|
Br. Hiệp Chi, CMC, phỏng dịch
theo cuốn |
||
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tên thật là Karol
JoseF
Wojtyla chào đời ngày
18/05/1920 tại Wadowice, Ba Lan (Poland), trong một gia đ́nh đạo hạnh. Gia đ́nh: - Cha
là Karol Wojtyla là đại uư trong quân đội Ba lan, qua đời năm 1941 Năm 1926, Ngài vào tiểu học và rồi lên trung học Marcin Wadowita, trong những năm tại đây Ngài đă đoạt điểm rất cao và làm chủ tịch Hội tông đồ Đức Mẹ. Năm 1934, Ngài đă bước vào sự nghiệp sân khấu với diễn xuất lần đầu ở Wadowice, và vào năm 1939, Ngài làm việc cho "Pḥng thâu 38", một nhóm sân khấu điện ảnh khảo nghiệm của Tadeusz Kudlinski trong lúc theo học tại Đại học Jagellonian. Người thanh niên trẻ Karol tận hiến đời cho Mẹ Maria khi Ngài muốn trở thành một minh tinh màn ảnh. Sau khi vừa tận hiến, th́ một tư tưởng đến trong đầu Karol: "Tôi muốn là một linh mục"... nhưng suy nghĩ Ngài lại không muốn là một linh mục mà muốn trở thành một minh tinh màn ảnh, thế nhưng ư tưởng trở thành linh mục cứ hiện lên trong trí và rồi sau này, Ngài đă trở thành một linh mục thật! Khi thế chiến thứ hai lan tràn Âu Châu, thanh niên tuấn tú Karol Wojtyla đang "dùi mài kinh sử" tại Đại Chủng viện ở Kraków vào năm 1942, được lén lút tổ chức dưới hầm ṭa Giám mục. Ban ngày các chủng sinh bị xung công đi "lao động là vinh quang" trong một hầm đá; tối về học dưới ngọn đèn cháy leo lét, mù mờ. Một hôm vào tháng 2 năm 1944, sau giờ "đục đá" trở về, Karol bị một chiếc xe nhà binh Đức đụng phải, rồi bỏ chạy. Karol ngă lăn ra, bất tỉnh bên vệ đường. Một phụ nữ, không biết từ đâu chạy đến, đă làm công việc người Samaritan nhân hậu: Karol được bà đỡ dậy và d́u vào nhà thương cấp cứu. Nhờ đó, Karol được cứu sống. Khi ra khỏi bệnh viện, Karol đă cố gắng đi t́m ân nhân ấy để cám ơn, nhưng không gặp được bà. Các bác sĩ cho biết người đàn bà đó có những nét phụ nữ Do Thái. Phải chăng rồi, bà đă bị hốt đi và đưa vào ḷ thiêu sinh cùng với trên 6 triệu người Do Thái đồng hương? Sau này lên ngôi Giáo Hoàng, chính ngài đă kể lại câu chuyện hi hữu và tuyên bố: "Tôi mong được gặp lại người đàn bà đă cứu sống tôi và hôn tay bà để tri ân". Nhân câu chuyện "lịch sử" ấy, hồi đầu, một tờ báo thiên tả của Ư đă xuyên tạc cho rằng, Tân Giáo Hoàng đă có "bồ"! Năm 1945 Quân đội Nga giải phóng Krakow khỏi ách thống trị của Đức Quốc xă và rồi Balan trở thành một quốc gia cộng sản. Karol Wojtyla lănh nhận thừa tác vụ linh mục năm 1946, và rồi đậu tiến sĩ Thần học tại Đại học Angelicum ở Rôma với đề tài luận án tiến sĩ "Những trở ngại của đức tin trong những việc làm của thánh Gioan Thánh giá". Sau đó, từ 1948 đến 1951, ngài đă phục vụ như một linh mục xứ ở Kraków; đoạn trải qua một năm tu nghiệp Triết tại Đại học Jagiellonian. Từ 1952 đến 1958, Karol Wojtyla được bổ nhiệm làm giáo sư Luân lư tại Đại học CG Lublin và làm tuyên úy sinh viên. Năm 1958 linh mục "trẻ tuổi tài cao" đă được tấn phong Giám mục phụ tá, rồi Tổng Giám mục Giáo phận Cracovie, và năm 1967, được cố Giáo Hoàng Phaolô VI vinh thăng Hồng y (Cardinal). Ngài đă tham dự Công đồng Vatican II năm 1963 và đă đóng góp vào nhiều tài liệu, một trong những tài liệu sau này trở thành Tuyên ngôn Tự do tôn giáo. Cùng với hàng Giám mục Ba Lan, nhất là với Hồng y Wyszynski, ngài phải đương đầu với chế độ cộng sản áp đặt trên hơn 85% người Công giáo Ba Lan, để bênh vực đức tin và quyền tự do của con người. Hai mục tiêu ấy, ngài càng mạnh mẽ tiếp tục sau khi lên bậc Giáo Hoàng. Ngày 22-10-1978, lần đầu tiên ra mắt với công chúng trước tiền đường Thánh Phêrô, tân Giáo Hoàng đă xác quyết tuyên bố (Mt 14:27): "Đừng sợ!" "Duc in altum" - "Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới". Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đă thổi vào Giáo hội một nguồn sinh lực mới theo tinh thần Công đồng Vaticanô II. Chỉ vài tháng sau khi nhậm chức, ngài đă lên đường "đi t́m anh em" trong các đoàn chiên khắp thế giới. Đức Giáo Hoàng đă thực hiện tất cả trên 100 chuyến tông du đến 129 quốc gia trên thế giới. Ngài được xem là một trong những vị Giáo hoàng tông du nhiều nhất, phong thánh nhiều nhất. Đến đâu, Giáo Hoàng cũng "củng cố đức tin của anh em", lôi kéo rất nhiều người, khởi động sự chú ư đặc biệt của quần chúng đến sự hữu h́nh và vai tṛ của Giáo hội. MƯU SÁT BIẾN CỐ FATIMA VÀ ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II Ngày 13/5/1981, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bị một thanh niên người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Mehmet Ali Agca 23 tuổi ám sát hụt tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Mehmet Ali Agca đă bắn 4 phát súng 9mm về phía Đức Thánh Cha lúc đó đang đứng chào dân chúng và Ngài đă ngă ra phía sau. Viên đạn thứ nhất trúng bụng, viên thứ 2 trúng tay trái, viên thứ 3 trúng ngực một bà Mỹ 60 tuổi, và viên thứ 4 trúng tay người phụ nữ Jamaica 21 tuổi. Lư do tại sao Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bị ám sát vẫn c̣n nằm trong ṿng bí mật. Mehmet Ali Agca, sinh ngày 9 tháng 1 năm 1958, đă bị kết án tù chung thân về tội mưu sát ĐTC Gioan Phaolô II. Trong Đại Năm Thánh 2000, ĐTC đă xin tổng thống Ư tha cho người sát hại Ngài, và Ali Agca sau 20 năm trong tù đă được Ư trao trả cho Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2001, và tiếp tục ở tù ở quốc gia của ḿnh v́ tội sát hại một vị giám đốc nhật báo vào năm 1979. Ngài đă vào tù thăm người đă bắn Ngài và đă tha thứ cho anh. Ali Agca có lẽ đă cảm kích cử chỉ của Đức Thánh Cha nên đă quỳ xuống hôn tay Ngài cách trân trọng. Chính anh Ali Agca người đă bắn những cú chí tử vào Đức Gioan Phaolô II, đă hết sức ngạc nhiên, tại sao bị thương như vậy, mà ĐTC đă không chết. Việc ĐTC không chết, là v́ có bàn tay Đức Mẹ Fatima. Chính ĐTC đă công nhận như vậy và ngày 12-13/05/1982, ngài đă đến Fatima hành hương, để tạ ơn Đức Mẹ và tuyên bố rơ ràng: "Đức Mẹ Maria đă cứu sống tôi". Để ghi nhớ muôn đời, một trong các viên đạn được lấy ra lúc giải phẫu cho ĐTC, tại Bệnh viện Bách Khoa Gemelli ở Roma, đă được ghép vào triều thiên của Đức Mẹ tại Đền Thánh Fatima trong dịp ĐTC đến hành hương tạ ơn 13/05/1982. Trong cuộc hành hương Năm Thánh 2000, ĐTC c̣n để lại một kỷ niệm khác nữa: đặt dưới chân Mẹ chiếc nhẫn Giám mục quí giá, do Đức Cố Hồng Y Stefan Wyszynski, Giáo chủ Ba lan và TGM Varsovie, tặng cho ngài khi được bầu làm Giáo Hoàng (16/10/1978). C̣n chiếc giây lưng trắng bị đẩm máu trong vụ mưu sát tại Quảng trường Thánh Phêrô lúc 17giờ 10 phút ngày 13/05/1981, đă được để lại làm kỷ niệm tại Czestochowa, Đền Thánh quốc gia Ba lan, nơi ĐTC đă đến hành hương nhiều lần trong những năm sinh sống tại Ba lan và cả sau khi đă làm Giáo Hoàng. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đă cho phổ biến chuỗi Mân Côi thứ 4, tức Chuỗi Sự Sáng thêm vào 3 chuỗi Mân Côi đă có từ lâu, có lẽ cũng xuất phát từ ḷng tri ân Mẹ. Cuộc điều tra sau đó cho thấy kẻ sát nhân đă "ra tay" do một đường dây mật vụ cộng sản, v́ ảnh hưởng của nhà lănh đạo tinh thần [cho hơn một tỉ tín hữu trên toàn cầu] quá lớn lao, trong công cuộc giải phóng quốc gia Ba Lan và Đông Âu nói chung. V́ thương yêu dân tộc ḿnh, ngài đă từng tuyên bố: "Tôi sẽ từ chức, về nước để đồng cam cùng khổ với dân chúng Ba Lan". (Carl Bernstein, TIME, số đề ngày 24-2-1992). Mới đây, Nhật báo Corriere
della Sera xuất bản ở Ư cho biết chính quyền Đức hiện nay đă t́m thấy hồ
sơ ám sát ĐGH tại sở mật vụ của cộng sản Đông Đức ngày xưa. Và nội dung hồ
sơ cho thấy mật vụ KGB của cộng sản Nga đă ra lệnh lệnh cho nhân viên t́nh
báo của Bulgaria thi hành âm mưu ám sát ĐGH. Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa đă cho Giáo hội có một vị Giáo Hoàng đáng kính và đầy ḷng yêu thương, nhân từ. Sưu tầm và chuyển dịch 020/4/2005 Những nét chính
trong cuộc đời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
QUÊ HƯƠNG BA LAN
Lúc c̣n nhỏ Ngài có tham gia vào Hội
Giúp lễ và Hội Thanh Niên Công Giáo. Lớn lên trong tuổi thanh niên giữa
lúc Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ và Đức Quốc Xă chiếm đóng và tàn phá Balan;
lại cha mẹ đă mất, nên Karol Joseph phải tự lập, vừa đi làm việc tại xưởng
thợ, vừa đi học; có lúc viết báo, làm thơ, kịch nghệ; có thời gian tham
gia các tổ chức kháng chiến chống Đức Quốc Xă. Các Chủng Viện huấn luyện
linh mục lúc đó phải đóng cửa, nên phải lén tu học. Trong một dịp gặp gở
các chủng sinh tại Rôma, vào Mùa Chay năm 2003, Đức Giáo Hoàng đă kể lại
kinh nghiệm “tu chui” của Ngài dưới thời Đức Quốc Xă đang chiếm đóng tại
Balan cách nay đă hơn 60 năm (lúc đó Ngài 20 tuổi). Các Chủng viện đều
phải đóng cửa, dù lúc đó các chủng sinh đang tu rất đông. V́ thế Ngài vừa
phải đi làm như công nhân, vừa học. Khi làm “ca” ngày hay khi làm “ca” đêm
Ngài đều mang sách vỡ học thêm. Thông cảm hoàn cảnh của Ngài, các bạn làm
cùng xưởng hoá chất với Ngài, thường phụ giúp công việc cho Ngài để Ngài
có thời giờ học bài của chủng viện, và Ngài nói: “Thật là ơn lạ của Chúa
mà một thanh niên Balan sống trong thời chiến tranh, vừa đi học, vừa đi
làm, một chủng sinh “tu chui” mà bây giờ trở nên một Giáo Hoàng! “. Sau đây chúng tôi xin gửi đến
quư vị một bài báo nói về những cái “nhất” của Đức Giáo Hoàng Phaolô II:
CHÚC THƯ CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II "Totus Tuus ego sum" (Tiếng La-tinh "Con hoàn toàn ở trong tay Người" Trong Danh Ba Ngôi Cực
Thánh. Amen. Tôi tạ ơn tất cả mọi người. Xin mọi người tha thứ cho tôi. Và tôi xin mọi người cầu nguyện để xin ḷng thương xót của Thiên Chúa rộng lớn bao la hơn là các yếu đuối và bất xứng của tôi. Trong những buổi tĩnh tâm, tôi suy niệm dựa trên chúc thư của Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô VI. Từ sự học hỏi này đă dẫn tôi viết ra những lời di chúc hiện tại. Tôi chẳng để lại tài sản đáng giá nào để chia cả. Những đồ vật sử dụng hằng ngày tôi để lại và chia cho nhau đúng nghĩa. Những bản văn viết tay xin đốt hết. Tôi xin cha Don Stanislaw Stanislao Dziwisz điều hành việc này (thư kư riêng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Dziwisz), tôi cám ơn ngài về sự cộng tác và giúp đỡ kéo dài suốt nhiều năm qua và quá hiểu nhau. Tất cả những lời tri ân khác, thay vào đó, tôi đặt vào trái tim tôi mang tới trước chính Thiên Chúa, bởi v́ khó diễn tả những điều đó được. C̣n về tang lễ, tôi lập lại cùng cách thức đă được Đức Thanh Cha Phaolô VI đề ra là chôn dưới ḷng đất, không phải trong ḥm đá (chỗ này được bổ túc vào ngày 13.3.1992). "Totus Tuus ego sum" (Tiếng La-tinh "Con hoàn toàn ở trong tay Người") Gioan Phaolô II Ngày 5 tháng 3 năm
1982 3. Như tôi vẫn làm hằng năm trong những buổi tĩnh tâm, tôi đọc chúc thư của tôi từ ngày 6 tháng 3 năm 1979. Tôi tiếp tục giữ chiều hướng trong bản văn này. Điều sau này ngay cả trong những lần tĩnh tâm kế tiếp được thêm vào tạo thành một sự suy niệm về t́nh trạng khó khăn và căng thẳng đánh dấu của những năm 80. Từ mùa Thu năm 1989, th́ t́nh trạng này đă thay đổi. Vào Thập niên cuối cùng của thế kỷ th́ không c̣n những căng thẳng như trước kia nữa; điều đó không có nghĩa là nó không mang đến những trở ngại và những khó khăn mới. Trong một cách đặc biệt, ước ǵ Thiên Chúa được ca ngợi về điều này, rằng thời gian được gọi là "chiến tranh lạnh" đă chấm dứt mà không có sung đột nguyên tử, một nguy hiểm đă đè nặng thế giới trong thời gian trước đây. 4. Ở trước ngưỡng cửa của Ngàn năm thứ ba "in medio Ecclesiae", tôi mong được một lần nữa bày tỏ ḷng tri ân đến Chúa Thánh Thần cho ân sủng lớn lao của Công Đồng Vaticanô II, mà cùng với toàn Giáo hội - và trên tất cả chức cai quản Giáo hội - tôi cảm thấy mang ơn Ngài. Tôi tin rằng thời gian dài tới đây những thế hệ mới sẽ hưởng sử giàu có mà Công đồng này trong thế kỷ 20 đă mang lại cho chúng ta. Là một vị Giám mục đă tham dự biến cố công đồng ngay từ ngày đầu cho tới ngày cuối, tôi ước mong tin thác di sản lớn lao này nơi tất cả những người đang và sẽ được kêu gọi trong tương lai nhận ra công đồng ấy. Phần tôi, tôi cám ơn vị Chủ Chăn hằng hữu đă cho phép tôi được phục vụ đại nghĩa rất lớn lao này trong suốt thời gian của những năm giáo hoàng của tôi. "In medio Ecclesiae" (giữa ḷng Giáo Hội)... từ những năm đầu của mục vụ là một Giám mục, cách riêng xin cám ơn Công Đồng - chính nhờ đó tôi đă có thể kinh nghiệm sự hiệp thông huynh đệ của các chức vụ cai quản Giáo hội. Là một linh mục của Tổng Giáo phận Krakow, tôi đă kinh nghiệm sự hiệp thông giữa các linh mục với nhau - và Công Đồng đă mở ra một chiều hướng mới qua kinh nghiệm này. 5. Bao nhiêu người tôi có thể liệt kê ra cho hết được! Có thể Thiên Chúa đă gọi về với Ngài đại đa số họ rồi - và cho những người vẫn c̣n ở bên (thế giới) này, ước ǵ những lời của chúc thư này nhắc nhở họ, mọi người và mọi nơi, bất kể nơi nào họ đang ở. Trong thời gian hơn 20 năm mà tôi đang hoàn thành sứ vụ của Thánh Phêrô "In medio Ecclesiae" (giữa ḷng Giáo Hội) tôi đă kinh nghiệm ḷng từ tâm và ngay cả sự cộng tác dồi dào của rất nhiều Hồng Y, các Tổng Giám mục, các Giám mục, rất nhiều linh mục, rất nhiều tu sĩ tận hiến - các thầy, các sơ - và, sau hết, rất nhiều, nhiều lắm các giáo dân, người trong Giáo Triều, trong sở hạt giáo phận Rôma, cũng như ngoài lănh vực này. Làm sao tôi không thể ấp ủ những kỷ niệm đầy ḷng biết ơn đối với tất cả các Giám mục trên thế giới mà tôi đă gặp trong những lần thăm viếng “viếng Mộ các Thánh Tông Đồ” "ad limina Apostolorum". Làm sao tôi không thể nhớ rất nhiều anh em ngoài Kitô giáo! Và giáo sĩ Do thái Rôma và rất nhiều đại diện của những tôn giáo ngoài Kitô giáo! Và bao nhiêu đại diện của các văn hóa, khoa học, chính trị và tất cả mọi phương tiện truyền thông xă hội trên thế giới! 6. Cuối đời của tôi đang tới, tôi trở về với kư ức của tôi từ thuở ban đầu, với cha mẹ tôi, với anh tôi, với chị tôi (Tôi không biết chị v́ chị đă chết trước khi tôi sinh ra), với cộng đoàn ở Wadowice, nơi tôi chịu Phép rửa, với thành phố tôi yêu mến, với những người đồng nhiệp, bạn bè trường tiểu học, trung học và đại học, cho tới thời gian làm việc khi tôi c̣n là một công nhân, và rồi trong cộng đoàn Niegowic, rồi đến St. Florian's in Krakow, với các giáo sư học viện, với môi trường xă hội của... với tất cả các môi trường... với giáo phận Krakow và với Rôma... với tất cả những người đă tín thác nơi tôi trong một cách đặc biệt do Thiên Chúa gởi tới. Với tất cả mọi người, tôi muốn nói một điều thôi: "Xin Thiên Chúa trả công cho quư vị" "In manus tuas, Domine, commendo spiritum meum." "Trong tay Ngài, lạy Chúa! con phó dâng linh hồn con." A.D. ngày 17 tháng 3 năm 2000 ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II: CHÚC THƯ
LỜI CẦU TẠ ƠN VÀ PHÓ THÁC Lời ngỏ: Đức Thánh Cha yêu dấu của chúng ta đă ĺa trần tối hôm thứ bảy 2 tháng tư, 2005, vào lúc 21g37, đúng vào ngày Chúa Nhật mục vụ Ḷng Thương Xót Chúa. Hơi thở cuối cùng của Ngài là một « hơi thở t́nh yêu », theo như sự ước nguyện của Ngài, trong lời kinh mà ngài dâng lên Chúa nhân từ nhân dịp ngày sinh nhật thứ 65 của ngài : Lạy Chúa, Chúa đă ban cho con một đặc ân vô giá của sự sống, và từ khi con được sinh ra đời, Chúa đă không ngừng ban tặng cho con muôn vàn hồng ân và t́nh yêu vô cùng của Chúa. Trong những năm qua, lẫn lộn biết bao điều xăy đến cho con cũng như cho bao nhiêu người khác: nào là những niềm vui lớn lao, nào là những thử thách, những thành công và thất bại, sự thăng trầm của sức khỏe, và sự ra đi của những người thân yêu. Nhờ hồng ân và sự trợ giúp của Chúa, con đă vượt qua được những trở ngại đó và tiến lên với Chúa. Ngày hôm nay, con cảm thấy ḿnh được lớn lên trong kinh nghiệm đó và được tràn đầy an ủi v́ đă được Chúa yêu thương. Linh hồn con ca ngợi và cảm tạ Chúa. Nhưng con gặp hằng ngày chung quanh con những người già yếu đang chịu bao thử thách mà Chúa gởi đến: người này bị tê liệt, tật nguyền, mất khả năng suy nghĩ và thường khi không c̣n sức để cầu nguyện, người khác lại không thể đạt đến Chúa qua thế giới ảo tưởng của họ. Con nh́n họ hành động và tự nhủ : « Nếu con là họ th́ sao?» Vậy xin Chúa, ngay ngày hôm nay, khi con c̣n có đủ khả năng di động và suy nghĩ, con xin chấp nhận vâng theo Thánh ư Chúa, và kể từ nay, con mong ước rằng bất cứ biến cố nào xảy đến cho con, đều được dùng để tôn vinh Chúa và cứu chuộc các linh hồn. Và cũng kể từ nay, xin Chúa ban cho con hồng ân của Chúa để con có thể đến với những người đang cần con giúp đỡ. Nếu một mai, khi bệnh tật lan tràn trí năo con khiến con không c̣n sáng suốt, con xin dâng lên Chúa ngay bây giờ sự phục tùng của con trước Nhan Thánh Chúa, tiếp theo đó là sự tôn thờ trong thinh lặng. Nếu một ngày nào đó, con ở trong trạng thái tâm thần vô ư thức, con ao ước rằng mỗi một giờ con phải sống, sẽ là một chuỗi lời cảm tạ tri ân không ngừng và hơi thở sau cùng của con sẽ là một hơi thở t́nh yêu. Giờ đây, linh hồn con được d́u dắt trong tay Mẹ Maria, và được tŕnh diện trước mặt Chúa để ca ngợi Chúa đến muôn đời. Amen. ĐTC Gioan Phaolô II
|
