúc Tử đạo. Đây là điều Mẹ vẫn ước ao cho chính ḿnh. Sáu Nữ tu của
Ḍng đă bị sát hại năm 1998 tại Yemen và năm 1999 tại Siera-Leone. Sơ
Nirmala Joshi nói: Chúng tôi rất đau đớn, nhưng đồng thời chúng tôi hănh
diện và cảm tạ Chúa, bởi v́ Người đă ghi dấu Hội Ḍng chúng tôi bằng máu của
các vị tử đạo, dù chúng tôi biết ḿnh không xứng đáng với ơn lạ lùng này.
Chính Mẹ Têrêsa đă cầu xin ơn tử đạo, để hiến tất cả cho Giáo hội. Cũng v́
lư do này chúng tôi biết rằng: Mẹ vẫn tiếp tục nâng đỡ và theo dơi các bước
đi của chúng tôi. Sáu Nữ tu bị sát hại đă có kinh nghiệm về đói khát, mệt
nhọc, bệnh tật, bị đe dọa t́nh mạng và chế nhạo... Các chị em này đă thấy
những tàn bạo bạo vây chung quanh ḿnh, đă thấy sự chết trước mắt: cái chết
của những anh chị em ḿnh và của biết bao người vô tội. Các chị em này không
sợ chết và hô lớn tiếng xin đừng giết những người đă sát hại chị em ḿnh,
bởi chính Chúa Giêsu đă dạy tha thứ không phải một lần, nhưng bẩy mươi bẩy
lần bẩy.
Chính Mẹ Têrêsa đă soạn ra những lời tổng kết bí quyết sống t́nh bác ái như
sau: Thành quả của yên lặng là cầu nguyện - Thành quả của cầu nguyện là đức
tin - Thành quả của đức tin là t́nh yêu - Thành quả của t́nh yêu là phục vụ
- Thành quả của phục vụ là ḥa b́nh. Bí quyết vắn tắt trên đây luôn luôn
được kèm theo lời nguyện: Lạy Chúa, xin làm cho chúng con xứng đáng phục vụ
các người nghèo.
Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn
Tài

|