Đừng Sợ Lại một lần nữa, Cha xin lặp lại với tất cả mọi người ngày nay tiếng kêu tha thiết mà Cha đă bắt đầu gióng lên vào lúc khởi đầu tác vụ mục chủ của Cha: “Đừng sợ! Hăy mở rộng các cánh cửa cho Chúa Kitô!” Hăy mở cho quyền năng cứu độ của Người: biên giới của các quốc gia, và các hệ thống chính trị, kinh tế, cũng như các lĩnh vực bao la của văn hoá, văn minh, và phát triển. Đừng sợ. Chúa Kitô biết “mọi sự trong thâm tâm mỗi người.” Chỉ duy ḿnh Người biết! Ngày nay người ta quá thường không biết những ǵ họ mang trong ḷng, trong nơi sâu thẳm nhất của linh hồn họ, trong trái tim họ. Người ta quá thường không nắm chắc về ư nghĩa cuộc sống trên trần gian. Bị ngập tràn bởi những nghi ngờ, họ đă đi đến chỗ thất vọng. Do đó – với ḷng khiêm tốn và tin tưởng Cha nài van các con – hăy để cho Chúa Kitô nói với con người ở trong các con. Chỉ duy ḿnh Người mới có những lời ban sự sống, sự sống đời đời. Hăy Vượt trên Chính Ḿnh Ở đỉnh cao mặc khải, Ngôi Lời nhập thể đă tuyên bố: “Ta là sự sống” (Ga 14, 6), và “Ta đến để cho chúng được sống” (Ga 10, 10). Nhưng sự sống nào vậy? Chủ ư của Chúa Giêsu rất rơ ràng: chính sự sống của Thiên Chúa, sự sống siêu vượt trên tất cả mọi khát vọng của trái tim con người (x. 1Cr 2, 9). Thực ra nhờ ân sủng phép Rửa tội, chúng ta đă là con cái Thiên Chúa (x. 1Ga 3, 1-2). Chúa Giêsu đă đến gặp gỡ những người nam cũng như nữ, để chữa lành bệnh tật khổ đau, để giải phóng những người bị qủi ám và để phục sinh kẻ chết. Người đă hiến ḿnh trên thập giá và sống lại từ cơi chết, để tỏ ra rằng Người là Chúa của sự sống – là tác giả và là nguồn mạch sự sống bất tận. Kinh nghiệm hàng ngày cho chúng ta thấy rằng sự sống đă mang dấu vết tội lỗi và bị cái chết đe doạ, bất chấp nỗi khát mong sự thiện đang rung động trong trái tim chúng ta và niềm khát vọng được sống đang châu lưu trong huyết mạch chúng ta. Tuy nhiên, với một chút để ư đến những nỗi thất vọng mà cuộc sống đem lại, chúng ta khám phá ra rằng mọi sự trong chúng ta đều thúc bách chúng ta vượt lên trên chính ḿnh, thắng lướt cơn cám dỗ sống hời hợt hoặc tuyệt vọng. Chính lúc đó con người được kêu gọi trở nên môn đệ của Đấng vô cùng siêu vượt trên họ, để rồi sau cùng tiến vào sự sống đích thực. Kiếm T́m Sự Sống Mới Nếu để mặc chúng ta, chúng ta không bao giờ có thể đạt tới cùng đích mà v́ đó chúng ta đă được tạo dựng. Trong chúng ta có một ước hẹn mà chúng ta thấy rằng ḿnh không có khả năng đạt tới. Nhưng Con Thiên Chúa đă đến giữa chúng ta, ban cho chúng ta lời quả quyết: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6). Như thánh Augustinô cũng đă nói lên điều đó một cách sâu sắc: Chúa Kitô “muốn tạo nên một chỗ để cho tất cả mọi người có thể đến t́m sự sống thật.” “Chỗ” đó là thân xác và Thần khí của Người, trong đó toàn thể sự sống nhân loại đă được cứu chuộc và được tha thứ, được đổi mới và được làm cho nên thần linh... Trong mầu nhiệm thập giá và phục sinh của Người, Chúa Kitô đă phá hủy sự chết và tội lỗi. Người đă lấp khoảng cách vô cùng đang phân rẽ mọi người ra khỏi sự sống mới trong Người. Người đă tuyên bố: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ sống, và ai đang sống mà tin vào ta sẽ không bao giờ chết” (Ga 11, 25). Chúa Kitô hoàn thành tất cả những điều ấy bằng cách trào đổ Thần khí của Người, Đấng tặng ban sự sống, trong các nhiệm tích; đặc biệt trong nhiệm tích Rửa tội, nhiệm tích mà nhờ đó sự sống mỏng ḍn chúng ta lănh nhận từ nơi cha mẹ, sự sống đă được tiền định phải chết, đă trở nên đường đưa tới vĩnh cửu; trong nhiệm tích thống hối, nhiệm tích không ngừng đổi mới sự sống Thiên Chúa trong chúng ta nhờ sự tha thứ tội lỗi; và trong nhiệm tích Thánh Thể, “Bánh Sự sống”(x. Ga 6, 34), bánh nuôi dưỡng “sự sống” và ban sức mạnh cho từng bước chân họ trên con đường lữ hành dương thế. Trên Đường Emmaus với Chúa Giêsu “Mắt họ đă mở ra và họ đă nhận ra Người, nhưng Người lại biến đi trước mắt họ. Rồi họ bảo nhau: ‘Ḷng chúng ta đă chẳng bừng cháy lên trong chúng ta khi Người nói chuyện và giải thích Thánh Kinh cho chúng ta đó sao?’” (Lc 24, 31-32). Chúng ta, những người thuộc thế hệ hiện tại của những người tuyên xưng Chúa Kitô, chúng ta phải thấy có cùng cái kinh nghiệm như hai môn đệ trên đường Emmaus. Chúng ta hăy cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin hăy làm cho chúng con am hiểu Thánh Kinh; xin hăy làm cho trái tim chúng con bừng cháy lên trong chúng con khi Chúa nói với chúng con.” Chúng ta hăy làm cho trái tim chúng ta nóng cháy lên! Đức tin không thể chỉ là những yếu tố xơ cứng lạnh lẽo được tính toán và cân đo bằng lư trí. Không, đức tin phải được kích hoạt bằng t́nh yêu. Nó phải được sống động nhờ những việc thiện bộc lộ chân lư của Thiên Chúa trong chúng ta. Cho dù chúng ta không trực tiếp chứng kiến tận mắt sự phục sinh của Chúa, th́ chúng ta cũng thừa kế chứng từ của các tông đồ để lại. Chính chúng ta trở nên nhân chứng cho Đức Kitô. Là kitô hữu phải có nghĩa là làm nhân chứng cho Đức Kitô. T́nh Yêu Không Biên Giới Chúa Giêsu đem các giới răn của Thiên Chúa đến chỗ hoàn thành, đặc biệt là giới răn thương người, bằng cách đi sâu vào bên trong những đ̣i hỏi của những giới răn đó và nêu lên ư nghĩa đầy đủ nhất của chúng. Việc yêu mến tha nhân nảy sinh từ một con tim yêu thương. Đúng là v́ nó yêu nên nó sẵn sàng sống qua những thử thách lớn lao nhất. Chúa Giêsu cho thấy rằng những giới răn phải được hiểu như một giới hạn tối thiểu không được vượt qua, đúng hơn như một bước đường bao gồm một hành tŕnh thiêng liêng và luân lư đi tới sự hoàn thiện, mà tâm điểm của nó là t́nh yêu (x. Cl 3, 14). Do đó, giới răn “Chớ giết người” trở nên một lời gọi đến một t́nh yêu ân cần che chở và thăng tiến sự sống của tha nhân. Giới răn chớ ngoại t́nh trở nên lời mời gọi nh́n tha nhân một cách trong sạch, giúp ta biết tôn trọng ư nghĩa phu thê của thể xác... Chúa Giêsu chính là sự “hoàn thành” sống động của Lề luật v́ Người đă hoàn thành ư nghĩa xác thực của luật pháp bằng việc hiến toàn thân Người: chính Người đă trở nên luật sống, mời gọi mọi người bước theo ḿnh. Nhờ Thần khí, Người ban ân sủng chia sẻ sự sống và t́nh yêu của Người và thông ban sức mạnh để ta làm chứng cho t́nh yêu đó trong các lựa chọn và hành động cá nhân (x. Ga 13, 34-35). Đức Công B́nh Xót Thương Thiên Chúa, Đấng luôn luôn xót thương ngay cả khi Người trừng phạt, “đă đánh dấu trên Cain để bất kỳ ai gặp nó cũng đừng sát hại nó” (Stk 4, 15). Do đó Người đă cho nó một dấu hiệu phân biệt, không phải để kết án nó trước sự căm hận của người khác, nhưng để che chở và bênh vực nó khỏi những người đang muốn giết nó, đang muốn báo thù cho cái chết của Abel. Dù là một tên sát nhân cũng không bị mất phẩm cách, và chính Thiên Chúa đă hứa bảo đảm cho điều này. Và chính ở nơi đây mầu nhiệm nghịch lư của đức công b́nh xót thương của Thiên Chúa được thể hiện. Như thánh Ambrôsiô đă viết: “Thiên Chúa bắt Cain phải khuất mặt Người và đuổi nó vào nơi lưu đày xa khỏi mảnh đất quê hương, để hắn đi từ sự sống của nhân loại đến sự sống tương tự như sự sống thô bạo của dă thú. Thiên Chúa, Đấng muốn cho tội nhân được cải thiện hơn là muốn nó phải chết, đă không muốn một kẻ sát nhân bị trừng phạt theo kiểu mạng đền mạng.”1 Hoà B́nh Phải Trở Nên Mục Tiêu Của Các Con Để đảo ngược xu hướng chạy đua vũ trang hiện nay đ̣i phải có một cuộc phấn đấu song song trên hai giới tuyến: một mặt phải có một cuộc phấn đấu khẩn cấp và trực tiếp do các chính phủ thực hiện nhằm cắt giảm vũ khí của họ một cách đồng bộ; mặt khác, phải có một cuộc phấn đấu kiên nhẫn nhưng cũng khẩn thiết trên b́nh diện ư thức của người dân để họ có trách nhiệm đối với nguyên nhân luân lư của sự bất ổn phát sinh bạo lực. Họ cũng phải hiểu biết những bất b́nh đẳng về vật chất lẫn tinh thần của thế giới chúng ta... Hoà b́nh... phải trở nên mục tiêu của tất cả mọi người nam và nữ có thiện chí. Bất hạnh thay, trong thời đại chúng ta vẫn c̣n có những thực tại buồn thảm phủ bóng trên phạm vi quốc tế. Chúng gây ra nỗi đau phá hoại, như thế chúng cũng có thể khiến cho nhân loại đánh mất niềm hy vọng có thể làm chủ được tương lai của chính ḿnh... trong sự hợp tác của các dân tộc. Bất chấp những nỗi đau buồn đang tràn ngập linh hồn cha, cha cảm thấy có quyền, thậm chí bắt buộc phải long trọng tái khẳng định trước toàn thể thế giới điều mà vị tiền nhiệm của cha và chính cha cũng đă lặp lại rất thường xuyên nhân danh lương tâm, nhân danh nền luân lư, nhân danh nhân loại, và nhân danh Thiên Chúa rằng: Hoà b́nh không phải là điều không tưởng, cũng không phải là một lư tưởng không thể đạt tới được, cũng không phải là một giấc mơ không thể thành hiện thực. Chiến tranh không phải là một tai ương không thể tránh. Hoà b́nh là chuyện có thể làm được. Và bởi v́ nó là chuyện có thể, nên hoà b́nh là bổn phận của chúng ta: là bổn phận trọng đại, là trách nhiệm cao cả của chúng ta. Muốn Có Hoà B́nh, Hăy Phục Vụ Người Nghèo Vị tôn sư thần linh đă dùng lời nói dạy chúng ta những bài học đặc biệt cần thiết về nhân đức khó nghèo, nhân đức sẽ dẫn chúng ta đến tự do đích thực. Đấng “tuy mang thân phận Thiên Chúa, đă không đ̣i hỏi phải được ngang hàng với Thiên Chúa. Đúng hơn, Người đă tự hủy ḿnh và mặc lấy thân phận nô lệ” (Pl 2, 6-7). Người đă sinh ra trong nghèo khó. Người đă sống như một người “không có nơi dựa đầu” (Mt 8, 20). Người... đă chịu một cái chết dành cho các tội phạm. Người đă gọi người nghèo khó là có phúc và hứa rằng Nước Trời là của họ (x. Lc 6, 20). Người đă nhắc nhở những người giầu có rằng họ rất khó vào nước Thiên Chúa (x. Mc 10, 25). Gương sáng của Đức Kitô, không kém Lời của Người, là chuẩn mực cho các kitô hữu. Chúng ta biết rằng vào ngày chung thẩm tất cả chúng ta, không phân biệt, sẽ bị phán xét về việc thực hành t́nh yêu đối với các anh chị em chúng ta. Vào ngày đó, họ sẽ thấy rằng chính trong t́nh yêu thực hành mà nhiều người sẽ khám phá ra ḿnh đă từng được thực sự gặp gỡ Đức Kitô, dù trước đây họ đă không minh nhiên biết Người (x. Mt 25, 35-37). “Nếu các con muốn có hoà b́nh, hăy đi đến với người nghèo!” Ước ǵ người giầu và người nghèo đều nhận ra rằng họ là anh chị em với nhau. Ước ǵ họ biết chia sẻ cho nhau những ǵ họ có, như những người con của cùng một Thiên Chúa, Đấng yêu thương mọi người, Đấng muốn sự lành cho mọi người, Đấng ban cho mọi người tặng ân an b́nh! Trên Đường Lữ Hành Tiến Về Ánh Sáng Bất Diệt Công đồng Vaticanô II nói về Giáo hội lữ hành, khi đặt ra một sự so sánh với dân Israel trong Cựu Ước đang hành tŕnh qua sa mạc. Cuộc hành tŕnh cũng có một tính chất bề ngoài, hữu h́nh, trong thời gian và không gian trong đó nó thực sự xảy ra về mặt lịch sử. V́ Giáo hội “được tiền định để mở rộng ra tới mọi miền thế giới và cũng đi vào trong ḍng lịch sử nhân loại,” nhưng đồng thời “Giáo hội cũng vượt trên tất cả mọi giới hạn của thời gian và không gian.”2 Tuy thế tính chất căn bản của cuộc lữ hành của Giáo hội là ở bên trong: đó là vấn đề của cuộc lữ hành qua đức tin, nhờ “quyền năng của Chúa Phục Sinh,”3 một cuộc lữ hành trong Thánh Thần, được ban cho Giáo hội như Đấng An ủi vô h́nh... (x. Ga 14, 26; 15, 26; 16, 7). [như Công đồng nói,] “Nhờ đi qua đau khổ và thử thách, Giáo hội được củng cố bởi quyền năng của ân sủng Thiên Chúa do Đức Chúa hứa ban cho Giáo hội, để... nhờ được Thánh Thần thúc đẩy, Giáo hội không bao giờ ngừng canh tân chính ḿnh, cho tới khi nhờ thập giá Giáo hội đạt tới ánh sáng bất diệt”.4 Tất cả Chúng Ta đều là “Những Người Con Trưởng” Dụ ngôn người con hoang đàng, trên hết, là câu chuyện về t́nh yêu khôn tả của Người Cha – Thiên Chúa – Đấng mà khi đứa con quay trở về, đă ban cho nó tặng ân giao hoà trọn vẹn. Nhưng khi dụ ngôn đó, qua khuôn mặt của người con trưởng, gợi lên thói ích kỷ vốn làm cho anh em chia rẽ nhau, th́ nó cũng trở nên câu truyện về gia đ́nh nhân loại: nó miêu tả t́nh trạng của chúng ta và mở ra một lối đi. Người con hoang đàng... đại diện cho những người nhận biết sự sống trong thâm sâu ḷng ḿnh, nhận ra nỗi khát mong giao hoà trên mọi b́nh diện và không giới hạn. Với niềm xác tín bên trong, họ nhận ra rằng sự giao hoà này chỉ có thể nếu nó phát sinh từ sự giao hoà đầu tiên và cơ bản – sự giao hoà đem con người từ sự chia ly xa cách đến t́nh thân thiện thảo hiếu với Thiên Chúa, Đấng có ḷng thương xót vô biên. Nhưng nếu dụ ngôn được đọc từ quan điểm về người con trưởng, nó sẽ miêu tả t́nh trạng gia đ́nh nhân loại, đă bị phân rẽ bởi những h́nh thức ích kỷ. Nó cho thấy sự khó khăn liên quan đến việc làm thoả măn nỗi khát mong cho nhân loại thành một gia đ́nh duy nhất được hoà giải và được hiệp nhất. Do đó, nó nhắc nhở chúng ta về nhu cầu cần phải biến đổi sâu xa các tâm hồn thông qua sự tái khám phá ḷng nhân từ của người cha và thông qua sự chiến thắng trên những hiểu lầm và những hiềm thù giữa các anh chị em với nhau. Tặng Ân Hoà Giải Câu truyện Vườn Eden khiến chúng ta suy tư về những hậu quả thê thảm của sự chối bỏ Người Cha, sự chối bỏ đă trở nên rơ ràng trong sự xáo trộn bên trong nhân tính và trong sự làm mất hoà điệu giữa người nam với người nữ, giữa anh em với anh em. Cũng đáng kể dụ ngôn Phúc âm về hai anh em, những người mà bằng những cách khác nhau, cũng tách ĺa khỏi người cha v́ một rạn nứt giữa họ. Từ chối t́nh yêu hiền phụ của Thiên Chúa và từ chối những tặng ân yêu thương của Người th́ luôn luôn là cội gốc của những chia rẽ nhân loại. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa, “giầu ḷng nhân từ” (x. Ep 2,4), giống như người cha trong dụ ngôn, không hề khép chặt ḷng lại trước bất cứ người con nào. Người chờ đợi họ, t́m kiếm họ, đi gặp họ tại nơi mà sự từ chối hiệp thông tù hăm họ trong sự cô lập và chia rẽ. Người gọi họ quây quần lại nơi bàn ăn của Người trong niềm vui yến tiệc của sự tha thứ và hoà giải. Sáng kiến này về phía Thiên Chúa được cụ thể hoá và biểu lộ trong hành vi cứu độ của Đức Kitô, hành vi phát toả ra khắp thế giới bằng những phương thế tác vụ của Giáo hội. Thánh Gia Của Các Con “Ở đầu sách Tân Ước, cũng như ở đầu sách Cựu Ước, đều có một đôi vợ chồng. Trong khi Adam và Eva đă là nguồn cho sự dữ tràn lan trên thế gian, th́ Giuse và Maria lại là chóp đỉnh từ đó sự thánh thiện lan toả ra khắp cùng mặt đất. Đấng Cứu Chuộc đă bắt đầu công cuộc cứu độ bằng sự kết hợp thánh thiện và trinh khiết này, mà trong đó Người đă biểu lộ tất cả ư chí quyền năng muốn thanh tẩy và thánh hoá gia đ́nh – cung thánh của t́nh yêu và cái nôi của sự sống.”5 Biết bao gia đ́nh ngày nay có thể học hỏi từ [những lời đó của Đức Phaolô VI]! “Yếu tính và vai tṛ của gia đ́nh xét cho cùng được đặc trưng bởi t́nh yêu. Do đó gia đ́nh có sứ mạng bảo vệ, tỏ bày và thông trao t́nh yêu, và đây là một phản ánh sống động của, và là một sự tham dự đích thực vào, t́nh yêu Thiên Chúa đối với nhân loại và t́nh yêu của Đức Kitô đối với Giáo hội hiền thê của Người.”6 Như thế, chính trong Thánh Gia, “Giáo hội thu nhỏ”7 đầu tiên... mà mỗi gia đ́nh Kitô giáo phải được phản ánh. Khám Phá Bản Ngă Đích Thực của Các Con trong Đức Kitô Con người không thể sống mà không có t́nh yêu. Con người vẫn là một hữu thể mà nó không hiểu được chính nó. Cuộc đời của nó thật là vô nghĩa nếu t́nh yêu không được mặc khải cho nó – nếu nó không gặp được t́nh yêu, nếu nó không cảm nghiệm được t́nh yêu và làm cho t́nh yêu trở thành của riêng ḿnh, nếu nó không tham dự một cách mật thiết vào t́nh yêu. Đó là lư do tại sao Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc mặc khải trọn vẹn con người cho chính nó.... Ai muốn hiểu thấu chính ḿnh... phải đến gần Chúa Kitô cùng với những băn khoăn lo lắng và ngay cả với những yếu đuối và tội lỗi, cả sự sống và sự chết của ḿnh. Họ phải vào trong Đức Kitô với tất cả bản thân họ. Họ phải thích ứng và đồng hoá toàn thể thực tại của việc nhập thể và cứu độ để t́m ra chính ḿnh. Nếu tiến tŕnh đào sâu này thực hiện trong họ, lúc đó họ sẽ sinh ra hoa trái không chỉ của việc thờ phượng Thiên Chúa nhưng cũng của việc hiểu sâu hơn chính con người họ. Thân Mật với Thiên Chúa Trong bữa tiệc ly với các tông đồ hôm trước ngày thụ nạn, Chúa Giêsu nói: “Ai yêu mến Ta th́ tuân giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và cư ngụ trong người ấy” (Ga 14,23). Chỉ một vài khoảnh khắc trước khi nộp ḿnh chịu chết Người đă mặc khải chiều cao, sâu của một t́nh yêu bao la. Người đă mặc khải cho chúng ta mầu nhiệm về sự ẩn ngự của Thiên Chúa. Đúng thế, con người được mời gọi để trở nên đền thờ cho Chúa Ba Ngôi. C̣n có sự hiệp thông nào với Thiên Chúa lớn lao hơn mà con người có thể dám mơ ước? C̣n có bằng chứng nào lớn lao hơn bằng chứng t́nh yêu cứu độ mà Thiên Chúa đă ban cho chúng ta? Thiên Chúa rất muốn đi vào t́nh hiệp thông với con người. Toàn thể lịch sử lâu đời của thần bí học Kitô giáo, ngay cả một số trong những bản văn trác tuyệt nhất cũng chỉ có thể diễn tả cho chúng ta một cách bất toàn về sự hiện diện khôn tả của Thiên Chúa trong tâm hồn chúng ta. Say Mê Cầu Nguyện “Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11,1). Lúc ở trên núi cây dầu, các tông đồ đă thưa với Chúa Giêsu những lời đó, họ đă không hỏi Ngài một câu hỏi thông thường. Với một ḷng chân thành tự phát, họ đă diễn tả một trong những nhu cầu sâu xa nhất của trái tim con người. Thật ra, thế giới ngày nay rất ít quan tâm đến nhu cầu này. Sự quay cuồng của những hoạt động hàng ngày cùng với những ồn ào náo nhiệt của các phương tiện truyền thông, chắc chắn không phải là cái đem lại thuận lợi cho việc tĩnh tâm cần thiết để cầu nguyện... V́ là những thụ tạo nghèo nàn và bất toàn, nên con người tự phát quay về với Đấng là nguồn mạch của mọi tặng ân, để tán dương và cầu xin Người. Nơi Người họ t́m thấy sự thoả măn những khát mong thao thức đang đốt cháy tâm hồn họ. Thánh Augustinô đă hiểu rất rơ điều này khi ngài viết: “Chúa đă tạo dựng nên con cho chính Chúa, ôi lạy Chúa, và trái tim con thổn thức măi cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa."8 Thần Khí Hướng Dẫn Cầu Nguyện Bất cứ ai đang cầu nguyện trên thế giới, cũng đều có Chúa Thánh Thần ở bên trong, Người là hơi thở sống động của việc cầu nguyện... Cầu nguyện cũng là khám phá cái vực thẳm là chính trái tim con người: một vực sâu do chính Thiên Chúa tác tạo và chỉ có Thiên Chúa mới có thể lấp đầy, bằng Thánh Thần của Người. Chúng ta đọc thấy trong Phúc âm Luca: “Nếu các ngươi đầy tội lỗi mà c̣n biết cho con cái ḿnh những điều tốt lành, phương chi Cha trên trời lại chẳng ban Thánh Thần cho những kẻ hằng kêu xin Người sao?” (Lc 11,13). Thánh Thần là tặng ân được ban cho trái tim con người khi nó cầu nguyện. Trong cầu nguyện Người tỏ ḿnh ra trước hết và trên hết như tặng ân “trợ giúp cho chúng ta trong cơn yếu đuối.” Đây là một tư tưởng nổi bật được thánh Phaolô khai triển trong thư Rôma, khi ngài viết: “V́ chúng ta không biết phải cầu nguyện thế nào, nhưng chính Thánh Thần cầu bầu cho chúng ta bằng những tiếng than khôn tả” (Rm 8,26). Do đó, Thánh Thần không chỉ giúp chúng ta cầu nguyện mà c̣n hướng dẫn chúng ta “từ bên trong” trong việc cầu nguyện: Người hiện diện trong lời cầu nguyện của chúng ta và đem lại cho nó một chiều kích thần linh. Như vậy, “Đấng ḍ thấu tâm can biết điều thần khí muốn, v́ thần khí cầu bầu cho các thánh như chính Thiên Chúa muốn” (Rm 8,27). Việc cầu nguyện nhờ quyền năng của Thánh Thần đă trở nên cách diễn tả hoàn hảo nhất của con người mới, con người mà nhờ cách cầu nguyện này được tham phần vào sự sống thần linh. Sức Hấp Dẫn của sự Thánh Thiện Sự tân Phúc âm hoá sẽ cho thấy tính xác thực của nó và mở toang tất cả sức mạnh truyền giáo của nó ra khi nó được thực hiện qua tặng ân không chỉ của lời được rao giảng nhưng cũng của lời được sống nữa. Đặc biệt, đời sống thánh thiện đang chiếu toả trên nhiều thành phần dân Thiên Chúa, khiêm nhường và thường ẩn khuất, tạo nên đường lối hết sức hấp dẫn và rất đơn sơ để cùng một lúc lĩnh hội được vẻ đẹp của chân lư, sức mạnh giải phóng của t́nh yêu Thiên Chúa, và giá trị của luật Chúa, ngay cả trong những t́nh huống khó khăn nhất. V́ lẽ đó, Giáo hội, như một vị thầy luân lư khôn ngoan, đă luôn luôn mời các tín hữu t́m ṭi nơi các thánh, và nhất là nơi Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa “đầy ân sủng” và “toàn-thánh”, mẫu gương, sức mạnh và niềm vui cần thiết để sống một đời sống phù hợp với những huấn lệnh của Thiên Chúa và những mối phúc của Tin Mừng. Mẹ của các Kitô Hữu Công đồng Vaticanô II tuyên bố: “...Mẹ Thiên Chúa là kiểu mẫu của Giáo hội trong vấn đề đức tin, đức ái và sự kết hợp trọn hảo với Đức Kitô...”9 Công đồng nh́n đến mẫu tính của Giáo hội, được h́nh thành theo mẫu tính của Đức Maria, trong sự kiện Giáo hội “đem lại một sự sống mới mẻ và bất tử cho con cái là những kẻ được thụ thai bởi Thánh Thần và được sinh ra từ Thiên Chúa.” Ơû đây chúng ta t́m thấy âm vang lời thánh Phaolô về “những con cái mà tôi phải vất vả” (x. Gl 4,19), y như một người mẹ sinh con. Trong thư Eâphêsô, khi chúng ta đọc thấy về Chúa Kitô giống Đức Lang Quân “nuôi dưỡng và yêu thương Giáo hội như thân thể của Người (x. 5,29), chúng ta không thể nào không liên kết sự ân cần phu thê về phía Đức Kitô với tặng ân lương thực Thánh Thể, tương tự như nhiều sự quan tâm từ mẫu liên hệ với “việc nuôi dưỡng và yêu thương” một đứa trẻ. Sự Toàn Hiến của Thánh Giuse Cũng như hương thơm của đức thinh lặng bao bọc mọi sự nơi thánh Giuse th́ cũng che khuất công việc thợ mộc của ngài trong nhà Nagiarét. Tuy nhiên, đó là một sự thinh lặng biểu lộ đặc biệt bức chân dung nội tâm của con người. Các sách Tin Mừng không nói ǵ về những việc thánh Giuse đă “làm”. Nhưng Tin Mừng cũng cho chúng ta khám phá thấy trong các “hành động” của ngài – được che khuất trong thinh lặng – hương thơm của sự chiêm niệm sâu xa. Hằng ngày, Thánh Giuse đă tiếp xúc với mầu nhiệm “dấu ẩn từ ngàn xưa,” và đang “cư ngụ” dưới mái nhà của ngài. Sự hy sinh toàn diện, trong đó Thánh Giuse đă từ bỏ toàn thể cuộc đời ḿnh trước những đ̣i hỏi của việc Đấng Messia đến, chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng đời nội tâm sâu xa của ngài. Chính từ đời nội tâm này, [lời Đức Phaolô VI], mà ngài có được “những an ủi và những sự khôn ngoan rất đặc biệt. Chúng cũng đem lại cho ngài cái lô-gíc và sức mạnh vốn thuộc về những tâm hồn đơn sơ trong sáng. Chúng đă cho ngài năng lực để đưa ra những quyết định quan trọng - như quyết định... chấp nhận những hoàn cảnh, trách nhiệm và gánh nặng của một gia đ́nh; nhưng, nhờ t́nh yêu trinh khiết khôn sánh, ngài cũng quyết định từ bỏ t́nh yêu phu thê tự nhiên vốn là nền tảng và chất sống của gia đ́nh.”10 Lắng Nghe Tiếng Chúa Gọi Thiên Chúa gọi cha và sai cha đi làm vườn nho của Người. Người gọi cha và sai cha đi làm việc cho Vương Quốc Người đến trong lịch sử... Từ muôn đời Thiên Chúa đă nghĩ đến chúng ta và đă yêu thương chúng ta như những con người độc nhất. Mỗi người trong chúng ta được Người gọi đích danh như Mục tử nhân lành “gọi tên từng con chiên của ḿnh” (x. Ga 10, 3). Tuy nhiên, chỉ khi cuộc đời chúng ta mở ra trong những biến cố lịch sử th́ kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa mới được bộc lộ cho mỗi người chúng ta. Do đó, nó là một tiến tŕnh tiệm tiến; theo một nghĩa nào đó, nó là tiến tŕnh xảy ra ngày qua ngày. Để có thể khám phá ra ư muốn thực tế của Chúa trong đời sống chúng ta, luôn luôn cần phải có những điều sau đây: phải biết lắng nghe Lời Chúa và Giáo hội, kiên tŕ và sốt sắng cầu nguyện, bàn hỏi với những vị linh hướng khôn ngoan, và phải biết phân biệt rơ những tặng ân và tài năng Thiên Chúa ban, cũng như những t́nh huống lịch sử và xă hội khác nhau trong đó ḿnh đang sống...Cũng đừng quên rằng Thiên Chúa, chủ vườn nho, lên tiếng gọi vào mỗi khoảnh khắc của cuộc đời để tỏ rơ Thánh ư Ngài hơn. Do đó thái độ cơ bản và liên tục của người môn đệ là tỉnh thức và chăm chú lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa. Hạt Giống Niềm Vui trong Đau Khổ Trong viễn cảnh cứu độ, cuộc khổ nạn của Đức Kitô hướng về sự Phục sinh. Như thế, con người cũng được hợp tác với mầu nhiệm thập giá để hân hoan tham dự vào mầu nhiệm phục sinh. V́ thế, Đức Kitô không ngần ngại tuyên bố phúc cho người chịu đau khổ: “Phúc cho những ai đang buồn sầu v́ họ sẽ được an ủi” (Mt 5,4)... Mối phúc này chỉ có thể hiểu được nếu người ta thừa nhận rằng đời sống con người không bị giới hạn vào thời gian trên trần thế, nhưng hoàn toàn được hướng tới niềm vui hoàn hảo và trọn vẹn trong đời sống mai sau. Đau khổ đời này khi đă được chấp nhận trong t́nh yêu th́ giống như một trái đắng chứa đựng hạt giống mới, kho báu vinh quang thần linh được ban cho con người trong cơi vĩnh cửu. Mặc dù thế giới đầy dẫy những sự xấu xa và những nỗi bất hạnh này xem ra thường rất bi thảm, nhưng bên trong vẫn ẩn chứa niềm hy vọng về một thế giới tốt hơn của t́nh yêu và ân sủng. Đó là niềm hy vọng được nuôi dưỡng trên lời hứa của Đức Kitô. Với sự đỡ nâng này, những người đang đau khổ được kết hợp với Người đă cảm nghiệm thấy trong đời sống này một niềm vui dường như nhân loại khó có thể diễn tả được. Thực ra thiên đàng bắt đầu ngay trên trần gian, phúc lạc được nếm trước trong các mối phúc. Thánh Tôma nói: “Trong dân thánh có sự khởi đầu của hạnh phúc mai sau.”11 Phó Dâng Đau Khổ của Các Con Cho Thiên Chúa Chúng ta được kêu gọi để tín thác đời sống chúng ta hoàn toàn cho Chúa quan pḥng. Như tác giả Thánh vịnh nói: “Tôi đă dỗ nín hồn tôi như một đứa trẻ mới thôi sữa. Như đứa trẻ thôi sữa ở trong ḷng mẹ, [linh hồn tôi ở trong tôi cũng như thế]” (Tv 131, 2), nhưng đôi khi chúng ta vẫn sợ phó thác cho Thiên Chúa, là Chúa và là Đấng Cứu Chuộc chúng ta. Trí khôn chúng ta có thể bị nhiều vấn đề rắc rối làm cho ra tối tăm. Chúng ta quên đi Đấng Sáng Tạo chúng ta. Chúng ta đang thực sự đau khổ vậy mà chúng ta lại nghi ngờ t́nh yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta như người cha của chúng ta. Tuy nhiên, Trái tim quan pḥng của Thiên Chúa rất gần gũi chúng ta mỗi khi chúng ta phải đau khổ. Trong Thánh Kinh có nhiều thí dụ. Chẳng hạn ông Gióp không ngần ngại kêu cầu Chúa, ngay cả trong giữa cảnh đau khổ. Gióp tỏ ra ḷng tin tưởng lạ lùng vào Chúa. Ḷng tin này không phải là không có nền tảng. Lời Chúa phán cho thấy rằng sự quan pḥng của Thiên Chúa, quyền năng cứu độ của Người, được trào đổ xuống trên dân Người vào giờ phút họ cần nhất, v́ họ là con cái Người. Gióp vừa bệnh trong thân xác vừa trong tâm hồn, đă than thở: “Ôi, hôm nay tôi phải đi t́m Người, tôi phải đến tận nơi Người ngồi xử án! Tôi sẽ tỏ bày vụ án của tôi ra trước mặt Người, và miệng tôi sẽ đầy biện chứng” (G 23, 3-4). Hôm nay chúng ta cũng hăy đến trước mặt Cha chúng ta với những thiếu thốn của chúng ta! Trái Tim của Thánh Claude La Colombiere Dành Cho Chúa Kitô Vào giữa thế kỷ mười bảy, Claude La Colombiere đă gia nhập Ḍng Tên vào lúc c̣n trẻ tuổi. Ngài đă thi hành sứ mạng ở Paris và trong nhiều tỉnh khác. Ngài đă có ảnh hưởng qúi giá v́ những nỗ lực về trí tuệ và v́ tính năng động của đời sống kitô hữu mà ngài đă biết cách thông truyền... Claude đă luyện đời sống thiêng liêng của ḿnh trong trường phái Linh Thao. Ngài đă dấn thân miệt mài suy gẫm về cuộc đời Chúa Giêsu Kitô Đấng là mô phạm cho đời sống chúng ta. Việc chiêm ngưỡng Đức Kitô đă cho phép ngài sống thân mật với Người. Ngài nói: “Tôi thấy rằng tôi tuyệt đối phải thuộc về Người hoàn toàn...”12 Người tu sĩ tự do và có tâm hồn thanh sạch này đă được chuẩn bị để hiểu biết và rao giảng sứ điệp mà Thánh Tâm Chúa Giêsu đă ủy thác cho chị Margarita Maria Alacốc vào cùng thời ấy... Ngài đă lănh nhận từ nơi chị một sứ điệp sẽ có âm vang rất lớn: “Đây Trái Tim đă yêu dấu loài người qúa đến nỗi đă dốc cạn mọi sự và tiêu hao chính ḿnh để minh chứng t́nh yêu.”13 Chúa đă xin người ta lập ra một ngày lễ để tôn kính Thánh Tâm Người... Margarita Maria đă chuyển... cho La Colombiere sứ mạng thiết lập sự sùng kính này... Claude đă hiến ḿnh hoàn toàn cho Thánh Tâm “bừng cháy t́nh yêu.” Ngay cả trong những thử thách ngài cũng thực hành sự quên ḿnh để đạt tới sự tinh tuyền của t́nh yêu và lôi kéo thế gian về với Chúa. Âm Nhạc và sự Hoà Điệu Nhân Loại Âm nhạc có một ngôn ngữ phổ quát... Cha cũng nghĩ về ư nghĩa và giá trị liên kết độc đáo mà âm nhạc đem lại. Giống như sự hoà điệu được tạo ra trong sự trùng âm của các nốt nhạc, th́ sự diễn xuất âm nhạc trong một nhóm cũng đem lại sự đoàn kết, sự hiệp nhất các tâm hồn, và t́nh bằng hữu. Không thể cử nhạc mà không hoà ḿnh vào trong một động tác chung, cùng chung một chủ ư, cùng hoà hợp giữa các âm thanh và động tác. Theo nghĩa này nghệ thuật được coi như lời mời gọi tham dự vào một công việc chung và cao quư, nó nâng cao và củng cố t́nh cảm. Cách suy nghĩ này càng tỏ ra hữu hiệu hơn khi âm nhạc đem lại niềm vui cho các buổi lễ hội của cộng đồng. Theo đó, người ta cảm nghiệm thấy những t́nh cảm hân hoan và nguyện cầu, hào hứng và tác động sâu xa – khi âm nhạc thành công trong việc phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Do đó, âm nhạc xét như nghệ thuật là một tiếng gọi đến chiêm ngưỡng vẻ xinh đẹp phát xuất từ Thiên Chúa, và một lời mời gọi suy gẫm sự hài hoà của cuộc sáng tạo. Như thế, ước ǵ tất cả chúng ta biết được cách ngợi khen Thiên Chúa qua âm nhạc, như câu nói hài hoà tuyệt vời của Haydn trong nhạc phẩm The Creation danh tiếng: “Hỡi các ca đoàn nhân thế, hỡi các ca đoàn của gian trần, các âm thanh và các nhạc cụ hăy cất tiếng hoà vang: tán tụng Thiên Chúa muôn đời!” Nghệ Thuật và Tinh Thần Con Người Các nghệ sĩ được kể vào những ân nhân vĩ đại nhất của nhân loại. Họ là một số trong những tác nhân hữu hiệu nhất cho việc cứu độ nhân loại, v́ họ dưỡng nuôi cảm thức của con người về sự thiêng liêng. Khi con người chiêm ngưỡng nghệ thuật trong vẻ mỹ lệ của nó, họ buông ḿnh theo nó như một nguồn suối linh hứng. Cảm thức thiêng liêng được nâng cao. Họ cảm thấy và ư thức sức hấp dẫn của cái thiêng liêng thuần tuư. Họ như thoáng thấy Thiên Chúa, Đấng là nguồn gốc và mục tiêu của tất cả các thụ tạo thiêng liêng. V́ hiểu biết sâu xa về vấn đề đó, (Công đồng Vaticano II nói) Giáo hội “luôn luôn ưa chuộng các nghệ thuật tự do và luôn luôn t́m thấy những lợi ích cao quư của chúng... Giáo hội đă cho phép sử dụng các h́nh thức nghệ thuật của mỗi thời đại. Do đó Giáo hội đă h́nh thành, qua ḍng các thế kỷ, một kho tàng nghệ thuật đă được bảo tŕ hết sức cẩn thận.”14 Các nghệ thuật của thời đại chúng ta – của mọi dân mọi nước – được tự do phô diễn trong Giáo hội, miễn là chúng phụng sự Thiên Chúa với sự tôn kính. Tính Chất Tối Ưu và B́nh Quyền của Phụ Nữ Phụ nữ là người đầu tiên đến mồ Chúa. Họ là người đầu tiên thấy ngôi mộ trống. Họ là người đầu tiên nghe: “Người không c̣n ở đây. Người đă sống lại, đúng như Người đă hứa” (Mt 28,6). Họ là người đầu tiên được ôm chân Chúa (x. Mt 28,9). Họ cũng là người đầu tiên được kêu gọi để loan báo chân lư này cho các tông đồ (Mt 28,1-10; Lc 24, 8-11). Tin mừng thánh Gioan nhấn mạnh đến vai tṛ đặc biệt của Maria Madalena... bà là nhân chứng đầu tiên cho Đức Kitô phục sinh. V́ lư do đó bà cũng là người đầu tiên làm chứng cho Người trước các tông đồ. Theo một ư nghĩa, sự kiện này đă hoàn hảo hoá mọi điều đă được nói về việc Đức Kitô uỷ thác các chân lư thần linh cho các người nữ cũng như các người nam... người ta có thể nói rằng điều này đă ứng nghiệm lời tiên tri: “ Ta sẽ tuôn đổ thần khí của Ta trên tất cả mọi người. Con trai con gái các ngươi sẽ nói tiên tri” (Ge 3,1). “Nói tiên tri” có nghĩa là dùng lời nói và cuộc sống của ḿnh để diễn tả những kỳ công của Thiên Chúa”(x. Cv 2,11), bảo tồn chân lư và nguồn gốc của mỗi người dù là nam hay nữ. Sự “b́nh đẳng” của Phúc âm, sự “b́nh đẳng” giữa nam và nữ trước những “kỳ công của Thiên Chúa”... tạo nên một cái nền tảng rơ ràng nhất cho phẩm giá và ơn gọi của phụ nữ trong Giáo hội và trong thế giới. Bí Quyết Nữ Tính Chiều kích Maria của đời sống Kitô giáo mang một tầm quan trọng đặc biệt trong tương quan với phụ nữ và vị trí của họ. Thực ra, nữ tính có một tương quan độc nhất với mẹ Đấng Cứu Chuộc... khuôn mặt Đức Maria Nagiaret đă làm rạng danh nữ tính nhờ chính sự kiện Thiên Chúa, qua biến cố trác tuyệt của việc nhập thể của Con Ngài, đă uỷ thác chính Người Con ấy cho tác vụ tự do và chủ động của một phụ nữ. V́ thế có thể nói được rằng người phụ nữ, nhờ nh́n lên Đức Maria, sẽ t́m thấy nơi Mẹ bí quyết sống nữ tính của ḿnh với phẩm giá và bí quyết đạt tới sự tiến bộ đích thực riêng của ḿnh. Dưới ánh sáng của Đức Maria, Giáo hội nh́n thấy trong khuôn mặt phụ nữ phản ánh vẻ xinh đẹp toả ra những t́nh cảm cao quư nhất mà trái tim con người có thể có: sự toàn hiến của t́nh yêu; sức mạnh để chịu đựng những đau khổ lớn lao nhất; sự trung thành vô giới hạn và sự tận tâm không mệt mỏi với công việc; khả năng kết hợp trực giác sâu xa với những lời hỗ trợ và khích lệ. D́m Ḿnh Trong Sự Chết và Sự Sống của Đức Kitô Qua lễ nghi rửa tội – bí tích đầu tiên trong các bí tích cứu độ do Chúa Giêsu thiết lập – con người được nhập thân trong Chúa Kitô và được kết hợp với gia đ́nh của sự sống Thiên Chúa. Thánh Phaolô lặp lại cho chúng ta điều ngài đă viết cho các tín hữu Roma vào thời của ngài: “Anh em không biết rằng anh em được tẩy rửa trong Đức Giêsu Kitô là được rửa trong cái chết của Người sao? Nhờ rửa trong cái chết của Người anh em được mai táng với Người, sao cho, như Đức Kitô đă phục sinh từ cơi chết nhờ vinh quang Chúa Cha, th́ chúng ta cũng có thể có sự sống mới. Nếu chúng ta nên tương tự Người trong cái chết, th́ cũng sẽ giống Người trong sự sống lại.” (Rm 6, 3-5). Thánh tông đồ Phaolô dạy chúng ta rằng phép rửa là h́nh bóng và là sự diễn tả cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Thực ra trong phép rửa chúng ta được nhận ch́m trong cái chết của Đức Kitô, được tẩy sạch khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, được dẫn vào đời sống mới của sự phục sinh, và được làm đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần. Nhờ phép rửa chúng ta được nhập thân trong sự sống của Giáo hội. Đây là cộng đồng của Chúa Kitô, được tạo nên và được nuôi dưỡng bằng t́nh yêu. Đây là cộng đồng của đức tin và sự sống mới, nó tháp tùng chúng ta trong đời sống và nâng đỡ chúng ta trong những yếu đuối của chúng ta. Do đó chúng ta không c̣n là những nô lệ cho tội lỗi nữa. Chúng ta đă bắt đầu sống trong sự tự do sung măn của con cái Thiên Chúa. Chúng Ta Trở Nên Đức Kitô Theo Đức Kitô không phải là một việc bắt chước bề ngoài, v́ nó chạm đến tầng sâu hữu thể của con người. Là một người theo Đức Kitô nghĩa là được trở nên đồng dạng với Người, Đấng đă trở nên tôi tớ thậm chí hiến ḿnh trên thập giá (x. Pl 2, 5-8). Nhờ đức tin, Chúa Kitô cư ngụ trong ḷng kẻ tin (x. Ep 3,17), và như thế người môn đệ được đồng hoá với Chúa. Đây là hiệu quả của ân sủng, của sự hiện diện chủ động của Thánh Thần trong chúng ta. Khi đă trở nên một với Đức Kitô, người kitô hữu cũng trở nên một chi thể trong thân thể Người là Giáo hội (x. 1Cr 12,13,27). Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, tận căn bản, phép rửa làm cho người tín hữu nên giống Đức Kitô trong mầu nhiệm vượt qua của sự chết và sự phục sinh của Người; nó “mặc lấy họ” trong Đức Kitô (x. Gl 3,27), như thánh Augustino kêu gọi người được rửa tội: “Chúng ta hăy vui mừng và tạ ơn, v́ chúng ta đă trở nên không chỉ những kitô hữu, nhưng trở nên chính Đức Kitô... thật là kỳ diệu và vui mừng v́ chúng ta đă trở nên Đức Kitô!15 Nguyên Mẫu của Mọi Gia Đ́nh Kitô Giáo Theo kế đồ mầu nhiệm của Thiên Chúa, chính trong Gia Đ́nh Thánh ở Nagiaret mà Con Thiên Chúa đă trải qua những năm dài của cuộc đời ẩn dật. Do đó, Thánh Gia là nguyên mẫu và mô phạm của mọi gia đ́nh Kitô giáo. Đó là bản mẫu độc nhất trên thế giới. Đời sống của Thánh Gia trôi qua trong cái khuất lấp và lặng lẽ ở một thôn làng nhỏ bé xứ Palestin. Thánh Gia đă trải qua những thử thách của sự khó nghèo, sự bách hại và lưu đầy. Thánh Gia đă làm vinh danh Thiên Chúa một cách thuần khiết và tán dương khôn sánh. Và Thánh Gia sẽ không thể không giúp đỡ các gia đ́nh Kitô giáo – mọi gia đ́nh trên thế giới – trung thành với các bổn phận hàng ngày của họ, chịu đựng những mối bận tâm và những đau khổ của cuộc đời, quảng đại mở ḷng ra trước những thiếu thốn của tha nhân, và vui vẻ hoàn thành chương tŕnh của Thiên Chúa đối với họ. Thánh Giuse là “một người công chính”, một người lao động không biết mệt mỏi, một người cương trực bảo vệ những người đă được giao phó cho ngài trông coi. Xin ngài hăy luôn luôn bảo vệ chở che và soi sáng các gia đ́nh.
Xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo hội, cũng là
Mẹ của “Giáo hội tại gia.” Nhờ sự trợ giúp hiền mẫu của Mẹ, ước ǵ mỗi gia
đ́nh kitô cũng thực sự trở nên một “Giáo hội thu nhỏ.” Gia Đ́nh, Học Đường của Các Nhà Rao Giảng Phúc âm Trong thời đại chúng ta, thời đại tân Phúc âm hoá, các bậc cha mẹ Kitô giáo cần phải khẩn trương quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục con em của họ biết can đảm làm chứng cho Đấng Cứu Chuộc trong thế giới ngày nay. Nhờ việc trở nên giáo lư viên đầu tiên của con em ḿnh, họ có thể dễ dàng truyền cho chúng t́nh yêu độc nhất đối với lời Thiên Chúa. Nhờ việc đồng hoá cuộc sống của ḿnh với Phúc âm mỗi ngày, các bậc cha mẹ khuyến khích con cái họ có những chọn lựa xứng hợp với mỗi người môn đệ đích thực của Chúa. Chúng ta hăy cầu nguyện để cho mỗi gia đ́nh Kitô giáo có thể trở nên một cộng đoàn thừa sai bé nhỏ và một trường đào tạo các nhà truyền giảng Tin Mừng. Chúng ta hăy trao phó sứ mạng thừa sai của tất cả các gia đ́nh tín hữu này cùng với mọi niềm vui và nỗi khổ của họ cho Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm... Ước chi Đức Maria trở nên mẫu gương chỉ đạo của họ, đặc biệt là mẫu gương chỉ đạo cho các gia đ́nh! Ḷng Thương Xót Lạ Lùng Đức Kitô đă đến không phải để luận phạt nhưng để tha thứ, để tỏ ḷng thương xót ( x. Mt 9, 13). Và ḷng thương xót vĩ đại nhất được thấy trong việc Người đang ở giữa chúng ta và đang kêu gọi chúng ta đến gặp Người và, cùng với thánh Phêrô, tuyên xưng rằng Người là “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Không có tội lỗi nhân loại nào có thể xóa được ḷng thương xót của Thiên Chúa hoặc ngăn cản ḷng thương ấy mở toang tất cả năng lực chiến thắng của ḿnh, chỉ cần chúng ta kêu cầu. Thật vậy, chính tội lỗi càng làm cho t́nh yêu của Chúa Cha toả rạng hơn. Để chuộc lại kẻ nô lệ, Người đă hy sinh Con của Người: ḷng thương của Người đối với chúng ta là sự cứu chuộc. Ḷng thương này đi tới chỗ viên măn trong tặng ân Thánh Thần, Đấng ban sự sống mới và đ̣i nó phải được sống. Biết bao nhiêu những ngăng trở to lớn do tội lỗi và sự yếu đuối con người gây ra cũng không thành vấn đề ǵ, v́ Thánh Thần, Đấng canh tân bộ mặt trái đất (x. Tv 104, 30), có thể thực hiện những sự tốt lành hoàn hảo lạ lùng. Sự canh tân này đem lại khả năng để làm nên những sự tốt lành, cao quư, xinh đẹp, làm vui ḷng Chúa và hợp với Thánh ư Ngài. Một cách nào đó, đó là sự bừng nở tặng ân ḷng nhân từ đem lại sự giải thoát khỏi ách nô lệ sự dữ và ban sức mạnh để thắng vượt tội lỗi. Nhờ tặng ân sự sống mới, Chúa Giêsu cho chúng ta được tham phần vào t́nh yêu của Người và dẫn chúng ta đến cùng Chúa Cha trong Thánh Thần. Diệt Tội Tận Căn Chúng ta phải dứt khoát với tội lỗi. Nếu chúng ta không chặt đứt gốc rễ của thói ích kỷ, nó sẽ mọc đi mọc lại măi. Chúng ta không thể tiến bộ trên đường lối của Chúa nếu không thực hiện quyết định này. Đường lối đă được vạch ra một cách rất rơ ràng trong cơn cám dỗ của Chúa Giêsu nơi sa mạc. Chúng ta thấy Người chối bỏ sự dụ dỗ của tham vọng ích kỷ và sự kiêu hănh để hoàn toàn vâng theo ơn gọi thần linh của Người. Bằng việc từ bỏ mọi tham vọng, Người đă thực hiện hoàn hảo Lời Thiên Chúa và vâng phục Thánh ư Chúa Cha. Bằng cách vâng phục thánh kinh như lời Thiên Chúa, Chúa Giêsu đă vượt thắng cơn cám dỗ muốn độc lập khỏi Thiên Chúa khi Người bảo tên cám dỗ “không chỉ cơm bánh mới nuôi sống con người” (Lc 4,4). Người đă bác bỏ cơn cám dỗ muốn làm những việc lạ lùng trên chính ḿnh khi Satan nói: “Nếu ông là con Thiên Chúa hăy ném ḿnh xuống khỏi đây” (Lc 4,9). Người cũng bác bỏ những ham muốn quyền lực và tham vọng hăo huyền khi tên cám dỗ hứa tặng cho Người các nước trần gian. Hắn nói với Chúa Kitô: “Tôi sẽ cho ông tất cả các quyền lực này” (Lc 4,6). Khi chiến thắng ba cơn cám dỗ đă từng đánh gục dân Israel khi họ lang thang trong sa mạc, Chúa Giêsu đă cho chúng ta một tấm gương về cách chúng ta phải hành động khi đương đầu với những cám dỗ. Đền Tội Sự thống hối có liên hệ mật thiết với sự hoà giải. Hoà giải với Thiên Chúa, với chính ḿnh, và với tha nhân bao hàm sự vượt thắng tội lỗi là căn nguyên gây đổ vỡ. Và điều này chỉ đạt được thông qua sự biến đổi và hoán cải nội tâm làm phát sinh hoa trái trong đời sống con người nhờ hành vi thống hối... Thánh kinh nói với chúng ta về sự hoà giải này, mời gọi chúng ta làm mọi nỗ lực để đạt được. Nhưng Thánh Kinh cũng nói cho chúng ta rằng trên hết, sự hoà giải là một tặng ân xót thương của Thiên Chúa ban cho nhân loại. Lịch sử cứu độ... là câu chuyện tuyệt vời về sự hoà giải: sự hoà giải với Thiên Chúa cha - trong Máu và trên thánh giá của Chúa Con làm người - đă giao hoà thế giới với chính Người. Như thế Chúa Con đă sinh ra một gia đ́nh mới gồm những người đă được giao hoà. Sự hoà giải trở nên cần thiết v́ tội lỗi đă gây đổ vỡ, từ đó sinh ra mọi thứ đổ vỡ trong con người. Do đó, sự hoà giải để được hoàn toàn cần phải có sự giải thoát khỏi tội lỗi, tội lỗi phải được nhổ tận rễ. Như vậy có một mối liên hệ bên trong mật thiết giữa sự hoán cải và sự hoà giải. Không thể nào tách ĺa hai thực tại này, hoặc nói đến cái này mà không nói đến cái kia. Chứng Nhân Đích Thực của Phúc âm Gioan Don Scôtô được gọi là “chân phúc” ngay khi vừa mới qua đời ở Cologne ngày 08. 11. 1308... Trong thời đại chúng ta, mặc dù rất phong phú về các nguồn nhân lực, khoa học, kỹ thuật, th́ nhiều người cũng đă đánh mất cảm thức đức tin và đi đến chỗ sống xa ĺa Đức Kitô và Phúc âm của Người. Chân phúc Don Scôtô vẫn xuất hiện trước mắt chúng ta với trí khôn và khả năng sắc xảo phi thường thấu hiểu mầu nhiệm về Thiên Chúa. Ngài cũng bộc lộ một năng lực thánh thiện mạnh mẽ khiến cho ngài trở nên bậc thầy về tư tưởng và về cuộc sống, đối với Giáo hội cũng như toàn thể nhân loại. Đức Thánh Cha Phaolô VI đă nói rằng học thuyết của ngài “có thể phát sinh thứ vũ khí ngời sáng để chiến đấu và xua đuổi những mây đen tăm tối của chủ nghĩa vô thần đang bao phủ trên thời đại chúng ta.”16 Nó mạnh mẽ xây đắp và bảo vệ Giáo hội trong sứ mạng khẩn cấp tân Phúc âm hoá của ḿnh đối với các dân tộc trên trái đất... Chân phúc Don Scôtô là một mẫu gương của ḷng trung tín với chân lư mặc khải, của tác vụ linh mục hữu hiệu, của sự đối thoại nghiêm túc để t́m về hiệp nhất... Gioan Gerson nói rằng suốt cuộc đời, Don Scôtô đă luôn luôn được thúc đẩy “bởi đức khiêm tốn kiếm t́m sự đồng thuận chứ không bởi ḷng háo thắng đưa đến tranh căi”.17 Ước ǵ tinh thần và những kỷ niệm đời ngài cùng với chính ánh sáng của Đức Kitô luôn chiếu sáng trong những cơn thử thách và đem lại hy vọng cho xă hội chúng ta. Làm Việc và Nghỉ Ngơi Chúng ta phải bắt chước Đức Kitô trong cả sự làm việc lẫn sự nghỉ ngơi, v́ chính Thiên Chúa đă muốn tỏ bày hoạt động sáng tạo của Người dưới h́nh thức làm việc và nghỉ ngơi. Hoạt động của Thiên Chúa trong thế giới vẫn luôn luôn tiếp diễn, như lời Đức Kitô đă khẳng định: “Cha Ta vẫn làm việc luôn...”(Ga 5,17). Chúa Cha làm việc với quyền năng sáng tạo bằng cách ǵn giữ thế giới cho nó tồn tại, thế giới mà Người đă gọi ra từ hư vô. Chúa Con làm việc với quyền năng cứu độ trong tâm hồn những người mà từ ban đầu Người đă tiền định cho được “nghỉ ngơi” trong sự kết hợp với Người trong “Nhà Cha” Người. Do đó, sự nghỉ ngơi đích thực không phải chỉ là nghỉ “ngày thứ bảy” và cũng không chỉ là nghỉ việc tay chân. Ngay trong khi làm việc, chúng ta cũng phải dành chỗ cho việc dọn ḿnh hưởng “sự nghỉ ngơi” mà Chúa muốn dành cho các tôi tớ và bạn hữu Người, bằng cách càng ngày càng trở nên như Chúa muốn. Năng Lực Cứu Độ của Sự Làm Việc Cần cù lao động là nét tiêu biểu cho người Kitô hữu và những ai được mời gọi bước theo Đức Kitô với khả năng tham dự cách yêu thương vào công việc mà Đức Kitô đă đến để thực hiện. Công cuộc cứu độ này đă được thể hiện thông qua đau khổ và cái chết trên thập giá. Nhờ chịu đựng những lao nhọc vất vả trong sự kết hợp với Đức Kitô tử giá, con người cách nào đó đă cộng tác với Con Thiên Chúa để cứu độ nhân loại. Nó đă tỏ ra là một môn đệ đích thực của Đức Kitô bằng việc vác thập giá hàng ngày trong những công việc mà nó đă được mời đến để thực thi... Người kitô hữu t́m kiếm trong công việc nhân loại một phần của thập giá Đức Kitô và chấp nhận nó với cùng một tinh thần cứu độ mà trong đó Đức Kitô đă chấp nhận thập giá của Người v́ chúng ta. Trong công việc, nhờ ánh sáng từ cuộc phục sinh thấu nhập vào chúng ta, chúng ta luôn luôn t́m ra được tia hy vọng về sự sống mới, sự thiện hảo mới. Nó như thể là một sự loan báo “trời mới đất mới” (x. 2 Pr 3, 13) mà trong đó con người và thế giới được dự phần vào nhờ những vất vả đi theo công việc. Nhờ những vất vả – và không bao giờ thiếu... Người kitô hữu biết lắng nghe lời của Thiên Chúa hằng sống, biết kết hợp lao động với cầu nguyện, th́ cũng biết công việc của họ không chỉ có mục đích để phát triển trần thế, nhưng cũng để mở mang Vương quốc Thiên Chúa nữa. Sự Phục Vụ Sáng Giá của Những Người Cao Niên Giáo hội rất hân hoan nhấn mạnh rằng những người cao niên... cũng rất hữu dụng và có chỗ đứng trong cộng đồng Kitô hữu. Họ vẫn tiếp tục là những phần tử trọn vẹn của cộng đồng. Họ đă được kêu gọi để đóng góp bao nhiêu có thể vào việc phát triển Giáo hội bằng đời sống chứng tá, lời cầu nguyện và cũng cả những hoạt động của họ nữa. Giáo hội biết rơ rằng nhiều người đă đạt được sự kết hợp với Thiên Chúa đặc biệt ở giai đoạn gọi là “thời kỳ thứ ba”(third age). Đúng ra trong thời kỳ này họ có thể được trợ giúp để làm trẻ trung lại tinh thần của họ nhờ suy tưởng và đời sống nhiệm tích. Qua bao năm tháng tích luỹ kinh nghiệm đă khiến cho những người cao niên thấu hiểu tính chất hạn hẹp của những sự vật trần gian và cảm thấy một nhu cầu sâu xa hơn cần có sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống trần thế của họ. Những thất vọng mà họ đă trải qua trong một số hoàn cảnh dạy cho họ biết đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa. Những sự khôn ngoan từng trải của họ có thể là một mối lợi lớn không những cho họ hàng mà c̣n cho toàn thể cộng đồng kitô hữu. Một Giao Ước Giữa Các Thế Hệ Chúng ta cần phải đặc biệt chú ư đến thế hệ cao niên. Trong khi ở một số nền văn hoá, những người già vẫn là một thành phần trong gia đ́nh với những vai tṛ quan trọng và tích cực, th́ nơi một số nền văn hoá khác, những người già đă bị coi như là một gánh nặng vô dụng và bị bỏ rơi... Xem thường những người già hoặc hoàn toàn bỏ rơi họ là điều không thể tha thứ được. Sự hiện diện của họ trong gia đ́nh hoặc ít ra sự liên hệ mật thiết của họ với gia đ́nh khi điều kiện về chỗ ở không cho phép sống chung, mang một tầm quan trọng cơ bản trong việc tạo nên bầu không khí tương trợ lẫn nhau và sự hiệp thông phong phú giữa những thế hệ khác nhau. Do đó, điều quan trọng là phải duy tŕ, hoặc tái lập nếu đă bị mất, một thứ “giao ước” giữa các thế hệ. Do đó, cha mẹ trong những năm cuối đời có thể được con cái chấp nhận như chính họ đă chấp nhận chúng khi sinh ra chúng. Điều này đ̣i có sự vâng phục giới răn Thiên Chúa về việc thảo kính cha mẹ (x. Xh 20,12; Lv 19,3). Sức Mạnh Để Yêu Việc bắt chước và sống t́nh yêu của Đức Kitô là không thể đối với con người nếu chỉ nhờ vào sức riêng của nó. Nó chỉ có thể yêu được như thế nhờ ơn Chúa. Như Chúa Giêsu đă lănh nhận t́nh yêu của Cha Ngài th́ Ngài cũng thông ban t́nh yêu ấy cho các môn đệ: “Như Cha đă yêu thầy thầy cũng yêu các con. Hăy sống trong t́nh yêu của thầy” (Ga 15,9). Yêu và sống theo Phúc âm không thể được nghĩ, trước hết, như một thứ châm ngôn, bởi v́ điều mà chúng đ̣i hỏi th́ vượt quá mọi khả năng của con người. Chúng chỉ có thể như là kết quả của một tặng ân của Thiên Chúa, Đấng chữa lành, phục hồi, và biến đổi tâm hồn con người bằng ân sủng của Người: “V́ trong khi lề luật được ban qua Môisen, th́ ân sủng và chân lư được ban qua Chúa Giêsu Kitô” ( x. Ga 1,17). Do đó, lời hứa ban sự sống đời đời gắn liền với tặng ân thánh sủng, và tặng ân thánh linh mà chúng ta đă lănh nhận là “bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta” (Ep 1,14). Liên Kết Con Người Trong B́nh An Trong buổi nói chuyện trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 4-10-1965, Đức Thánh Cha Phaolô VI đă phát biểu một chân lư sâu xa khi ngài nói: “Như quư vị biết đấy, hoà b́nh không chỉ được xây dựng bằng những đường lối chính trị hoặc sự cân bằng các lực lượng và quyền lợi. Nó được xây dựng bằng trí tuệ, ư tưởng, và những công việc kiến tạo hoà b́nh.” Sản phẩm của trí tuệ - ư tưởng – sản phẩm của văn hoá, và sức mạnh sáng tạo của con người là có ư để được chia sẻ. Các chiến thuật hoà b́nh mà chỉ nằm trên b́nh diện khoa học kỹ thuật và chỉ lo tạo thế cân bằng giữa các lực lượng, th́ sẽ không bao giờ đủ để kiến tạo một nền hoà b́nh đích thực trừ khi những mối giây liên kết các dân tộc với nhau được tạo ra và được củng cố. Hăy thiết lập những mối dây liên kết giữa các dân tộc. Hăy đưa ra những biện pháp giúp cho các dân tộc và các quốc gia có thể chia sẻ nền văn hoá và các giá trị của họ với nhau. Hăy bỏ qua một bên những lợi lộc nhỏ nhen khiến cho nước này phải quá luỵ thuộc nước khác về mặt kinh tế, xă hội hoặc chính trị... Xây dựng mối dây liên kết giữa các dân tộc tức là tái khám phá và tái khẳng định tất cả các giá trị giúp củng cố hoà b́nh và liên kết các dân tộc với nhau trong sự hài hoà. Điều này cũng có nghĩa là canh tân cái tốt nhất trong trái tim con người, trái tim t́m kiếm sự thiện hảo của tha nhân trong t́nh yêu thương thân hữu... Khủng Bố Là Bất Chính Một vết thương nhức nhối trong thế giới ngày nay là hiện tượng khủng bố. Nó được hiểu như chủ ư giết người và phá hoại tài sản một cách không phân biệt và tạo ra một bầu không khí sợ hăi và bất ổn, thường thường bao gồm cả việc bắt cóc con tin. Ngay cả khi một số hệ tư tưởng hoặc ước muốn tạo nên một xă hội tốt hơn được viện dẫn như là một động cơ cho lối hành xử bất nhân này, th́ những hành động khủng bố cũng không bao giờ là chính đáng. Tệ hơn nữa, khi mà, như ngày nay vẫn xảy ra, những quyết định và hành động như thế đôi khi dẫn đến những cuộc tàn sát thực sự và sự bắt cóc những người vô tội không dính líu ǵ đến những cuộc xung đột, lại tự bào chữa là có mục đích tuyên truyền để đẩy mạnh một chính nghĩa. C̣n tồi tệ hơn nữa, khi chúng đặt mục đích nơi chính chúng, để cho tội giết người được phạm chỉ v́ thích giết chóc. Trước những đau khổ và khiếp hăi như thế, những lời mà cha đă nói cách đây ít năm vẫn c̣n đúng, và cha muốn lặp lại một lần nữa: “Điều mà Kitô giáo cấm, là t́m kiếm những giải pháp...bằng những đường lối hận thù, bằng cách giết những người không biết tự vệ và bằng những biện pháp khủng bố.”18 Đức Tin Không Phải Là Vấn Đề Riêng Tư Tất cả những người đă chịu phép rửa tội đều được Đức Kitô kêu gọi để trở nên tông đồ của Người trong t́nh huống riêng tư của họ và trong trần thế: “Như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Ga 20, 21). Qua Giáo hội, Đức Kitô đă ủy thác cho các con sứ mạng cơ bản là chia sẻ cho người khác tặng ân cứu độ. Người mời gọi các con tham gia vào việc xây dựng Vương quốc Người. Người đă chọn các con bất chấp những giới hạn cá nhân nơi mỗi người, bởi v́ Người yêu thương các con và tin tưởng các con. T́nh yêu vô điều kiện này của Đức Kitô phải là chính linh hồn của công việc tông đồ của các con, phù hợp với lời của thánh Phaolô: “T́nh yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5, 14). Làm môn đệ Đức Kitô không phải là chuyện riêng tư. Trái lại, tặng ân đức tin phải được chia sẻ với những người khác. V́ lư do đó, cũng chính Thánh Tông Đồ đă viết: “Việc rao giảng Phúc âm không phải là lư do để mà khoe khoang; mà là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc âm!” (1Cr 9, 16). Hơn nữa, đừng quên rằng đức tin được củng cố và được phát triển chính xác khi nó được tặng trao cho những người khác. Chúa Giêsu Là Câu Trả Lời Đừng sợ tŕnh bày Chúa Giêsu cho những người chưa nhận biết Ngài. Đức Kitô là câu trả lời đúng đắn, câu trả lời hoàn hảo nhất cho tất cả mọi câu hỏi liên quan đến con người và vận mệnh của nó. Nếu không có Đức Kitô, con người vẫn là một bí ẩn không thể giải đáp. Do đó, hăy can đảm tŕnh bày Đức Kitô! Chắc chắn các con phải làm điều đó trong sự tôn trọng tự do lương tâm của mỗi người, nhưng các con phải làm. Việc giúp anh chị em khám phá Đức Kitô – là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (x. Ga 14,6) – là hành vi yêu thương đích thực đối với tha nhân. Ngày nay nói về Thiên Chúa không phải là một việc dễ dàng. Nhiều khi chúng ta thấy cả một bức tường của sự hờ hững và thậm chí c̣n thù nghịch. Biết bao lần các con sẽ bị cám dỗ để nói như tiên tri Giêrêmia rằng: “Lạy Chúa, con không biết cách nói, con c̣n quá trẻ.” Nhưng Thiên Chúa luôn luôn trả lời: “Đừng có nói ‘con c̣n quá trẻ.’ V́ hễ Ta sai ngươi đến với ai ngươi sẽ đi”(Gr 1,6-7). Cũng vậy, các con đừng thất đảm v́ các con không bao giờ đơn độc. Bởi v́ Đức Chúa sẽ luôn luôn đồng hành với các con như Người đă hứa: “Các con hăy biết rằng Thầy ở cùng các con luôn măi cho đến tận thế”( Mt 28,20). Thân Hữu Với Mọi Người Là những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta được kêu gọi để trở nên thân hữu với hết mọi người (x. Lc 10,29-37), và để đem lại sự đỡ nâng đặc biệt cho những người nghèo nhất, đơn độc nhất và bần cùng nhất. Qua việc giúp đỡ người đói, người khát, người khách lạ, kẻ ḿnh trần, người đau yếu, kẻ bị cầm tù – cũng như trẻ thơ c̣n trong dạ mẹ và người già yếu hấp hối – chúng ta có dịp để phục vụ Chúa Giêsu. Chính Ngài đă nói: “Những ǵ các con làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta là các con đă làm cho chính Ta vậy”(Mt 25,40). Do đó, chúng ta chỉ có thể cảm thấy phải trả lẽ và bị phán xét bởi những lời xác đáng của thánh Gioan Chrysôtômô: “Anh em có ao ước tôn vinh thân thể của Đức Kitô không? Đừng bỏ rơi nó khi thấy nó ḿnh trần. Đừng chỉ tôn trọng nó trong ngôi thánh đường với lụa là gấm vóc để rồi bỏ rơi nó khi ở ngoài với giá lạnh và ḿnh trần.”19 Ngoài Thiên Chúa Không Có Sự Tốt Lành Chúa Giêsu nói [với chàng thanh niên giầu có]: “Tại sao anh hỏi Ta về sự tốt lành? Chỉ có một Đấng tốt lành. Nếu ngươi muốn được sống hăy tuân giữ các giới răn” (x. Mt 19, 17). Câu nói “chỉ có một Đấng tốt lành duy nhất...” đem chúng ta trở lại “điều răn thứ nhất”, nó đưa chúng ta đến chỗ nhận biết Thiên Chúa như là Đức Chúa độc nhất và phải thờ lạy duy ḿnh Người v́ Người vô cùng thánh thiện (x. Xh 20, 2-11). Sự tốt lành là lệ thuộc vào Thiên Chúa, vâng lời Người, khiêm tốn bước đi với Người trong việc thực thi đức công chính và ân cần yêu thương.(x. Mi 6,8). Việc nhận biết Chúa là Thiên Chúa chính là cốt lơi, là tâm điểm của lề luật, từ đó phát xuất ra những giới luật đặc thù và chúng được sắp đặt để hướng về đó. Trong tính cách luân lư của các giới răn, sự kiện dân Israel thuộc về Đức Chúa được tỏ rơ, bởi v́ duy ḿnh Thiên Chúa là tốt lành... Nhưng nếu chỉ duy ḿnh Thiên Chúa là tốt lành th́ con người có cố gắng cách mấy hoặc thậm chí có tuân giữ triệt để các giới răn cũng không thành công trong việc “chu toàn” Lề luật, tức là nhận biết Chúa như là Thiên Chúa và tôn thờ Người chỉ v́ ḿnh Người (x. Mt 4, 10). Sự “chu toàn” đó chỉ có thể đến từ tặng ân của Thiên Chúa: lời mời tham dự vào sự tốt lành thần linh được mặc khải và được thông ban trong Chúa Giêsu, Đấng duy nhất mà người thanh niên đă gọi bằng lời: “Lạy Thầy nhân lành” (Mc 10 17,; Lc 18, 18). Mở Ḷng Cho Thần Khí Mục đích của việc công bố Lời Thiên Chúa là sự hoán cải trở nên người kitô hữu, tức là sự hoàn toàn thành thật liên kết với Đức Kitô và Phúc âm của Người nhờ đức tin. Sự hoán cải là một tặng ân của Thiên Chúa, một công việc của Chúa Ba Ngôi. Chính Thánh Thần là Đấng mở tâm hồn con người ra để nó có thể tin vào Đức Kitô và “tuyên xưng Người” (x. 1Cr 12, 3); với những kẻ đến gần Người nhờ đức tin, Chúa Giêsu nói: “Không ai có thể đến với Ta trừ khi Chúa Cha, Đấng sai Ta lôi kéo nó” (Ga 6, 44). Từ ban đầu, sự hoán cải được bộc lộ trong đức tin, đức tin là toàn thể và là căn gốc, và đức tin không hạn chế cũng không cản trở ân ban của Thiên Chúa. Đồng thời, nó cho vươn tới một quá tŕnh năng động và lâu dài đ̣i hỏi không ngừng chuyển biến từ “sự sống theo xác thịt” đến “sự sống theo Thần Khí” (x. Rm 8,3-5). Sự hoán cải có nghĩa là chấp nhận, bằng một quyết định cá nhân, quyền năng cứu độ của Đức Kitô và trở nên môn đệ Người. Chọn Lựa Giữa Nhân Đức Và Nết Xấu Trong con người, một hữu thể kép bởi tinh thần và thể chất, luôn luôn có một sự căng thẳng, một cuộc xung đột nào đó của các xu hướng giữa “thần khí” và “xác thịt”. Nhưng thực ra cuộc xung đột này là di sản, là hậu quả của tội lỗi. Kinh nghiệm hằng ngày tỏ rơ điều đó. Như thánh tông đồ Phaolô viết: “Công việc của xác thịt là dâm bôn, ô uế, phóng đăng... say sưa chè chén và các điều khác giống như vậy.” Đó là những tội lỗi có thể được gọi là “xác thịt”. Nhưng ngài cũng thêm những tội lỗi khác nữa: “ hằn thù, ḱnh địch, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè đảng, ganh tị” (x. Gl 5,19-21). Tất cả những điều này tạo nên những “công việc của xác thịt.” Nhưng với những công việc này, những việc chắc chắn là tội lỗi, thánh Phaolô đă đặt đối lập với “hoa trái của thần khí”, như là “yêu thương, hoan hỷ, hoà thuận, kiên tŕ, nhẫn nại, từ tâm, quảng đại, trung tín, hiền lành và thanh khiết” (Gl 5,22-23). Như thế, rơ ràng là đối với Thánh Tông Đồ, đó không phải là vấn đề phân biệt và kết án thân xác, v́ thân xác cùng với linh hồn cấu thành một chủ thể với ngôi vị và bản tính nơi con người. Đúng hơn, ngài quan tâm đến những việc tốt và xấu về mặt luân lư hoặc những xu hướng cố hữu – nhân đức và nết xấu – là kết quả của sự thuận theo hoạt động cứu độ của Thánh Thần (trong trường hợp thứ nhất) hoặc chống lại hoạt động ấy (trong trường hợp thứ hai). sau cùng, Thánh Tông Đồ viết: “V́ chúng ta sống nhờ Thần Khí, chúng ta hăy bước theo sự dẫn dắt của Thần Khí” (Gl 5,25). Thánh Phanxicô Assisi – Công Cụ Của Hoà B́nh Một trong những sứ điệp được linh hứng mà thánh Phanxicô đă sống sâu xa, và ngài vẫn c̣n tiếp tục làm vang lên trong lương tâm của những con người thời hiện tại, là nỗi khát khao hoà b́nh nồng nhiệt và khẩn cấp của ngài. Sau khi hết ḷng chọn lựa ơn gọi mà Thiên Chúa đă gọi ngài, ngài và các môn đệ tiên khởi đă rảo khắp các thành phố và làng mạc. Họ đă dừng lại ở các quảng trường và những vùng lân cận nơi ngài thường lặp lại những lời đơn sơ nhưng cao quư: “Hoà b́nh và thiện hảo.” Những lời này hàm ư không chỉ một ước muốn nhưng một quyết tâm mà các thính giả của ngài nên có, v́ chính họ là những người thường bị xâu xé bởi những chia rẽ và xung đột gay gắt... Thánh Phanxicô vừa là một kiến trúc sư vừa là một người kiến tạo hoà giải và hoà b́nh, Ngài nói: “Thiên Chúa đă mặc khải cho tôi lời chào mà chúng tôi dùng là: ‘Xin Chúa ban b́nh an cho anh em.’” Người viết sử của ngài là Thomas Celano đă miêu tả những hành động như thế của “Vị Thánh Nghèo”: “Trong tất cả mọi bài giảng, trước khi truyền thông Lời Chúa, ngài bộc lộ nỗi khát khao hoà b́nh bằng cách nói: ‘Xin Chúa ban b́nh an cho anh em!’ B́nh an đó ngài đă luôn luôn chân thành loan báo cho những người đàn ông và đàn bà, cho tất cả những ai mà ngài gặp hoặc tất cả những ai đến với ngài. Bằng cách này, nhờ ơn Chúa, ngài thường thành công trong việc làm cho những người quay lưng lại với sự hoà b́nh và sự cứu rỗi của họ trở nên con cái của sự b́nh an và ước muốn cứu độ đời đời.” Phó Thác Cho Mẹ Maria “Khi thấy Mẹ đứng đó với môn đệ dấu yêu, Chúa Giêsu nói với Mẹ: ‘Thưa bà đây là con bà.’ Quay lại phía môn đệ Người nói: ‘Này là Mẹ con.’ Từ giờ đó môn đệ đem Mẹ về nhà ḿnh...(Ga 19,25-27). Những lời trên đây tŕnh bày đầy đủ lư lẽ về chiều kích thánh mẫu của đời sống các môn đệ Đức Kitô. Điều này là đúng không chỉ cho Gioan, người vào giờ phút đó đứng dưới chân thập giá với Mẹ của Thầy ḿnh, nhưng cũng đúng cho mọi môn đệ của Đức Kitô, mọi kitô hữu. Đấng Cứu Thế đă uỷ thác Mẹ ḿnh cho môn đệ và đồng thời Người cũng ban Mẹ ḿnh để làm Mẹ của môn đệ. Tư cách làm mẹ của Đức Maria, đă trở nên di sản của nhân loại, là một tặng ân mà chính Chúa Giêsu đă đích thân tặng ban cho mỗi cá nhân. Đấng Cứu Chuộc uỷ thác Đức Maria cho Gioan và cũng uỷ thác Gioan cho Đức Maria. Chính ở dưới chân thập giá đă khởi sự việc uỷ thác nhân loại cho Mẹ Đức Kitô, việc đó đă được thực hiện và được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau trong lịch sử Giáo hội..... Chiều kích thánh mẫu của đời sống môn đệ Đức Kitô được diễn tả cách đặc biệt chính xác qua việc ngoan thảo phó thác cho Mẹ Đức Kitô, việc đó đă bắt đầu qua lời tuyên bố của Đấng Cứu Chuộc trên đồi Gôn-gô-tha. Khi phó ḿnh cho Mẹ Maria một cách thơ thảo như môn đệ Gioan, người kitô hữu “đón tiếp” Mẹ Đức Kitô về nhà ḿnh và đưa Mẹ vào trong mọi chi tiết của đời nội tâm ḿnh. T́nh Yêu Không Phân Biệt Kẻ Thù Kẻ xa lạ không c̣n là xa lạ nữa đối với người muốn trở nên thân hữu với người xa lạ đang lâm cảnh túng quẫn, đến độ muốn chịu trách nhiệm về sự sống của người ấy, như dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu đă tỏ rơ(Lc 10,25-37). Ngay cả một người thù địch cũng không c̣n là thù địch nữa đối với những người đem ḷng yêu thương hắn ( x. Mt 5,38-48; Lc 6,27-35), “làm phúc” cho hắn (x. Lc 6,27,33,35) và đáp ứng ngay lập tức những nhu cầu của hắn mà không trông mong được đáp trả (x.Lc 6,34-35). Đỉnh cao của t́nh yêu này là cầu nguyện cho kẻ thù ḿnh. Nhờ làm thế, chúng ta đạt được sự hài hoà với t́nh yêu quan pḥng của Thiên Chúa: “Điều răn Thầy truyền cho các con là hăy yêu mến thù địch của ḿnh, hăy cầu nguyện cho kẻ bách hại ḿnh. Điều này sẽ chứng tỏ các con là con cái Cha trên trời, v́ Ngài làm cho mặt trời mọc lên trên người xấu lẫn kẻ tốt, cho mưa xuống trên người công chính lẫn kẻ bất lương” (Mt 5,44-45; x. Lc 6,28,35). Do đó, yếu tố sâu xa nhất của lệnh Chúa truyền bảo vệ sự sống nhân loại là sự đ̣i hỏi phải tỏ ra kính trọng và yêu thương đối với mọi người và với sự sống của mỗi con người. Đây là giáo huấn mà Thánh tông đồ Phaolô, nhắc lại những lời của Chúa Giêsu, nói với các kitô hữu Rôma: “Các điều luật được gồm tóm trong lời này, ‘anh em hăy yêu mến người thân cận như chính ḿnh.’ Yêu mến hẳn không làm hại người anh em bao giờ, bởi v́ yêu là chu toàn lề luật” (Rm 13,9-10). Chúa Yên Ủi Những Phụ Nữ Phá Thai Bây giờ cha muốn nói một lời đặc biệt cho những chị em đă có lần nạo thai. Giáo hội biết có nhiều nhân tố có thể đă ảnh hưởng đến quyết định của các con, và Giáo hội cũng không nghi ngờ ǵ rằng trong nhiều trường hợp đó là một quyết định gây nhiều đau đớn và thậm chí rất choáng váng. Vết thương trong tâm hồn các con có thể vẫn chưa được lành. Chắc chắn điều đă xảy ra đă là và vẫn là sự sai trái khủng khiếp. Nhưng đừng có thất đảm và tuyệt vọng. Tốt hơn hăy cố gắng hiểu điều đă xảy ra và thành thật đối diện với nó. Nếu các con đă lỡ làm như thế, hăy ăn năn xám hối với ḷng khiêm tốn và tin tưởng. Cha nhân lành sẵn sàng ban cho các con ơn tha thứ và b́nh an trong nhiệm tích giao hoà. Các con sẽ hiểu ra rằng không ǵ mất hẳn và các con cũng sẽ có thể xin được sự tha thứ từ đứa con của các con, mà bây giờ đang sống trong Chúa. Với sự trợ giúp của chuyên gia và bạn bè và lời khuyên của người khác, và như kết quả của kinh nghiệm đau thương riêng của các con, các con có thể là một trong những người bênh vực hùng hồn nhất cho quyền sống của mỗi con người. Nhờ sự tận tâm của các con đối với sự sống, dù bằng việc chấp nhận sinh ra đứa con khác hoặc bằng cách đón nhận và chăm sóc những đứa con hết sức túng nghèo của ai đó để gần gũi chúng, các con sẽ trở thành những người cỗ vũ cho cái nh́n mới về sự sống của con người. Đức Tin Thực Hành Làm một kitô hữu nghĩa là ǵ? Đó là tiếp tục đón nhận và chấp nhận chứng từ của các tông đồ, những chứng nhân của ơn cứu độ. Đó là tin vào Đức Kitô với cùng một đức tin đă được lănh nhận từ lời nói và việc làm của Chúa phục sinh. Đây là điều mà thánh tông đồ Gioan viết: “Cách mà chúng ta có thể chắc chắn là ḿnh biết Người, đó là tuân giữ các giới răn của Người. Ai nói: ‘Tôi biết Người’, mà không giữ các giới răn của Người, là kẻ nói dối; một người như thế không có chân lư. Nhưng bất cứ ai giữ lời Người th́ t́nh yêu của Thiên Chúa đă nên hoàn hảo nơi người ấy”(1Ga 2,3-5). Thánh Tông Đồ nói về một đức tin sống động. Đức tin sống động khi nó sinh hoa trái bằng các việc thiện. Đó là những việc của t́nh yêu. Đức tin tồn tại nhờ t́nh yêu của Thiên Chúa trong chúng ta. T́nh yêu được diễn tả trong việc tuân giữ các giới răn. Không thể có mâu thuẫn giữa câu nói “tôi biết Người” và hành động của người tuyên xưng Đức Kitô. Chỉ người nào hoàn tất đức tin của ḿnh bằng những việc lành th́ mới ở trong chân lư. Người Cha Tốt Là Một Người Biết Yêu Thương T́nh yêu vợ chồng đích thực đ̣i hỏi người chồng phải có sự tôn trọng sâu xa đối với phẩm giá của vợ ḿnh. Thánh Ambrosiô viết: “Bạn không phải là chủ của nàng, nhưng là chồng của nàng; nàng không được tặng ban cho bạn để làm đầy tớ nhưng để làm vợ... Bạn hăy đáp trả lại sự ân cần của nàng dành cho bạn và hăy biết ơn v́ t́nh yêu của nàng.” Người chồng nên sống “một h́nh thức t́nh bạn cá nhân rất đặc biệt đối với vợ ḿnh.” Như đối với mọi kitô hữu, chàng cũng được kêu gọi để phát triển một thái độ yêu thương mới, tỏ ra với vợ một đức ái vừa dịu dàng vừa mạnh mẽ, giống như đức ái mà Chúa Kitô đă biểu lộ cho Giáo hội. Đối với người đàn ông, t́nh yêu dành cho vợ ḿnh với tư cách nàng là mẹ của các con cái ḿnh và t́nh yêu dành cho chính con cái, là cách thế tự nhiên để hiểu biết và làm trọn tư cách làm cha của chàng. Trên hết, nơi mà những điều kiện văn hoá và xă hội dễ làm cho người cha ít quan tâm đến gia đ́nh hoặc ít lưu tâm đến việc giáo dục ở bất cứ mức độ nào, th́ phải thực hiện những nỗ lực nhằm phục hồi, về mặt xă hội, sự xác tín rằng: vị trí và bổn phận của người cha trong và đối với gia đ́nh có một tầm quan trọng độc nhất và không thể thay thế được. Cách Gia Đ́nh Bày Tỏ Mối Quan Ngại Chúng ta phải chú ư đến tầm quan trọng lớn lao hơn bao giờ hết trong xă hội của chúng ta, một xă hội đầy tính hiếu khách dưới mọi h́nh thức, từ việc mở cửa nhà, và hơn nữa việc mở ḷng ra trước lời yêu cầu của anh chị em ḿnh, đến những nỗ lực để bảo đảm rằng mỗi gia đ́nh đều có nhà riêng như môi trường tự nhiên để bảo vệ và phát triển gia đ́nh. Một cách đặc biệt, gia đ́nh kitô hữu được kêu gọi để lắng nghe lời khuyên của Thánh Tông Đồ: “Hăy thực thi ḷng hiếu khách,” (x. Rm 12, 13) và do đó, là bắt chước gương Chúa Kitô và tham dự vào t́nh yêu của Người, đón tiếp anh chị em trong cơn túng quẫn... Vai tṛ xă hội của các gia đ́nh được mời gọi để t́m cách diễn tả cũng trong h́nh thức sự can thiệp chính trị nữa: các gia đ́nh nên đi bước trước để bảo đảm cho các luật lệ và hiến pháp của quốc gia không chỉ không xúc phạm, nhưng c̣n phải ủng hộ và tích cực bênh vực các quyền lợi và bổn phận của gia đ́nh. Theo những đường lối này, các gia đ́nh nên phát triển theo chiều hướng ư thức ḿnh là “những vai chính” của cái được biết đến như “chính trị gia đ́nh” và đảm đang trọng trách biến đổi xă hội; nếu khác đi gia đ́nh sẽ trở nên nạn nhân đầu tiên của sự dữ mà họ đă hờ hững xem thường. Các Chứng Nhân Hăy Để Thánh Thần Linh Hứng Khi thi hành sứ mạng giảng dạy giáo lư, Giáo hội – và cả mỗi kitô hữu đang tận tâm với sứ mạng đó trong Giáo hội và nhân danh Giáo hội – phải biết hành động như một dụng cụ mềm dẻo sống động của Thánh Thần. Thái độ của Hội Thánh rao giảng và của mỗi giáo lư viên là phải kiên tŕ cầu xin Thánh Thần, thông hiệp với Người và gắng hiểu biết ơn linh hứng đích thực của Người. Thứ đến, sự ước muốn sâu xa được hiểu biết rơ hơn hành động của Thánh Thần và phó ḿnh cho Người trọn vẹn hơn... phải đem đến sự giác ngộ về mặt giáo lư. V́ “canh tân trong thần khí” sẽ nên xác thực và sẽ có kết quả thực tế trong Giáo hội, không tuỳ thuộc nhiều lắm vào việc nó đưa đến những đặc sủng phi thường, nhưng tùy vào việc nó đem lại con số tín hữu, đông đảo nhất có thể, trong cuộc lữ hành mỗi ngày biết khiêm tốn, nhẫn nại, kiên tŕ cố gắng học biết mầu nhiệm Chúa Kitô càng ngày càng hơn, và làm chứng cho mầu nhiệm đó. Phẩm Giá Của Những Người Khuyết Tật Mặc dù những giới hạn và những đau khổ đang tác động trên thân xác và các tài năng của họ, những người khuyết tật càng nêu bật hơn tính chất vĩ đại và phẩm giá của con người... Họ cần phải được trợ giúp để tham gia vào đời sống xă hội trong tất cả mọi khía cạnh và ở mọi cấp độ phù hợp với khả năng của họ. Người khuyết tật cũng là một người trong chúng ta và tham dự trọn vẹn vào cùng một nhân tính mà chúng ta có. Việc chỉ thu nhận những người lành mạnh vào đời sống của cộng đồng và do đó nhận vào làm việc, là hành động tự căn bản bất xứng với con người, và là một sự chối bỏ nhân tính b́nh thường của chúng ta. Làm như thế là tạo ra một h́nh thức ḱ thị nghiêm trọng: người mạnh khoẻ chống lại người đau yếu bệnh tật... Do đó, các hiệp hội khác nhau trong giới công nhân lao động, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, nên dùng mọi biện pháp hữu hiệu và những phương thế thích hợp cổ vơ quyền được đào tạo nghề nghiệp và công việc của người khuyết tật, sao cho người khuyết tật có thể có được một hoạt động sản xuất phù hợp với họ. Một Danh Hiệu Khác Của T́nh Yêu Thập giá của Đức Kitô, thập giá mà trong một ư nghĩa nào đó là tiếng nói sau cùng của sứ điệp và sứ mạng thiên sai của Người, có c̣n nói ǵ khác cho chúng ta không?... Thập giá đó... đang nói và không bao giờ ngừng nói về Thiên Chúa Cha, Đấng tuyệt đối trung tín trong t́nh yêu vĩnh cửu của Ngài dành cho con người, bởi v́ Ngài “quá yêu thương thế gian đến nỗi đă ban chính Con Một của ḿnh, để bất cứ ai tin vào Người Con ấy sẽ không phải chết nhưng được sống đời đời”(x.Ga 3,16). Tin kính Người Con chịu đóng đinh nghĩa là “thấy Chúa Cha”(x.Ga 14,9), nghĩa là tin rằng t́nh yêu thực sự hiện diện trên thế giới và rằng t́nh yêu ấy lớn lao mạnh mẽ hơn tất cả mọi sự dữ mà mỗi người, nhân loại và thế giới mắc phải. Tin vào t́nh yêu này có nghĩa là tin vào ḷng nhân từ. V́ ḷng nhân từ là chiều kích không thể thiếu của t́nh yêu; nó như là danh hiệu thứ hai của t́nh yêu. Ḷng Thương Xót Của Đức Công B́nh Đức Kitô nhấn mạnh rất quyết liệt đến sự cần phải tha thứ cho người khác đến nỗi khi Phêrô hỏi Người rằng ông phải tha cho anh em bao nhiêu lần, Người đă trả lời bằng con số biểu tượng “bảy mươi lần bảy”(Mt 18,22), nghĩa là ông phải tha thứ cho người khác măi măi. Rơ ràng một sự đ̣i hỏi quảng đại tha thứ như thế không loại trừ những đ̣i hỏi khách quan của đức công b́nh. Hiểu đúng ra, có thể nói đức công b́nh tạo nên mục tiêu cho sự tha thứ. Trong sứ điệp Tin Mừng không có đoạn văn nào mà sự tha thứ, hoặc ḷng thương xót, xét tận nguồn gốc, có nghĩa là dung túng đối với cái ác, gương mù, bất công và lăng mạ. Trong bất cứ trường hợp nào, sự sửa chữa lại điều ác và gương mù, sự đền bù những bất công, chữa lại những lời lăng mạ, là những điều kiện để được tha thứ. Như vậy cấu trúc cơ bản của đức công b́nh luôn luôn nằm trong phạm vi của ḷng thương xót. Tuy nhiên, ḷng thương xót cũng có quyền gán cho đức công b́nh một nội dung mới, nội dung ấy được diễn tả rất đơn sơ và đầy đủ trong sự tha thứ. Động Lực Yêu Những người sống “theo xác thịt” cảm thấy luật Thiên Chúa như một gánh nặng và thật vậy như một sự chối bỏ hoặc ít ra một sự hạn chế tự do của họ. Nhưng trái lại, những người được t́nh yêu thúc đẩy và “bước đi trong Thần Khí” (x. Gl 5,26), những người muốn phục vụ người khác, th́ t́m thấy trong luật của Chúa một phương thế nền tảng và thiết yếu để thực hành việc yêu mến như một cái ǵ đó được tự do chọn lựa và sống. Thật vậy, họ cảm thấy một sự thúc đẩy bên trong – một sự cần thiết thực sự và không c̣n là một h́nh thức cưỡng bách nữa – không muốn dừng lại ở những đ̣i hỏi tối thiểu của lề luật nhưng muốn sống trọn vẹn lề luật. Bao lâu c̣n sống trên trần gian, th́ đây vẫn là một cuộc lữ hành bấp bênh và gịn mỏng, nhưng có thể thực hiện được nhờ ân sủng, ân sủng làm cho chúng ta có được sự tự do đầy đủ của con cái Thiên Chúa (x. Rm 8,21) và do đó sống đời sống luân lư của ḿnh cách xứng đáng với ơn gọi cao quư như là “những người con trong Ngôi Con”. Mỗi Kitô Hữu Là Một Cuốn Phúc Âm Sống Động Mỗi kitô hữu – khi nghiên cứu Thánh Kinh và Thánh Truyền, và đạt đến một đức tin sâu xa bền vững – sẽ cảm thấy rằng Đức Kitô là Đấng phục sinh và do đó là Đấng hằng sống. Đó là một kinh nghiệm sâu xa làm thay đổi cuộc đời. Không một kitô hữu đích thực nào có thể giữ kín điều đó như một vấn đề cá nhân. V́ một cuộc tiếp xúc với Thiên Chúa hằng sống như thế đ̣i phải được thông ra – như ánh sáng phải chiếu sáng, như men làm dậy men cả đống bột. Người kitô hữu đích thật là một cuốn Phúc âm sống động. Điều đó không có nghĩa người ấy là môn đệ của một học thuyết lỗi thời và xa rời thực tế cuộc sống. Người ấy không lập lại những công thức vô dụng. Không, người ấy xác tín và kiên quyết khẳng định mặc khải của Đức Kitô và tính chất luôn luôn mới mẻ của Phúc âm. Người ấy luôn luôn hăng hái tặng trao nguồn hy vọng đang ấp ủ trong ḷng cho bất cứ ai và bất cứ khi nào ( x.1Pr 3,15). Đừng Lơ Là Với Nhiệm Tích Thống Hối Đối với một kitô hữu, nhiệm tích thống hối là cách thông thường để được ơn tha thứ các tội trọng đă phạm sau khi rửa tội. Chắc chắn Đấng Cứu Chuộc và hành động cứu thế của Người không bị ràng buộc vào một dấu hiệu nhiệm tích đến nỗi Người không thể làm ǵ bên ngoài và trên các nhiệm tích. Nhưng dưới mái trường đức tin, chúng ta học biết rằng chính Đấng Cứu Chuộc đă muốn và đă quy định rằng các nhiệm tích đơn sơ và quư giá của đức tin, thông thường, sẽ là những phương thế hữu hiệu cho quyền năng cứu độ của Người hoạt động. Do đó, thật là điên khùng cũng như ngạo mạn nếu tự ư khinh thường những phương thế của ân sủng cứu độ mà Chúa đă quy định, điển h́nh trong trường hợp đ̣i được tha thứ mà không chịu lănh nhận nhiệm tích xá giải. Cuộc canh tân phụng vụ sau Công đồng Vaticanô II không phê chuẩn bất cứ ảo tưởng hoặc sự thay đổi nào theo hướng đó. Theo ư định của Giáo hội, cuộc canh tân này đă và đang muốn khơi dậy trong mỗi người chúng ta một sức đẩy mới hướng đến sự canh tân thái độ nội tâm của chúng ta; sự hiểu biết sâu xa hơn về bản tính của nhiệm tích ḥa giải; sự lănh nhận nhiệm tích với tất cả đức tin; sự năng lănh nhận nhiệm tích hoà giải, một nhiệm tích chứa chan t́nh yêu thương xót của Chúa. Chạy Đua Dành Phần Thắng Vĩnh Cửu Qua các môn thể thao, chúng ta đánh giá được thân xác. Chúng ta đạt được những điều kiện thể lư tốt nhất có thể, với những kết quả đáng kể mang lại sự thoả măn lớn lao. Từ đức tin Kitô giáo, chúng ta biết rằng nhờ phép rửa, con người với trọn vẹn xác hồn, trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần: “Anh em biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần, Đấng ngự ở trong anh em, là thần khí anh em đă lănh nhận từ Thiên Chúa. Anh em không c̣n là của ḿnh. Anh em đă được mua chuộc, giá cả hẳn hoi. Vậy anh em hăy làm vinh danh Thiên Chúa trong thân xác anh em” (1Cr 6, 19-20). Các môn thể thao bao gồm một cuộc đua tranh để đoạt giải và đạt tới một mục tiêu nào đó. Nhưng từ đức tin Kitô giáo chúng ta biết rằng “triều thiên bất diệt” của sự sống vĩnh cửu c̣n giá trị hơn bất cứ một giải thưởng trần thế nào. Đó là tặng ân của Thiên Chúa nhưng cũng là kết quả của sự chinh phục hàng ngày trong việc luyện tập nhân đức. Và theo thánh Phaolô, đây mới là cuộc tỉ thí thực sự quan trọng. Thánh nhân nói: “Anh em hăy hướng tâm hồn lên đến những tặng ân cao trọng hơn” (1Cr 12,31). Thánh Phaolô nhắc chúng ta hướng ḷng về những tặng ân trên trời. Những tặng ân này sẽ đem lại cho chúng ta phần thưởng vĩnh cửu nếu chúng ta kiên tŕ trong cuộc chạy đua. Yên Ổn Dưới Sự Chăm Sóc Của Mục Tử Nhân Lành Vào thời Thánh Kinh, những người mục tử không chỉ là người lănh đạo nhưng c̣n là người bảo vệ thân thiện và tận tâm. Họ quan tâm đến sự sống của đàn chiên. Họ dẫn chiên ra đồng cỏ và ḍng suối. Họ bảo vệ chiên khỏi nanh vuốt thú dữ. Họ canh chừng chiên khỏi mọi hiểm nguy. Người mục tử là người cứu độ. Thật là dễ dàng tin vào người ấy với tâm hồn đơn sơ – như chúng ta bây giờ phải tin vào Đức Kitô – bởi v́ sự chăm sóc của người ấy đem lại sự an toàn và phong phú cho đời sống. Thật dễ dàng nhận ra nơi họ quyền bính của Thiên Chúa, Đấng đề ra sáng kiến. Khi ban phát ân sủng và sự thiện hảo, Người quan tâm đến chúng ta và trở nên nơi trú ẩn vững chắc cho chúng ta. Vâng, chúng ta là của Người. Người tạo nên chúng ta. Chúng ta là dân Người. Chúng ta là đàn chiên được Người chăm sóc. Chúa Giêsu đă gọi các môn đệ là “của Thầy” v́ “Cha thầy... đă ban họ cho Thầy” (Ga 10,29). Mỗi một tín hữu đều được Chúa Cha tặng ban cho Chúa Con một cách đặc biệt. Chính Chúa Con đă trở nên người phàm để thay mặt Cha chăm sóc đàn chiên. Mối quan tâm của một người mục tử cũng đồng nghĩa với sự quan pḥng hiền phụ của Thiên Chúa trong Thánh Kinh. Sự quan pḥng này trở nên một thực tại sống động cho chúng ta thông qua Chúa Con là Đức Kitô. Những Phép Lạ Của Việc Chữa Lành Thiêng Liêng Chúa Giêsu đă chứng tỏ ḷng thương cảm của Người đối với kẻ ốm đau và yếu đuối, Người đă bộc lộ sự hiền dịu nhân ái vĩ đại của Trái tim Người. Người cũng đă sẵn sàng để cứu những kẻ đau khổ trong tâm hồn và thể xác nhờ quyền năng làm phép lạ của Người. Do đó, Người đă thực hiện nhiều việc chữa lành, quá nhiều đến nỗi những kẻ đau ốm vây quanh Người để hưởng lấy quyền năng diệu kỳ của Người... Trong việc tận tâm lo giải thoát cho những kẻ bệnh nạn tật nguyền đến gần Người, Chúa Giêsu cho chúng ta thoáng thấy ư định đặc biệt của ḷng thương xót Thiên Chúa đối với họ: Thiên Chúa không hờ hững trước những đau khổ do bệnh tật gây nên. Người đem đến cho họ sự trợ giúp thông qua kế hoạch cứu độ mà Ngôi lời nhập thể đă mặc khải và thực hiện trên thế giới. Thật vậy Chúa Giêsu quan tâm và chữa trị người bệnh nạn và tật nguyền dưới ánh sáng công cuộc cứu độ mà Người đă được sai đến để thực hiện. Những việc chữa lành thân xác cũng là thành phần của công cuộc cứu độ. Đồng thời, chúng là những dấu hiệu của sự chữa lành thiêng liêng lớn lao mà Người đem xuống cho nhân loại. Chủ ư tốt lành này của Người được biểu lộ rơ ràng khi Người trước hết tha thứ tội lỗi cho kẻ bất toại được đem đến trứơc mặt Người để xin Người chữa lành... Trông Mong Thần Khí Giáo hội thời nay dường như đang tha thiết sốt sắng van xin: “Lạy Chúa Thánh Thần! Xin hăy đến! Để chữa lành những thương tích của chúng con, đổi mới sức mạnh cho chúng con; tưới nhuần chỗ khô khan; rửa sạch điều lỗi lầm; uốn nắn tâm hồn và ư chí cứng cỏi của chúng con; phá tan chỗ băng giá; sưởi ấm chỗ lạnh lùng; hướng dẫn những bước chân lầm lạc...” Lời cầu xin Thánh Thần ngự đến này thực là một sự kiên tŕ d́m ḿnh vào mầu nhiệm cứu độ vĩ đại... Đức Kitô, hiệp nhất với Chúa Cha và với mỗi người, không ngừng thông ban cho chúng ta Thánh Thần, Đấng đặt trong chúng ta những tâm t́nh của Chúa Con và hướng chúng ta về với Chúa Cha. Thời đại chúng ta đặc biệt đang đói khát Thần khí bởi v́ nó đang đói khát sự công chính, hoà b́nh, t́nh yêu, sự tốt lành, sự dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và nhân phẩm. Đây là lư do Giáo hội... phải nhấn mạnh và xoay quanh mầu nhiệm ấy, t́m ra trong đó ánh sáng và sức mạnh không thể thiếu cho sứ mạng của ḿnh. Nền Tảng Của Sự Hiệp Nhất Kitô Giáo Giáo hội được gọi để đem lại một mẫu gương hoà giải đặc biệt trong chính ḿnh cho con người thời đại chúng ta, vốn rất nhạy cảm với những bằng chứng của các chứng nhân cụ thể đang sống. Và v́ mục đích này, chúng ta phải làm việc để đem lại sự hoà thuận cho tâm trí con người, để giảm bớt những căng thẳng, để vượt thắng những chia rẽ, và để chữa lành những vết thương mà có lẽ do chính anh em gây ra cho nhau... Chúng ta phải cố gắng nên hiệp nhất trong chính cái thiết yếu đối với lối sống và đức tin Kitô giáo, phù hợp với câu ngạn ngữ cổ xưa: nơi những ǵ hồ nghi th́ anh em được thong dong, nơi những ǵ thiết yếu th́ hăy hiệp nhất; nhưng trong mọi sự anh em hăy có đức bác ái. Cũng theo chính tiêu chuẩn đó mà Giáo hội phải lănh đạo hoạt động đại kết của ḿnh.V́ để được hoà giải hoàn toàn, Giáo hội biết rằng ḿnh phải tiếp tục đi t́m sự hiệp nhất nơi những con người đang tự hào xưng ḿnh là kitô hữu nhưng lại đang chia rẽ với người khác, với các Giáo hội địa phương hoặc các cộng đoàn và cả với Giáo hội Roma nữa. Giáo hội Rôma đang t́m một sự hiệp nhất mà nếu là kết quả và là sự diễn đạt mối hoà giải đích thực, th́ có nghĩa là không được dựa trên sự trá h́nh của những quan điểm gây chia rẽ, cũng không dựa trên những thoả hiệp dễ dăi, hời hợt và mong manh. Sự hiệp nhất phải là kết quả của sự hoán cải đích thực của mỗi người, kết quả của sự tha thứ lẫn nhau, của sự đối thoại thần học và những tương quan huynh đệ, của cầu nguyện và hoàn toàn mềm mỏng trước hành động của Thánh Thần, Đấng cũng chính là thần khí hoà giải. Tự Do Chọn Đức Kitô Sự khẩn thiết của hoạt động truyền giáo phát xuất từ sự sống mới do Đức Kitô đem lại và được các môn đệ của Người đem ra thực hành. Sự sống mới này là tặng ân Chúa ban, và các dân tộc phải chấp nhận và phát triển nó lên nếu họ ước ao thực thi trọn vẹn ơn gọi bước theo Đức Kitô.... Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại sự sống mới này. “Ai có thể chối bỏ Đức Kitô và tất cả những ǵ Người đă đem lại cho con người trong ḍng lịch sử của họ? Dĩ nhiên họ có thể. Con người có tự do chọn lựa. Họ có thể chối bỏ Thiên Chúa...” Việc rao giảng Đức Kitô và làm chứng về Người phải được thực hiện trong sự tôn trọng lương tâm, không được xâm phạm quyền tự do con người. Đức tin cần có sự tự do đáp ứng từ phía con người. Nhưng đồng thời, đức tin cũng cần phải được bày tỏ cho họ. Đức Thánh Cha Phaolô VI nói: “Các dân tộc có quyền được biết đến sự phong phú của mầu nhiệm Đức Kitô – sự phong phú mà trong đó chúng ta tin rằng toàn thể nhân loại có thể chắc chắn t́m thấy được mọi cái mà nhân loại đang ṃ mẫm kiếm t́m có liên quan đến Thiên Chúa, đến con người và vận mệnh của nó, đến sự sống, sự chết và chân lư.” Thánh Thể Nuôi Dưỡng Gia Đ́nh Thánh Thể thật là một nhiệm tích tuyệt diệu. Trong đó Đức Kitô ban ḿnh cho chúng ta làm của ăn thức uống như một nguồn mạch của quyền năng cứu độ. Người đă để lại chính ḿnh Người cho chúng ta để chúng ta có thể được sống và sống sung măn (x. Ga 10,10)... Sự sống mà Đức Kitô đem đến là để cho chúng ta. Chính là để cho các con đó, hỡi những người chồng, những người vợ, các bậc cha mẹ và gia đ́nh thân mến! Chúa Giêsu đă chẳng lập phép Thánh Thể trong bữa tiệc ly, trong bối cảnh giống như một gia đ́nh sao? Khi các con hoà thuận cùng nhau dùng bữa th́ Đức Kitô ở giữa các con. Và Người là Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta một cách vĩ đại hơn mỗi khi các con đến gần bàn tiệc Thánh Thể. Có thể xảy ra, như đă xảy ra ở làng Emmaus, Người chỉ được nhận ra vào lúc “bẻ bánh”(Lc 24,35). Có thể là từ lâu rồi Người đang bị chặn lại ở ngoài cửa, và đang chờ chúng ta mở cửa để Người có thể vào đồng bàn với chúng ta (Kh 3,20). Bữa tiệc ly và những lời Người nói ở đó chứa đựng tất cả quyền năng và sự khôn ngoan của hy tế thập giá. Không có quyền năng và sự khôn ngoan nào khác mà bởi đó chúng ta được cứu rỗi, và nhờ đó chúng ta có thể cứu thoát người khác. Không có quyền năng và khôn ngoan nào khác mà bởi đó các con, những bậc cha mẹ có thể giáo dục chính ḿnh và con cái. Quyền năng giáo dục của Thánh Thể được chứng tỏ qua các thế hệ và các thế kỷ. Khoa Học Và Mầu Nhiệm Sự Sống Một tài liệu có giá trị được lưu trữ ở thư viện Vatican cho thấy một nhà sao chép thời danh sống ở thế kỷ 13 muốn viết lại Lời Thề Y Khoa bằng cách xắp xếp bản văn dưới h́nh thức một cây thập giá, chắc chắn v́ ông đă nhận ra rằng chứng lư về quyền sống có giá trị như để chuẩn bị cho quan niệm Kitô giáo về con người và tính chất thánh thiêng của sự sống – thật ra, là cho sự nhận biết đầy đủ về mầu nhiệm sự sống. Sự nhận thức như thế không hạ giá và giới hạn bước tiến của khoa học, nhưng thúc đẩy và làm cho khoa học nên cao quư hơn. Xa Ĺa Ḷng Thương Xót của Thiên Chúa Tâm trạng ngày nay, có lẽ hơn bao giờ hết, dường như dị ứng với một vị Thiên Chúa xót thương. Thật sự, nó có khuynh hướng loại ra khỏi cuộc sống và ḷng người chính cái ư nghĩ về ḷng thương xót. Ư niệm “thương xót” có vẻ làm cho con người cảm thấy khó chịu, chính họ, do sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật chưa từng có trong lịch sử, đă trở thành chủ nhân của địa cầu, chinh phục và chi phối nó (x. St 1,28). Khi thấy ḿnh đă thống trị được trái đất này... dường như họ cảm thấy không c̣n cần đến ḷng thương xót... Chân lư được mặc khải trong Chúa Kitô về Thiên Chúa là “Cha nhân từ xót thương,” (2Cr 1, 3) khiến chúng ta có thể “xem” Người như là rất gần gũi với con người, đặc biệt khi con người bị đau khổ, khi con người bị đe doạ tại chính tâm điểm của hiện hữu và phẩm giá ḿnh. Và đây là lẽ tại sao, trong t́nh h́nh Giáo hội và thế giới ngày nay, nhiều cá nhân và đoàn thể được cảm thức đức tin sống động hướng dẫn đang quay về – cha nói hầu như tự phát – với ḷng thương xót của Thiên Chúa. Họ chắc chắn đang được chính Đức Kitô thúc đẩy, Người là Đấng đang hoạt động trong tâm hồn con người nhờ Thần Khí của Người. Chúa Giêsu, Đấng Giầu Ḷng Thương Xót Trước mặt những người đồng hương Nazareth của Người, Chúa Kitô đă trích dẫn lời tiên tri Isaia: “Thánh Thần Chúa ngự xuống trên tôi, v́ Người đă xức dầu sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó...” (x. Lc 4, 18 –19). Đặc biệt qua lối sống và những hành động của Người, Chúa Giêsu đă tiết lộ rằng t́nh yêu đang hiện diện trong thế giới mà chúng ta đang sống – một t́nh yêu hữu hiệu, một t́nh yêu đang tỏ ḿnh ra cho con người và đang ôm ấp mọi cái làm nên nhân tính của nó. T́nh yêu này đang đặc biệt tỏ ḿnh ra khi tiếp cận với cảnh khổ, bất công và nghèo khó – khi tiếp cận với toàn bộ “thân phận con người” về mặt lịch sử, thân phận mà trong nhiều cách, biểu lộ sự yếu đuối và giới hạn, cả về thể lư lẫn luân lư. Đó chính là cách thức và phạm vi mà trong đó t́nh yêu tự bộc lộ ḿnh mà theo ngôn ngữ Thánh Kinh được gọi là “ḷng thương xót”. Rồi Đức Kitô mặc khải Thiên Chúa là Cha, Đấng là “t́nh yêu”... Đức Kitô mặc khải Thiên Chúa như “Đấng giầu ḷng thương xót,” như chúng ta đọc thấy trong thư thánh Phaolô (Eph 2, 4). Chân lư này không chỉ là chủ đề cho một giáo huấn. Đó là một thực tại được Đức Kitô làm cho hiện diện trước mắt chúng ta. Việc làm cho Chúa Cha hiện diện như t́nh yêu và ḷng thương xót, trong ư thức của Đức Kitô, là tiêu chuẩn nền tảng của sứ mạng của Người như là Đấng thiên sai. Điều này được thừa nhận bởi những lời Người đă thốt ra lần đầu ở hội đường Nazareth và sau này ở trước mặt các môn đệ của Người và trước mặt các sứ giả của Gioan tẩy giả. Sự Giải Thoát Và Chữa Lành Sự giải thoát và chữa lành do Nước Thiên Chúa đem đến cho con người trong cả hai chiều kích thể lư và thiêng liêng. Hai cử chỉ đặc trưng của sứ mạng Chúa Giêsu: chữa lành và tha thứ. Nhiều cuộc chữa lành của Chúa Giêsu nêu bật ḷng thương xót lớn lao của Người trước những đau thương của nhân loại, nhưng chúng cũng cho thấy rằng trong vương quốc Thiên Chúa sẽ không c̣n có bệnh tật hoặc đau đớn nữa, và sứ mạng của Người, ngay từ khởi đầu, chính là giải phóng con người khỏi những sự dữ này. Dưới mắt Chúa Giêsu, những cuộc chữa lành cũng là một dấu chỉ về sự cứu rỗi thiêng liêng – giải phóng khỏi tội lỗi. Qua việc thể hiện hành vi chữa lành Người mời gọi dân chúng tin tưởng, cải thiện và khao khát được ơn tha thứ (x. Lc 5,24). Một khi đă có đức tin, th́ việc chữa lành là một sự khích lệ để tiến xa hơn nữa: nó dẫn đến ơn cứu độ (x. Lc 18,42-43). Hành vi giải thoát khỏi sự ám ảnh của ma quỷ – sự dữ lớn lao nhất và là biểu tượng của tội lỗi và sự phản loạn chống lại Thiên Chúa – là dấu hiệu cho thấy rằng “Nước Thiên Chúa đă đến giữa anh em” (Mt 20,28). Chăm Sóc Sức Khoẻ Con Người Trong các chuyến tông du của cha, đặc biệt tại các nước đang phát triển, cha thấy rằng việc chăm sóc sức khoẻ có một vị trí chiến lược đối với con người. Chẳng hạn kỹ thuật đang có khuynh hướng đ̣i hỏi phải được chú ư hơn, nhưng nó không luôn luôn bảo vệ các quyền con người. Đau khổ, bệnh tật và chết chóc là điều không thể tránh đối với đời sống con người. Tất cả chúng ta phải hợp tác với nhau để giải quyết theo cách nhân loại những vấn đề mà những thực tại đó gây ra. Việc giúp bệnh nhân vượt thắng được những bệnh tật của họ một cách có phẩm giá chắc chắn là sự phục vụ mà nhân loại trông mong từ nơi khoa học, kỹ thuật và y khoa. Nhưng điều này là không thể có được nếu không có một cái nh́n sáng suốt về sự cần thiết tuyệt đối tôn trọng con người. Sau hết, con người là tạo vật duy nhất siêu vượt trên thực tại vật chất v́ khía cạnh thiêng liêng của nó. Đây phải là điều chúng ta cần lưu ư luôn luôn nếu chúng ta thực sự muốn tránh những hậu quả trong môi trường y khoa có thể gây ra những bệnh xă hội trầm trọng. Chúng ta phải tôn trọng phẩm giá con người gồm cả khía cạnh thiêng liêng của nó. Phụ Nữ Trong Vai Tṛ Lănh Đạo Dù không được gọi làm tông đồ trong nhóm mười hai, và do đó không được trao thừa tác vụ linh mục, nhưng nhiều phụ nữ đă tháp tùng Chúa Giêsu trong sứ vụ của Người và đă tham gia vào nhóm các tông đồ (x. Lc 8, 2-3); đă có mặt dưới chân thánh giá (x. Lc 23, 49); đă tham dự cuộc an táng Đức Kitô (x. 23, 55); đă lănh nhận và truyền đạt sứ điệp phục sinh vào sáng sớm ngày Phục sinh (x. Lc 24, 1-10); và đă cầu nguyện với các tông đồ trong nhà tiệc ly chờ đón Chúa Thánh Thần (x. Cv 1, 14). Theo chứng từ Phúc âm, Giáo hội ngay từ ban đầu đă phá thông lệ của thời đại và mời gọi các phụ nữ đến lănh những bổn phận liên quan đến việc rao giảng Phúc âm. Trong các thư, thánh Phaolô đă nêu tên nhiều phụ nữ với những phận vụ khác nhau của họ trong cộng đồng kitô hữu tiên khởi (x. Rm 16,1-15; Pl 4,2-3; Cl 4,15 và 1Cr 11,5; 1Tm 5,16). Đức Thánh Cha Phaolô VI nói: “Nếu chứng từ của các tông đồ đă xây dựng Giáo hội, th́ chứng từ của các phụ nữ cũng góp phần lớn lao vào việc nuôi dưỡng đức tin của các cộng đồng kitô hữu.” Chứng Từ Không Thể Thay Thế Của Các Phụ Nữ Nhờ việc noi gương Đức Maria, Đấng mà sau này Elisabét đă gọi là có phúc v́ đă tin (x. Lc 1,45), và nhờ việc nhớ lại Chúa Giêsu cũng đ̣i hỏi Matta phải tuyên xưng đức tin trước khi Người phục sinh Lazarô (x. Ga 11,26), người phụ nữ kitô sẽ cảm thấy được mời gọi một cách cá biệt để tuyên xưng và làm chứng cho đức tin. Giáo hội cần có những nhân chứng cương quyết, kiên tŕ và trung tín, những người mà đối diện với những sự vô tín và nghi ngờ tràn ngập mọi tầng lớp trong xă hội ngày nay, sẽ chứng tỏ, bằng lời nói và việc làm, sự tận tâm của họ đối với Đức Kitô hằng sống. Chúng ta không thể quên rằng... vào ngày Chúa Giêsu phục sinh, chính các phụ nữ là những nhân chứng đầu tiên cho chân lư này...Lúc đó, họ cũng bộc lộ tính trực giác của trí năng nữ giới, khiến cho họ dễ mở ra trước chân lư mặc khải hơn, có thể hiểu được ư nghĩa của các sự kiện và chấp nhận sứ điệp Phúc âm. Dọc theo các thế kỷ có vô số những bằng chứng về khả năng và sự sẵn sàng này... Các phụ nữ có một đường lối đặc biệt để truyền bá đức tin và do đó chính Chúa Giêsu đă mời gọi họ rao giảng Tin Mừng. Sự Khó Nghèo Phúc Âm Làm Chúng Ta Nên Tốt Hơn Sự khó nghèo Tin Mừng rất khác với cái nghèo về kinh tế xă hội... Cái nghèo này có những tính chất khắc nghiệt và thường bi thảm, v́ nó được cảm thấy như một h́nh thức cưỡng bách. [Nhưng] đức nghèo Tin Mừng do con người tự do chọn nhằm đáp lại lời khuyên của Đức Kitô: “Không ai có thể làm môn đệ Ta nếu không từ bỏ những ǵ ḿnh có” (Lc 14,33). Đức nghèo Tin Mừng như thế là nguồn mạch của b́nh an v́ nhờ đó người ta có thể thiết lập một mối tương quan phù hợp với Thiên Chúa, với người khác và với muôn vật. Do đó, đời sống của những con người tự đặt ḿnh vào trong những trường hợp này làm chứng con người hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa, Đấng yêu thương mọi tạo vật. Họ đi đến chỗ nhận ra công dụng của tài sản vật chất: đó là một tặng ân của Thiên Chúa ban nhằm mưu ích cho mọi người. Đức nghèo Tin Mừng... biến đổi những ai chấp nhận nó. Họ không thể chịu dửng dưng khi đối mặt với những đau khổ của người nghèo. Thật thế, họ cảm thấy được thúc đẩy cùng với Chúa tham dự một cách chủ động vào t́nh yêu ưu ái của Người dành cho họ. Những ai nghèo khó theo tinh thần Tin Mừng luôn sẵn sàng hy sinh tài sản của họ và chính bản thân họ v́ sự sống của tha nhân. Ước muốn duy nhất của họ là sống hoà thuận với mọi người, đem đến cho mọi người tặng ân an b́nh của Chúa Giêsu (x. Ga 14,27). Thánh Clara Nh́n Thấy Chúa Kitô Trong Người Nghèo Hành tŕnh chiêm niệm của thánh nữ Clara, mà đỉnh cao của nó ở nơi cái nh́n của thánh nữ về Đức Vua vinh hiển, bắt đầu ngay trong sự hoàn toàn phó thác cho Thần Khí của Chúa một cách giống như Đức Maria vào lúc truyền tin. Nó bắt đầu với tinh thần khó nghèo (x. Lc 1, 48) làm cho thánh nữ trống rỗng mọi sự trừ ánh nh́n đơn sơ dán chặt vào Chúa. Đối với thánh Clara, đức khó nghèo - mà thánh nữ rất yêu mến và thường hay đề cập đến trong các bản văn – là sự giàu sang của linh hồn. Khi đă tước bỏ hết mọi của cải, linh hồn trở nên giống như chiếc b́nh trống rỗng trong đó Thiên Chúa có thể đổ tràn đầy các tặng ân của Người... Nếu Catarina Siena là vị nữ thánh say mê Máu Thánh Đức Kitô; th́ Têrêsa Mẹ là người phụ nữ vượt qua từ “pḥng” này đến “pḥng” khác, cho đến cửa pḥng của Đức Vua trong Cung Nội; và Têrêsa Hài Đồng là một người, trong cái đơn sơ của Phúc âm, đă bước đi trên con đường nhỏ – th́ Clara là người yêu say mê Đức Kitô tử giá khó nghèo, mà thánh nữ muốn đồng hoá với một cách tuyệt đối... Thực ra, toàn thể cuộc đời của Clara là một phép Thánh Thể. Giống như Phanxicô, từ tu pḥng của ḿnh, thánh nữ đă dâng lên Thiên Chúa lời “tạ ơn” liên lỉ bằng những lời tán dương, van xin, cầu bầu, qua những hy sinh, đau khổ, than khóc. Thánh nữ chấp nhận mọi sự và dâng nó lên Chúa Cha hiệp với lời tạ ơn vô cùng của Con Độc Nhất, là Chúa Con, Đấng tử giá và phục sinh, đang sống bên hữu Đức Chúa Cha. Đồng Trinh – Mẫu Tính Thiêng Liêng Đồng trinh theo Phúc âm nghĩa là từ khước việc vợ chồng và do đó là từ bỏ tư cách làm mẹ về thể lư. Tuy nhiên, sự từ bỏ thứ mẫu tính này, một sự từ bỏ có thể bao gồm một hy sinh lớn lao đối với người phụ nữ, lại có thể đưa lại một thứ mẫu tính khác – mẫu tính “theo tinh thần” (x. Rm 8, 4). V́ sự đồng trinh không tước khỏi người phụ nữ những đặc quyền của họ. Mẫu tính thiêng liêng mang nhiều h́nh thức khác nhau... Nó có thể tỏ ḿnh ra qua sự quan tâm đến tha nhân, đặc biệt là những người lâm cảnh túng quẫn nhất: người bệnh nạn tật nguyền, người bị bỏ rơi, cô nhi, người già, trẻ em, người trẻ, tù nhân và, nói chung là những người bị gạt ra bên lề xă hội. Bằng cách này, người phụ nữ thánh hiến t́m thấy Đức Lang Quân của ḿnh, rất khác mà cũng rất giống, trong từng người và mọi người, theo như chính lời Người đă nói: “Những ǵ các con làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các con làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). T́nh yêu mang tính hiền thê thiêng liêng luôn bao hàm tích cách sẵn sàng trào thông ra cho những người ở trong phạm vi hoạt động của nó. Trong bậc hôn nhân, tính cách sẵn sàng này, mặc dù cũng mở ra cho mọi người, nhưng chủ chốt hệ tại t́nh yêu mà cha mẹ dành cho con cái họ. Trong bậc đồng trinh, sự sẵn sàng này được mở ra cho tất cả những ai được t́nh yêu của Đức Lang Quân Giêsu Kitô ôm ấp. Tính Dục Và Chủ Nghĩa Tiêu Thụ Sự quyến rũ của cái gọi là “xă hội tiêu thụ” rất mạnh mẽ nơi những người trẻ đến nỗi họ trở nên bị thống trị và tù hăm bởi lối giải thích về cuộc sống con người theo chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa khoái lạc. “Hạnh phúc” vật chất, mà người ta theo đuổi quyết liệt, trở nên một lư tưởng duy nhất để phấn đấu trong cuộc đời, một hạnh phúc mà người ta cố đạt cho được bằng mọi cách và mọi giá. Người ta thường từ chối mọi cái nói về sự hy sinh và khước từ mọi cố gắng t́m kiếm và thực hành những giá trị về tôn giáo và tinh thần. Sự quá lo lắng đến của cải sẽ hất bỏ những điều chính yếu trong cuộc đời. Hậu quả là những giá trị cá nhân và liên vị bị giải thích và sống không phù hợp với logic của sự hiến dâng và quảng đại nhưng chỉ phù hợp với logic của sự chiếm hữu ích kỷ và khai thác người khác. Điều này đặc biệt được phản ánh trong lối nh́n về tính dục con người theo đó phẩm giá tính dục giúp hiệp thông... giữa những con người bị thoái hoá. Do đó, nó bị giảm thiểu xuống không hơn ǵ một món hàng tiêu thụ. Trong trường hợp này nhiều người trẻ phải trải qua một kinh nghiệm thấm thía: thay v́ góp phần vào sự trưởng thành nhân cách vui tươi và hài hoà,... th́ lại trở nên co cụm vào chính ḿnh do những diễn tiến nghiêm trọng về mặt tâm lư và đạo đức. T́nh huống này không thể nào không có những hậu quả trầm trọng trên chính họ trong tương lai. Sự Khiêu Dâm Và Gia Đ́nh Sự phát triển nhanh chóng của nền văn hoá khiêu dâm chỉ là một dấu hiệu của cơn khủng hoảng lớn lao về các giá trị đạo đức đang tác động trên xă hội hiện nay. Khiêu dâm là vô đạo đức và cuối cùng là phản xă hội, chính xác là v́ nó trái với chân lư về con người được tạo dựng nên theo h́nh ảnh và giống Thiên Chúa. Theo chính bản tính của nó, khiêu dâm chối bỏ ư nghĩa đích thực của tính dục con người như là một tặng ân của Thiên Chúa cho con người để hướng con người đến t́nh yêu và đến sự tham gia vào hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa qua việc sinh sản có trách nhiệm. Với việc hạ thấp thân xác thành một dụng cụ để thoả măn giác quan, khiêu dâm khiến người ta không đạt đến sự trưởng thành luân lư đích thực được và phá hoại sự phát triển những mối quan hệ trưởng thành và lành mạnh. Chắc chắn nó sẽ dẫn đến sự khai thác người khác, đặc biệt những người quá dễ bị thương thổn, như được thấy rơ một cách bi thảm trong trường hợp khiêu dâm trẻ em... Gia đ́nh thường thường là nơi trước nhất phải chịu khốn khổ từ sự khiêu dâm và những hậu quả thảm khốc của nó để lại trên con cái. Bởi vậy, như những tế bào chủ chốt của xă hội, gia đ́nh phải là chiến sỹ tiên phong trong cuộc chiến chống lại sự dữ xấu xa này. Niềm Vui Hoà Giải Hăy dọn đường cho Đức Chúa, hăy sửa đường ngay thẳng cho Người” (Lc 3, 4). Lời chứng [của Gioan Tẩy Giả] cho thấy rằng để đi và t́m gặp Đức Chúa th́ điều cần thiết là phải tạo nên những khoảng “sa mạc” ở trong và chung quanh chúng ta – những cơ hội để từ bỏ những ǵ là thừa thăi, để t́m kiếm cái thiết yếu, một bầu khí lặng thinh và cầu nguyện. Thánh Gioan Tẩy Giả mời chúng ta, trên hết, hăy quay về với Thiên Chúa, quyết liệt xa lánh tội lỗi là cái làm đầu độc trái tim con người và làm cho con người mất niềm vui của việc gặp gỡ Thiên Chúa. Đặc biệt là nhờ nhiệm tích hoà giải người kitô hữu có thể cảm nghiệm được điều này, khi tái khám phá chân lư về cuộc đời riêng họ dưới ánh sáng Lời Chúa. Họ có thể nếm hưởng niềm vui mỗi khi hoà được với chính ḿnh và với Thiên Chúa. Động Lực Truyền Giáo Từ Gia Đ́nh Chính Đức Kitô đă chọn một gia đ́nh làm nơi để Người nhập thể và chuẩn bị cho sứ mạng mà Cha trên trời đă uỷ thác cho Người. Hơn nữa, Người đă thành lập một gia đ́nh mới, là Giáo hội, như một sự nối tiếp hành vi cứu độ phổ quát của Người. Do đó, Giáo hội và gia đ́nh theo cái nh́n của sứ mạng Đức Kitô, có những liên hệ ràng buộc lẫn nhau và những mục đích chung. Nếu tất cả mọi kitô hữu đều chia sẻ trách nhiệm đối với hoạt động truyền giáo,... th́ gia đ́nh kitô hữu, được xây trên một nhiệm tích đặc biệt, c̣n phải cảm thấy tinh thần truyền giáo thôi thúc hơn nữa... Hai vị thánh bổn mạng của các nhà truyền giáo, cũng như nhiều người thợ Phúc Âm, đă vui sống tuổi thơ của ḿnh trong một gia đ́nh kitô hữu đích thực. Thánh Phanxicô Xaviê đă phản ánh trong cuộc đời truyền giáo của ḿnh tinh thần quảng đại, chân thật và đạo đức sâu xa mà ngài đă sống nghiệm được trong gia đ́nh ngài và đặc biệt bên cạnh mẹ ngài. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đă viết về ḿnh với đặc nét đơn sơ: “Suốt cả cuộc đời, con đă được Chúa nhân lành bao bọc bằng t́nh yêu: những kỉ niệm đầu đời con đầy những nụ cười và những vuốt ve mơn chớn rất dịu dàng!” Chung Một Sự Sống, Một T́nh Yêu Những nhánh nho được liên kết với cây nho và từ đó chúng hút chất dinh dưỡng để làm cho “trái” đơm bông và phát triển. Các môn đệ được liên kết với Chúa cũng như vậy... Nhánh nho không có sự sống của riêng ḿnh. Chúng chỉ sống nếu được liên kết với thân cây của chúng. Sự sống của chúng được đồng hoá với sự sống của thân cây. Một ḍng nhựa duy nhất châu lưu trong cả hai; cây nho và nhánh sinh ra cùng một trái. Do đó có một mối liên hệ không thể phá vỡ giữa chúng, làm nên biểu tượng sống động về mối liên hệ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ của Người: “Các con hăy sống trong thầy cũng như thầy sống trong các con” (Ga 15,4). Trong các nhánh nho tất cả được nuôi dưỡng bởi cùng một thứ nhựa, họ cũng được liên kết với nhau bởi sự hiệp thông tương hỗ. Sự đ̣i hỏi hiệp thông trong t́nh yêu phát xuất từ sự hiệp thông sự sống này: “Các con hăy yêu mến nhau như Thầy đă yêu các con” (Ga 15,12). Đó là t́nh yêu mạnh mẽ, không giới hạn và không ràng buộc. Chúa Giêsu đă liên kết nó với đau khổ và sự chết của Người để cứu chuộc các bạn hữu Người, là các môn đệ tin vào Người. “Không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu của người hiến mạng sống ḿnh v́ bạn hữu” (Ga 15,13). Sự đề cập đến ơn cứu chuộc nêu bật số phận chung của người môn đệ Đức Kitô. Tất cả họ đều được cứu chuộc bởi một Chúa duy nhất. Cây Nho Và Bánh “Ta là cây nho... ai sống trong Ta và Ta ở trong nó, sẽ sản sinh phong phú” (Ga 15,5). Chúa Giêsu vẫn ở trong chúng ta qua phép Thánh Thể. Lời Chúa Giêsu mời gọi “ở lại trong Người” nhắc nhớ chúng ta về một chân lư khác mà Người đă đề cập đến trong bối cảnh của bài giảng dài về “bánh sự sống.” “Ai ăn Thịt và uống Máu Ta th́ sẽ có sự sống đời đời” (x. Ga 5,56). Chúa Giêsu nói như thế với đám đông. Đoạn văn song song này tỏ cho chúng ta thấy biểu tượng về cây nho cũng ám chỉ về Thánh Thể như thế nào. Chúng ta thấy cách mà chúng ta ở lại trong Chúa Giêsu, Cây Nho Thật, được thực hiện bằng việc chúng ta lấy Người làm của ăn. Thánh Thể là chính Chúa Giêsu đang ở lại giữa chúng ta một cách thực sự và thực tế. Mặc dù, Người xuất hiện trước chúng ta dưới dấu chỉ nhiệm tích của bánh và rượu, th́ Người cũng thực sự hiện diện bên chúng ta. Thực ra, những dấu chỉ này không đem lại cho chúng ta cái vui sướng được nh́n thấy Người bằng mắt, nhưng chúng cũng đem lại cho chúng ta một sự bảo đảm về sự hiện diện của Người giữa chúng ta. Chúng ta là những người thụ hưởng quyền năng hiện diện mọi nơi mọi lúc của Người một cách nhiệm tích như lương thực cho linh hồn chúng ta. Tất cả chúng ta hăy đến gần bàn thánh Chúa để lănh nhận của ăn quư giá này. Nhiệm Tích Và Linh Hồn Của T́nh Yêu Việc phượng tự Thánh Thể vẫn tiếp tục là linh hồn của toàn thể đời sống kitô hữu. Thực ra, đời sống kitô hữu được diễn tả trong sự hoàn thành giới răn vĩ đại nhất – yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. T́nh yêu này t́m thấy cội nguồn của nó trong nhiệm tích Thánh Thể, mà thông thường được gọi là nhiệm tích t́nh yêu. Thánh Thể biểu thị đức bác ái này, và do đó nhắc lại nó, làm cho nó hiện diện và đồng thời hiện thực hoá nó. Mỗi lần chúng ta rước Thánh Thể cách có ư thức, th́ sẽ mở ra trong linh hồn chúng ta một chiều kích đích thực của t́nh yêu khôn ḍ đó, bao gồm mọi thứ mà Thiên Chúa đă làm và vẫn c̣n tiếp tục làm cho con người chúng ta. Như Đức Kitô nói: “Cha thầy vẫn làm việc và thầy cũng làm như vậy.” Cùng với tặng ân tự do khôn ḍ này...nó cũng phát sinh trong chúng ta một lời đáp yêu sống động. Chúng ta không chỉ biết t́nh yêu; chính chúng ta cũng bắt đầu yêu. Chúng ta bước vào trên nẻo đường yêu thương và theo con đường này thực hiện những tiến bộ... Phượng tự Thánh Thể do đó chính là cách diễn tả của t́nh yêu vốn là nét đặc trưng xác thực và sâu xa nhất của ơn gọi kitô hữu. Chia Sẻ Báu Tàng Dấn thân vào việc tân phúc âm hóa có nghĩa là chúng ta xác tín rằng chúng ta có một cái ǵ đó giá trị để trao tặng cho gia đ́nh nhân loại vào lúc b́nh ḿnh của ngh́n năm mới... Trao tặng “một sự khôn ngoan thuần tuư nhân loại, một khoa học giả tạo về hạnh phúc”29, th́ chưa đủ. Chúng ta phải xác tín rằng chúng ta đang có “một viên ngọc cao giá” (x. Mt 13,46), một “kho tàng” vĩ đại (x. Mt 13,44), là nền tảng cho cuộc sống trần gian và sự cứu độ đời đời của mọi phần tử trong ḍng dơi nhân loại... Vào thời điểm như thế này, khi mà nhiều người đang lẫn lộn về những giá trị và những chân lư nền tảng mà trên đó xây nên đời sống của họ và t́m kiếm sự cứu độ đời đời; khi mà nhiều người công giáo đang có nguy cơ đánh mất viên ngọc cao giá là đức tin của ḿnh; khi mà không có đủ số linh mục, tu sĩ nam nữ để hỗ trợ và hướng dẫn, không đủ số những tu sĩ chiêm niệm để duy tŕ trước mắt dân chúng cái ư nghĩa về quyền tối thượng của Thiên Chúa, th́ chúng ta phải xác tín rằng Đức Kitô đang bị vít lại trước nhiều con tim, đang t́m kiếm những người trẻ giống các con để sai đi làm vườn nho nơi mà một mùa gặt phong phú đang chờ đợi... Chúng ta hăy sốt sắng cầu xin với Chủ Vườn để cho giới trẻ của thế giới không ngần ngại đáp lại: “Này con đây xin hăy sai con!” “Hăy sai chúng con!” Sự Sống Trên Sự Chết Đứng trước mầu nhiệm sự chết con người hoàn toàn bất lực. Mọi cái chắc chắn của nhân loại bắt đầu lung lay. Tuy nhiên, chính khi đứng trước trở lực này mà đức tin Kitô giáo, nếu được hiểu và được chấp nhận trong tất cả sự phong phú của nó, sẽ đem lại một nguồn thanh thản và b́nh an. Thực ra, dưới ánh sáng Phúc âm, con người mặc một chiều kích siêu nhiên mới mẻ. Điều xem ra vô nghĩa sẽ đạt được ư nghĩa và giá trị. Khi không dựa vào sứ điệp cứu độ của đức tin và hy vọng, th́ hậu quả là tiếng gọi của đức ái trở nên yếu kém. Những nguyên tắc thực dụng và vị lợi sẽ nhập cuộc, cuối cùng đi đến chủ trương rằng giết chết những con người đă trở nên gánh nặng cho chính ḿnh và cho người khác, là hợp lư và có thể biện minh được... Ở đây chúng ta có thể nghĩ, chẳng hạn về sự phá thai, sự chết êm dịu cho trẻ sinh non, sự tự sát, sự chết êm dịu cho bệnh nhân nan trị, và nhiều thứ can thiệp đáng lo ngại trong lănh vực di truyền học...Đặc biệt đối với sự kiện không thể tránh của cái chết, Giáo hội không ngừng đưa ra giáo huấn bền vững của ḿnh mà ngày nay vẫn c̣n hiệu lực như xưa, dựa trên sứ điệp của Đức Kitô. Sự sống là tặng ân của Đấng tạo hoá dùng để phục vụ anh chị em ḿnh, những người, trong kế hoạch cứu độ, có thể luôn luôn rút được lợi ích từ đó. Do đó, không bao giờ được phép làm phương hại đến tiến tŕnh sự sống, từ lúc khởi đầu cho đến lúc chấm dứt theo tự nhiên. Đúng hơn nó phải được chấp nhận, được tôn trọng và được thăng tiến bằng mọi cách, và được bảo vệ khỏi mọi mối đe doạ. Chủ Nghĩa Quốc Gia Xúc Phạm Đến Đức Kitô Chúng ta đang đứng trước một thứ ngoại đạo mới: đó là sự thần thánh hoá quốc gia. Lịch sử đă chứng tỏ rằng bước chuyển tiếp từ chủ nghĩa dân tộc đến chế độ độc tài là rất nhanh và khi các bang quốc không c̣n b́nh đẳng nữa, th́ chính người dân cũng đi đến chỗ bất b́nh đẳng. Do đó t́nh liên đới giữa các dân tộc bị phá hủy, nguyên tắc hợp nhất nhân loại bị khinh thường. Giáo hội Công Giáo không thể chấp nhận lối nh́n các sự vật như thế. Bản tính là phổ quát, Giáo hội ư thức ḿnh hiện hữu là để phục vụ tất cả mọi người và không bao giờ đồng hóa ḿnh với bất cứ cộng đồng dân tộc nào. Giáo hội đón vào ḷng ḿnh tất cả mọi dân tộc, mọi giống ṇi và mọi nền văn hóa. Giáo hội lưu tâm đến – thực ra Giáo hội biết rằng ḿnh là người nắm giữ – kế hoạch của Thiên Chúa đối với nhân loại: để qui tụ tất cả mọi dân tộc về trong một gia đ́nh. Và điều này là do Thiên Chúa là Đấng Sáng tạo và là Cha của mọi người. Đó là lư do tại sao mỗi lần Kitô giáo – dù theo truyền thống Tây hay Đông phương – trở nên công cụ cho một h́nh thức của chủ nghĩa dân tộc, th́ y như rằng nó đă đả thương chính trái tim của ḿnh và làm cho nó ra cằn cỗi. Thi Hành Vương Quyền Của Đức Kitô Qua đức bác ái đối với tha nhân, người tín hữu giáo dân thi hành và biểu lộ việc họ tham dự vào vương quyền của Đức Kitô, tức là, trong quyền năng của Con Người, Đấng “đă không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ” (Mc 10, 45). Họ sống và biểu lộ một vương quyền như thế trong cung cách rất đơn sơ nhưng cũng rất cao qúi. [Điều này] có thể đối với mọi người và mọi thời bởi v́ đức ái là món quà cao qúi nhất do Thánh Thần ban tặng nhằm xây dựng Giáo hội (x. 1 Cr 13, 13) và v́ thiện ích cho nhân loại... Đức ái như thế, được thực hiện không chỉ bởi những cá nhân nhưng cũng, trong sự liên kết, bởi những nhóm và những cộng đồng, đang và sẽ luôn luôn là cần thiết. Không ǵ và không ai sẽ có thể thay thế cho nó, thậm chí vô số các cơ quan và những sáng kiến công cộng cũng không thể đưa ra câu trả lời trước những nhu cầu... của toàn thể dân chúng... những h́nh thức khác nhau của công tác thiện nguyện đang biểu hiện trong vô số những việc phục vụ và những hoạt động vẫn tiếp tục diễn ra và lan truyền, đặc biệt trong cơ cấu xă hội. Nếu sự phục vụ vô tư này thực sự được cống hiến cho lợi ích của tất cả mọi người, đặc biệt là những người đang trong cảnh cùng quẫn và bị chính những dịch vụ xă hội lăng quên, th́ lúc đó công tác thiện nguyện có thể được coi như một cách diễn tả quan trọng của việc tông đồ trong đó những người giáo dân nam cũng như nữ nắm một vai tṛ chủ chốt. Sự Hứa Hẹn Của Các Cộng Đồng Canh Tân Hiện tượng phát triển nhanh chóng trong các giáo hội trẻ... là hiện tượng của các “cộng đồng giáo hội cơ bản” (cũng c̣n có tên gọi khác nữa) đang chứng tỏ là những trung tâm cho việc đào tạo kitô hữu và vươn tới việc truyền giáo. Đó là những nhóm kitô hữu, những người ở bậc gia đ́nh hoặc trong hoàn cảnh hạn chế tương tự, cùng đến với nhau để cầu nguyện, đọc Thánh Kinh, giáo lư, và thảo luận với nhau về những vấn đề con người và xă hội với một cái nh́n về một mối quan tâm chung. Những cộng đồng này là một dấu hiệu sống động trong Giáo hội, một công cụ đào tạo và Phúc âm hoá, và một khởi điểm chắc chắn cho một xă hội mới dựa trên “nền văn minh t́nh thương.” Những cộng đồng này chủ trương phi tập trung hoá và đi vào cơ cấu cộng đồng giáo xứ mà họ vẫn luôn luôn hiệp nhất với. Họ trở nên một chút men của đời sống Kitô giáo, của sự chăm lo cho người nghèo và người bị bỏ rơi và tận tâm với việc biến dổi xă hội. Nơi những cộng đồng ấy từng cá nhân kitô hữu sống nghiệm tính chất cộng đồng và do đó cảm thấy rằng ḿnh đang đóng một vai tṛ tích cực và được khích lệ để tham gia vào bổn phận chung. Do đó, những cộng đồng này trở nên một phương thế truyền giảng Tin Mừng và công bố Phúc âm, và là một nguồn phát xuất các tác vụ mới. Đồng thời, nhờ việc thấm nhuần t́nh yêu Đức Kitô, họ cũng cho thấy có thể vượt thắng được những chia rẽ, những phân biệt chủng tộc và bộ tộc như thế nào. Những Hạn Chế Của Nền Dân Chủ Nền dân chủ không thể được thần tượng hoá đến độ nó có thể thay thế cho luân lư hoặc trở nên thứ thuốc vạn năng cho sự vô luân. Về cơ bản, dân chủ là một “hệ thống” và như vậy là phương tiện chứ không phải mục đích. Giá trị “luân lư”của nó không tự động mà có, nhưng tuỳ thuộc vào sự tuân giữ luật luân lư mà nó phải tuân theo, giống như mọi h́nh thức ứng xử nhân loại khác: nói cách khác, luân lư tính của nó tuỳ thuộc vào luân lư tính của mục đích mà nó theo đuổi và luân lư tính của phương tiện mà nó dùng. Nếu ngày nay chúng ta thấy hầu như mọi người đều đồng ư với giá trị dân chủ, th́ điều này được xem như một “dấu hiệu tích cực của thời đại,” như huấn quyền của Giáo hội thường đề cập đến. Nhưng giá trị của nền dân chủ đứng vững hoặc ngả theo những giá trị mà nó thể hiện và thúc đẩy. Dĩ nhiên những giá trị như là phẩm giá của mỗi con người, sự tôn trọng những quyền bất khả xâm phạm và không thể chuyển nhượng của con người, và sự nh́n nhận “lợi ích chung” như mục đích và tiêu chuẩn điều hoà đời sống chính trị, là nền tảng vững chắc và không thể bị bỏ qua... Nếu, như một hậu quả của tấn thảm kịch làm mờ tối ư thức tập thể, một thái độ của chủ nghĩa hoài nghi đă thành công trong việc gieo rắc nghi vấn vào ngay trong những nguyên tắc nền tảng của luật luân lư, th́ hệ thống dân chủ tự nó sẽ bị lung lay tận nền móng. Nguồn Mạch Của Sự Thánh Thiện “Thánh Thần Chúa ngự xuống trên tôi” (Lc 4,18). Thánh Thần không chỉ “ngự xuống” trên Đấng Messia, nhưng c̣n “đổ đầy” trên Người, thấu nhập vào mọi phần hữu thể Người... Nhờ Thánh Thần, Chúa Giêsu hoàn toàn và tuyệt đối thuộc về Thiên Chúa. Người tham phần vào sự thánh thiện vô cùng của Thiên Chúa, Đấng kêu gọi Người, tuyển chọn và sai Người ra đi. Như thế Thánh Thần Thiên Chúa được mặc khải như nguồn mạch của sự thánh thiện và của ơn gọi nên thánh. Cũng một “Thần khí” đó “ngự xuống” trên toàn thể dân Chúa, dân được đặt lên làm dân “thánh hiến” cho Thiên Chúa và được Thiên Chúa “sai đi” loan báo tin mừng cứu độ. Các phần tử của dân Chúa được Thánh Thần “ghi dấu” và “thu hút” (x. 1Cr 12,13; 2Cr1,21...; Ep 1,13; 4,30) và được mời gọi nên thánh. Đặc biệt, Thánh Thần mặc khải và truyền thông cho chúng ta lời gọi căn bản mà Chúa Cha đă ngỏ với mỗi người từ đời đời: lời gọi hăy “sống thánh thiện và trong sạch trước mặt Người... trong t́nh yêu,” nhờ việc chúng ta được tiền định làm dưỡng tử qua Chúa Giêsu Kitô (x. Ep 1,4-5). Chưa hết, qua việc mặc khải và truyền thông tiếng gọi ấy cho chúng ta, Thánh Thần trở nên trong chúng ta nguyên lư và nguồn mạch của sự trọn hảo của Người. Người, thần khí của Ngôi Con (x. Gl 4,6), cho chúng ta nên đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô, khiến chúng ta được tham dự vào sự sống của Chúa Con, tức là tham phần vào sự sống t́nh yêu của Ngài đối với Chúa Cha và đối với anh chị em chúng ta. Nh́n Ngắm Chúa Diện Đối Diện Chiêm ngưỡng Thiên Chúa diện đối diện là khát vọng sâu xa nhất của trái tim con người. Hùng hồn biết bao những lời của thánh tông đồ Philiphê khi ngài nói về vấn đề này: “Lạy Chúa,... xin tỏ cho chúng con biết Chúa Cha và như thế là đủ cho chúng con”( Ga 14,8). Những lời của Philiphê thật là hùng hồn v́ chúng chứng tỏ nỗi khát vọng và ước muốn sâu xa nhất của tinh thần con người. Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu c̣n hùng hồn hơn. Chúa Giêsu cắt nghĩa cho các tông đồ: “Bất cứ ai xem thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9). Chúa Giêsu là sự mặc khải đầy đủ về Chúa Cha. Ngài giải thích cho thế gian biết Chúa Cha như thế nào – không v́ Ngài là Chúa Cha – nhưng v́ Ngài hoàn toàn là một với Chúa Cha trong sự hiệp thông sự sống Thiên Chúa: qua những lời của Ngài: “Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta” (Ga 14,11). Hăy tạ ơn Chúa! Con người không phải đi t́m kiếm Thiên Chúa trong cô đơn nữa. Cùng với Chúa Kitô, con người khám phá thấy Thiên Chúa và khám phá thấy Thiên Chúa trong Đức Kitô. Phạm Tội Là Tự Sát Như một sự cắt đứt với Thiên Chúa, tội lỗi là một hành vi bất tuân do một thụ tạo quay lưng lại, ít là một cách mặc nhiên, với Đấng tạo dựng và bảo tồn nó trong sự sống. Do đó, tội lỗi là một hành vi tự sát. V́ qua việc phạm tội, con người từ chối tùng phục Thiên Chúa, và cũng phá vỡ sự quân b́nh nội tại của nó. Chính từ bên trong nó nảy sinh những mâu thuẫn và những xung đột. Bị thương tổn như thế, con người hầu như không thể tránh khỏi gây ra những tổn thất cho những mối tương quan đối với tha nhân và với thế giới tạo vật. Đây là một định luật và một thực tại khách quan. [Nó được] biện minh bằng nhiều cách trong tinh thần con người và trong đời sống thiêng liêng cũng như trong xă hội, nơi rất dễ nh́n thấy những dấu hiệu và những ảnh hưởng của sự xáo trộn bên trong. Mầu nhiệm tội lỗi kép bởi vết thương hai mặt, một mặt đâm vào chính ḿnh, mặt kia vào mối tương quan của ḿnh với tha nhân. Do đó, người ta có thể nói về tội xă hội và tội cá nhân: trên một phương diện, tội nào cũng là tội cá nhân; trên một phương diện khác, tội nào cũng mang tính xă hội trong mức độ nào đó và v́ nó cũng có những hậu quả để lại cho xă hội. Sự Tự Do Cá Nhân Trước Tội Lỗi Tội lỗi, theo ư nghĩa riêng của nó, luôn luôn là hành động cá nhân, v́ nó là một hành vi tự do về phía một cá nhân chứ không phải về một nhóm hay một cộng đoàn. Cá nhân này có thể bị điều kiện hoá, bị xúi dục, bị ảnh hưởng bởi vô số những nhân tố mạnh mẽ bên ngoài. Người ấy cũng có thể bị điều khiển bởi những xu hướng, những khuyết điểm và những tập quán gắn liền với hoàn cảnh cá nhân của ḿnh. Không ít những trường hợp mà những nhân tố bên trong hoặc bên ngoài như thế có thể làm giảm bớt, tới mức độ nặng hơn hoặc nhẹ hơn, tự do con người và do đó là trách nhiệm và tội lỗi của nó. Nhưng vấn đề con người có tự do đúng là một chân lư đức tin, cũng được xác chứng bởi kinh nghiệm và lư trí. Chân lư này không thể bị xem thường để quy trách cho tội cá nhân vào những yếu tố bên ngoài như những cơ cấu, những hệ thống hoặc người khác. Trên hết, điều này sẽ đi đến chỗ chối bỏ tự do và phẩm giá con người, tự do và phẩm giá ấy cũng được biểu lộ – dù một cách tai hại và tiêu cực – trong trách nhiệm đối với tội đă phạm. Do đó, không có ǵ quá riêng tư và bất khả chuyển nhượng trong mỗi cá nhân như công trạng đối với nhân đức hoặc trách nhiệm đối với tội lỗi. Ánh Hải Đăng Từ Trên Cao Sự quan pḥng của Thiên Chúa và tự do của con người không đối nghịch với nhau. Đúng ra chúng có vẻ như đối lập. Nhưng không, chúng cho thấy sự hiệp thông của t́nh yêu như thể Thiên Chúa tôn trọng và làm việc với ư chí tự do của chúng ta. Chẳng hạn khi chúng ta xét đến vận mệnh tương lại của chúng ta, chúng ta t́m thấy trong mặc khải thần linh – đặc biệt trong Đức Kitô – một ánh sáng quan pḥng soi cho chúng ta thấy con đường cứu độ và ư muốn của Chúa Cha. Thiên Chúa thực hiện điều này, mặc dù Người vẫn giữ nguyên mầu nhiệm. Từ một viễn cảnh như thế, sự quan pḥng thần linh không chối bỏ sự hiện diện của cái ác và nỗi đau khổ trong đời sống nhân loại. Hơn nữa, sự quan pḥng ấy trở nên điểm tựa cho niềm hy vọng của chúng ta trong lúc đau khổ, và ngay cả đem lại cho chúng ta một thoáng nh́n về cách chúng ta có thể rút ra sự thiện từ sự dữ. Sau cùng, chúng ta hăy nhớ ánh sáng vĩ đại mà Công đồng Vaticanô II đă chiếu lên về sự quan pḥng của Thiên Chúa khi Công đồng dựa vào những tiến bộ của thế giới cũng sẽ là những tiến bộ của chúng ta khi vương quốc Thiên Chúa đến, tỏ bày sự vững bền và khôn ngoan của Thiên Chúa t́nh yêu. “Ai khôn hăy hiểu các điều này. Ai tỉnh hăy biết lấy. V́ đường lối Giavê đều ngay thẳng. Những người công chính sẽ đi theo đó. C̣n phường nguỵ nghịch sẽ lăn nhào” (Hs 14,10). Chúng Ta Là Cha Mẹ Của Chính Ḿnh Các hành vi của con người là những hành vi luân lư bởi v́ chúng bộc lộ và xác định sự thiện hoặc sự ác của người thi hành chúng. Chúng không đưa lại một sự thay đổi thuần túy ở trạng thái những sự việc bên ngoài con người nhưng, tuỳ theo chừng mực chúng là những chọn lựa có chủ ư, chúng đưa lại câu định nghĩa luân lư cho chính người thực hiện chúng, xác định những đặc điểm thiêng liêng sâu xa của họ. Điều này đă được thánh Grêgôriô Nyssa viết một cách dễ hiểu: “... Chúng ta, một cách nào đó, là cha mẹ của chính ḿnh, đang tạo nên chính ḿnh như ḿnh muốn, qua các quyết định của chúng ta.” T́nh Yêu Nhân Loại Trong H́nh Ảnh Thiên Chúa Thiên Chúa đă tạo dựng con người theo h́nh ảnh và giống như Người. Khi gọi con người ra hiện hữu thông qua t́nh yêu, th́ đồng thời Người cũng gọi nó để yêu thương. Thiên Chúa là t́nh yêu, và trong chính ḿnh Người, Người sống mầu nhiệm của sự hiệp thông yêu thương ngôi vị. Khi tạo dựng giống ṇi nhân loại theo h́nh ảnh của chính Người và không ngừng giữ cho nó tồn tại, Thiên Chúa đă khắc ghi vào nhân tính con người nam cũng như nữ ơn gọi, và do đó là khả năng và trách nhiệm của t́nh yêu và hiệp thông. Bởi vậy t́nh yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mỗi con người... Mặc khải Kitô giáo nh́n nhận có hai con đường đặc biệt để thi hành ơn gọi của con người trong tính toàn thể của nó, đó là con đường t́nh yêu vợ chồng và t́nh yêu trinh khiết hoặc độc thân. Mỗi một con đường, trong h́nh thức riêng biệt của nó, đều là một hiện thể của chân lư sâu xa nhất của con người, của hữu thể được “tạo nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa.” Do đó, tính dục, theo ư nghĩa mà người nam và người nữ tự hiến ḿnh cho nhau thông qua những hành vi thích đáng và riêng biệt của vợ chồng, th́ không có nghĩa là một cái ǵ đó thuần tuư sinh học. Nhưng [nó] liên quan đến chỗ thâm sâu nhất của con người với cương vị là con người. Nó được thi hành theo cách thức nhân loại thực sự chỉ khi nó là một thành phần toàn vẹn của t́nh yêu mà nhờ đó một người nam và một người nữ cam kết với nhau cho đến trọn đời. Sự hiến-thân thể lư toàn diện sẽ là một sự dối trá nếu nó đă không là dấu hiệu và kết quả của sự hiến-thân ngôi vị toàn diện. Đào Tạo Con Cái Cho Sự Sống Trên mọi sự, chính trong việc dưỡng dục con cái mà gia đ́nh chu toàn được sứ mạng của ḿnh là công bố Tin Mừng sự sống. Bằng lời nói và gương sáng, trong phạm vi của những chọn lựa và những mối quan hệ hàng ngày, và qua những dấu hiệu và những hành động cụ thể, cha mẹ dẫn dắt con cái họ đi đến tự do đích thực, được thể hiện trong sự hiến thân chân thành. Và họ vun trồng trong chúng sự tôn trọng tha nhân, sự cảm thức về đức công bằng, sự cởi mở tâm hồn, sự đối thoại, sự phục vụ quảng đại, t́nh liên đới và tất cả những giá trị khác giúp con người sống cuộc đời như một tặng ân. Trong việc dưỡng dục con cái, các cha mẹ Kitô hữu phải quan tâm đến đức tin của con cái họ và giúp cho chúng chu toàn ơn gọi mà Thiên Chúa đă ban cho chúng. Sứ mạng của cha mẹ cũng bao gồm việc dạy bảo con cái và cho chúng tấm gương về ư nghĩa đích thực của đau khổ và sự chết. Họ sẽ có thể làm được điều đó nếu họ cảm nhận được tất cả mọi thứ đau khổ chung quanh họ và, hơn nữa, nếu họ thành công trong việc vun đắp cho chúng những thái độ thân thiện, giúp đỡ và thông cảm đối với những thành viên bệnh nạn và già nua trong gia đ́nh. Một Lư Tưởng Luân Lư Cao Cho Giới Trẻ Một cơn khủng hoảng luân lư nghiêm trọng đang tác động đến cuộc sống của nhiều người trẻ, khiến họ sống buông xuôi. Họ thường không hy vọng và bị điều kiện hoá để chỉ t́m kiếm những thoả măn nhất thời. Tuy nhiên, ở khắp nơi, các người trẻ đều quan tâm sâu sắc đến thế giới chung quanh họ. Họ sẵn sàng cho đi những ǵ tốt nhất của họ để phục vụ người khác. Họ đặc biệt nhạy bén đối với ư nghĩa siêu việt của sự sống. Nhưng làm thế nào chúng ta giúp đỡ họ được? Chỉ bằng cách truyền dẫn một cái nh́n luân lư cao cả có thể bảo đảm cho một xă hội mà những người trẻ ở đó được ban cho khả năng tiến tới trưởng thành như những con người có trí năng và tự do. Rồi chúng sẽ được phú cho một cảm thức mạnh mẽ về trách nhiệm đối với công ích. Rồi chúng sẽ có khả năng làm việc với những người khác để tạo nên một cộng đồng và một quốc gia với nền luân lư mạnh mẽ. Giáo dục mà không có một hệ thống đánh giá dựa trên chân lư là bỏ cho người trẻ rơi vào sự hỗn loạn luân lư, sự mất an ninh cá nhân và dễ bị giật giây điều khiển. Không quốc gia nào cho dù mạnh mẽ nhất, có thể tồn tại được nếu nó tước khỏi trẻ em của nó sự thiện hảo thiết yếu này. Sự tôn trọng phẩm giá và giá trị của mỗi con người, sự toàn vẹn và trách nhiệm, cũng như sự thông cảm và sự liên đới đối với tha nhân, sẽ chỉ tồn tại nếu chúng được thông qua các gia đ́nh, trường học và qua các phương tiện truyền thông xă hội. Những Thử Thách Củng Cố Hôn Nhân T́nh yêu của Đức Kitô là nguồn mạch và nền tảng của sự kết hợp t́nh yêu vợ chồng... “Hỡi những người chồng, hăy yêu thương vợ ḿnh, như Đức Kitô đă yêu thương Giáo hội. Người đă hiến thân ḿnh v́ Giáo hội...” (Ep 5, 25). Cần phải nói đi nói lại với mọi người rằng, với t́nh yêu trung thành tuyệt đối, Chúa Giêsu Kitô ban cho các đôi vợ chồng kitô hữu sức mạnh để trung thành và giúp cho họ có thể chống lại cơn cám dỗ phân ly ngày nay đang rất là phổ biến và quyến rũ. Chúng ta phải nhớ rằng, v́ t́nh yêu của Đức Kitô, Lang Quân đối với Giáo hội, là một t́nh yêu cứu độ, nên t́nh yêu của vợ chồng kitô hữu trở nên một sự tham gia tích cực vào sự cứu độ. Sự cứu độ được gắn liền với thập giá: và điều này giúp chúng ta hiểu và thẩm giá được ư nghĩa của những thử thách mà sứ điệp của đôi vợ chồng chắc chắn không thể tránh khỏi, nhưng trong kế hoạch của Thiên Chúa, chúng có ư nghĩa để tăng cường t́nh yêu của họ và đem lại những kết quả lớn lao hơn cho đời sống hôn nhân của họ. Thay v́ hứa hẹn ban cho các môn đệ của Người ở bậc hôn nhân được một thiên đàng dưới thế, Chúa Giêsu Kitô đă tặng ban cho họ cơ hội và ơn gọi để làm một cuộc hành tŕnh với Người mà, nhờ những khó khăn và những đau khổ, sẽ tăng cường sự hiệp nhất của họ và dẫn họ đến niềm vui cao cả hơn, như đă được minh chứng bởi kinh nghiệm của nhiều đôi vợ chồng kitô hữu, ngay trong thời đại chúng ta. Cầu Nguyện Làm Cho Các Gia Đ́nh Nên Tốt Cầu nguyện là nơi mà, một cách đơn giản nhất, bộc lộ sự tưởng nhớ đến Thiên Chúa là Cha và là Đấng sáng tạo: không chỉ sự con người tưởng nhớ Thiên Chúa, nhưng cũng và đặc biệt là sự Thiên Chúa tưởng nhớ đến con người. Theo đó, việc cầu nguyện của gia đ́nh như một cộng đồng, có thể trở nên một nơi tưởng niệm chung; gia đ́nh thực ra là một cộng đồng của các thế hệ. Chính trong giờ cầu nguyện chúng ta dễ dàng liên kết với mọi người: người sống cũng như những người đă chết, và cũng cả những người chưa chào đời nữa. Các gia đ́nh nên cầu nguyện cho tất cả các phần tử của ḿnh, được những sự tốt lành mà gia đ́nh mong muốn cho mỗi cá nhân và mỗi cá nhân ước mong cho toàn thể gia đ́nh. Cầu nguyện làm củng cố sự tốt lành này, một cách chính xác như là lợi ích chung của gia đ́nh. Hơn nữa, nó làm cho sự tốt lành đó luôn luôn mới. Trong cầu nguyện, gia đ́nh khám phá thấy chính ḿnh như cái “chúng tôi” đầu tiên, trong đó mỗi phần tử là “Tôi” và “Anh”; mỗi phần tử đối với người kia là chồng hay vợ, là cha hay mẹ, con trai hay con gái, anh em hay chị em, ông bà hay con cháu... Làm Thoả Măn Bản Ngă Thâm Sâu Của Các Con “Hăy vào pḥng, đóng cửa lại,” đó là lời Chúa Giêsu dạy chúng ta (Mt 6,6). Cuộc đàm thoại với Thiên Chúa không thể diễn ra giữa nơi giải trí ồn ào. Suy nghĩ và tập trung rơ ràng vào Chúa là điều cần thiết. Con người phải t́m kiếm bản ngă cao nhất và đích thực và, đồng thời cũng là bản ngă thâm sâu nhất của ḿnh. Thâm sâu nhất là sao? Cao nhất và thực nhất là sao? Bởi v́ sự hiểu biết này về con người có liên quan đến việc sáng tạo nó và việc sáng tạo thế giới. Đối với mọi thụ tạo của thế giới hữu h́nh quanh nó, con người nổi bật lên như chúa tể và chủ nhân. Nó được kêu gọi để chinh phục tất cả mọi tạo vật và có quyền trên trái đất. Đây là mệnh lệnh đầu tiên nó đă nhận được từ nơi Hóa Công. Thiên Chúa không chỉ tôn vinh con người trên thụ tạo, Thiên Chúa cũng uốn nắn con người tận tầng sâu hữu thể nó nữa. Bởi v́ con người cũng là tinh thần, nó có thể đạt đến chỗ mà các tạo vật khác không tới được. Bản tính nền tảng của con người – gồm cả tinh thần và thể xác – không cho phép nó t́m ư nghĩa tối hậu trong tạo vật thuần tuư vật thể. Con người không thể làm thoả măn bản ngă thâm sâu nhất của ḿnh qua thế giới hữu h́nh. Cũng không bằng cách chinh phục thụ tạo và thăng tiến khả năng của nó để phát triển, sáng tạo và khám phá. Nó có thể thể t́m thấy hạnh phúc đích thực trong sâu thẳm hữu thể của nó. Chúa Giêsu bảo: “Ích ǵ cho con người khi nó chiếm được toàn thể thế giới?” (Mt 16,26). Không, con người không thể lấp đầy bản ngă thâm sâu của ḿnh theo cách này. Đời Sống Vĩnh Cửu Bắt Đầu Từ Bây Giờ Giá trị đích thực của cuộc sống không chỉ liên hệ với lúc khởi đầu của nó, với sự kiện là nó phát xuất từ Thiên Chúa, nhưng cũng liên hệ với cùng đích của nó nữa, với vận mệnh của những người kết thân với Thiên Chúa trong sự hiểu biết mến yêu Người... T́nh yêu mà mỗi người có trong cuộc đời không thể bị giảm thiểu đơn thuần vào một ước muốn có đủ không gian để bộc lộ ḿnh ra và bước vào những mối quan hệ với người khác; đúng hơn nó phát triển trong sự hân hoan nhận biết rằng cuộc đời có thể trở nên “nơi” mà Thiên Chúa tỏ ḿnh ra, nơi mà chúng ta gặp gỡ Người và bước vào mối hiệp thông với Người. Sự sống mà Chúa Giêsu ban tặng không làm giảm giá trị cuộc đời hiện tại của chúng ta; nhưng nó bao bọc và hướng đưa cuộc đời chúng ta tới vận mệnh sau cùng của nó: “Ta là sự sống lại và là sự sống...bất cứ ai sống và tin vào Ta th́ sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26). Tivi – Xem Hay Không Xem Ngoài việc biết chọn lựa chương tŕnh nên xem cho chính ḿnh, các bậc cha mẹ nên tích cực giúp h́nh thành trong con cái ḿnh những tập quán xem những ǵ bổ ích cho việc phát triển về nhân bản, luân lư và tôn giáo. Các bậc cha mẹ cần t́m hiểu trước nội dung chương tŕnh và ư thức chọn lựa những ǵ có lợi cho gia đ́nh, những ǵ nên xem hoặc không nên xem. Những bài b́nh luận và đánh giá do các cơ quan tôn giáo và những nhóm hữu trách khác đem lại – cùng với các chương tŕnh giáo dục thông tin lành mạnh – có thể hữu ích trong lănh vực này. Cha mẹ cũng nên bàn thảo về truyền h́nh với con cái của họ, hướng dẫn chúng điều chỉnh về lượng và phẩm của việc xem truyền h́nh và giúp chúng hiểu biết cũng như phán đoán các giá trị đạo đức ẩn sau các chương tŕnh đặc biệt, bởi v́ gia đ́nh là “phương tiện ưu việt để chuyển tải những giá trị văn hoá và tôn giáo nhằm giúp con người đạt tới căn tính riêng của ḿnh.” Giáo dục việc xem Ti-Vi của con trẻ đôi khi cũng có nghĩa đơn giản là tắt Ti-Vi: bởi v́ có những việc khác cần phải làm hơn, hoặc xét thấy những phần tử khác trong gia đ́nh cần như thế, hoặc v́ chưa thể thẩm định được chương tŕnh đang xem có thể gây tổn hại. Những cha mẹ hay có thói quen triền miên sử dụng Ti-Vi như một loại máy điện tử giữ trẻ, th́ đă bỏ mất vai tṛ của ḿnh như những nhà giáo dục chủ chốt của con cái ḿnh. Sự lệ thuộc vào Ti-Vi như thế có thể khiến cho các thành viên trong gia đ́nh không c̣n thời giờ gặp gỡ tṛ chuyện với nhau hoặc cầu nguyện chung. Theo Chân Mẹ Bước Vào Thiên Niên Kỷ Mới Vào lúc chuẩn bị bước sang ngàn năm thứ ba, toàn thể Giáo hội được mời gọi sống mănh liệt hơn mầu nhiệm Đức Kitô bằng cách đem ḷng biết ơn cộng tác vào công cuộc cứu độ. Giáo hội làm điều này cùng với Đức Maria và theo gương Đức Maria, người mẹ và mô phạm của Giáo hội: Đức Maria là kiểu mẫu của t́nh yêu từ mẫu, t́nh yêu ấy phải phấn khích tất cả những ai đang cộng tác vào sứ mạng tông đồ của Giáo hội để làm tái sinh nhân loại. Do đó, “được tăng cường bởi sự hiện diện của Đức Kitô, Giáo hội đang lữ hành qua thời gian tiến về sự hoàn tất các thời đại và ra đi gặp gỡ Đức Chúa đang đến. Nhưng trên cuộc lữ hành này... Giáo hội đang tiến lên trên con đường mà Đức Maria đă bước đi. Hoa Trái Của Đau Khổ Là Hoà B́nh Trước ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba, hoà b́nh, không may, vẫn c̣n xa vời... việc nhận ra những nguyên nhân và việc t́m kiếm những giải pháp thường xem ra vất vả. Thậm chí ở nơi những người kitô hữu đôi khi vẫn thấy xảy ra những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn đẫm máu. Nhưng những người bắt đầu nghe Phúc âm trong tinh thần cởi mở không thể nào không muốn nhắc nhở nhau và nhắc nhở người khác về sự cần thiết phải tha thứ và hoà giải. Họ được mời gọi đến bàn thờ hàng ngày, sốt sáng cầu nguyện, cùng với bệnh nhân trên toàn thế giới, để dâng lên của lễ đau thương mà Chúa Giêsu đă chấp nhận như phương thế để chuộc lại nhân loại và cứu vớt nó. Nguồn mạch của hoà b́nh là thập giá Đức Kitô, trong đó chúng ta tất cả được cứu độ... Hoà b́nh là hoa trái của công b́nh và t́nh yêu, mà đỉnh cao của nó là lễ dâng quảng đại bằng những đau khổ của con người, được khuyến khích – nếu cần – tiến đến chỗ hiến dâng mạng sống ḿnh để kết hợp với Đức Kitô... Việc dùng đau khổ để sinh lợi ích và dùng nó để cứu độ thế giới thực ra tự chúng là một hành vi và một sứ điệp của hoà b́nh. Từ những chứng từ can đảm của những người đau yếu, bệnh tật và đang chịu đau khổ, có thể phát sinh những đóng góp cao quí nhất cho hoà b́nh. Thực ra, đau khổ kích thích sự hiệp thông tinh thần sâu xa hơn, một mặt, đưa đến sự phục hồi phẩm chất tốt hơn của sự sống, mặt khác, đẩy mạnh sự tận tâm đầy xác tín với hoà b́nh nơi những con người. T́nh Đoàn Kết, Một Thứ Nhiệm Tích Của Hiệp Nhất Đoàn kết chắc chắn là một nhân đức Kitô giáo... Dưới ánh sáng đức tin, sự đoàn kết đang gắng vượt lên trên chính ḿnh, đạt tới chiều kích Kitô giáo đặc biệt về sự hoàn toàn quảng đại, tha thứ và hoà giải. Tha nhân của ta lúc đó không chỉ là một con người với những quyền riêng của họ, và không chỉ là một sự b́nh đẳng cơ bản với mọi người khác. Nhưng [họ] trở nên h́nh ảnh Thiên Chúa Cha, được cứu độ bởi Máu Chúa Giêsu Kitô và được đặt dưới hoạt động thường hằng của Chúa Thánh Thần. Do đó tha nhân của ta phải được yêu, cho dù đó là một kẻ thù, với cùng một t́nh yêu mà Chúa Kitô đă yêu thương ta; và v́ người đó ta phải sẵn sàng hy sinh, ngay cả hy sinh tột cùng: thí mạng sống v́ họ (x. 1Ga 3, 16). Sự nhận biết về tư cách làm Cha chung của Thiên Chúa và tính cách làm anh em với nhau của mọi người trong Chúa Kitô – “con cái trong Chúa Con” – và sự nhận biết hoạt động trao ban sự sống hiện tại của Chúa Thánh Thần sẽ đem lại cho cái nh́n của chúng ta về thế giới một tiêu chuẩn mới để giải thích nó. Ngoài những mối giây liên hệ tự nhiên và nhân loại, vốn đă mật thiết và mạnh mẽ, cần phải nhận ra trong ánh sáng đức tin một kiểu mẫu hiệp nhất ḍng giống nhân loại, kiểu mẫu đó sau cùng phải gợi hứng cho sự đoàn kết của chúng ta. Kiểu mẫu đoàn kết tuyệt siêu này, vốn được phản ánh trong đời sống tiềm mật của Thiên Chúa Ba Ngôi, là điều mà kitô hữu chúng ta diễn tả bằng từ “hiệp thông” (communion). Sự hiệp thông mang tính chất Kitô giáo rất đặc biệt đó - được Chúa tha thiết giữ ǵn, giúp cho bành trướng và làm cho phong phú - là linh hồn của ơn gọi của Giáo hội: làm một “nhiệm tích,” theo ư nghĩa đă được nêu ra. Sự Tự Do Đích Thực Trước câu hỏi: “Tại sao lại truyền giáo?” Chúng ta trả lời với đức tin và kinh nghiệm của Giáo hội rằng tự do đích thực cốt tại việc mở ḷng ra cho t́nh yêu Đức Kitô... Truyền giáo là sự trào ra của đức tin, một dấu chỉ chính xác của đức tin chúng ta vào Chúa Kitô và vào t́nh yêu của Người đối với chúng ta. Cơn cám dỗ ngày nay là thu nhỏ Kitô giáo lại tới chỗ chỉ c̣n là sự khôn ngoan nhân loại, một thứ kiến thức giả tạo về hạnh phúc. Trong thế giới đă bị tục hoá nặng nề của chúng ta một “sự tục hoá dần dần ơn cứu độ” đă xảy ra, để cho con người phấn đấu v́ thiện ích của con người, nhưng con người đă bị cắt xén, bị giảm thiểu xuống chiều kích tầm hiểu biết đơn thuần của nó. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đă đến đem lại sự cứu độ toàn vẹn, sự cứu độ đang theo đuổi toàn thể con người và tất cả nhân loại, và mở ra viễn cảnh t́nh con thảo thần linh tuyệt vời. Tại sao lại truyền giáo? Bởi v́ đối với chúng ta, cũng như với thánh Phaolô, “đă được ban cho ơn rao giảng cho Muôn Dân những sự phong phú khôn tả của Đức Kitô” (Ep 3, 8). Tính chất mới mẻ của sự sống trong Người là “Tin Lành” cho những người nam và nữ của mọi thời đại: tất cả được kêu gọi đến với điều đó và được tiền định cho điều đó. Thật vậy, tất cả mọi người đang kiếm t́m điều đó, mặc dù đôi lúc một cách lờ mờ, và mọi người có quyền biết giá trị của tặng ân này và được tự do tiếp cận với nó. Giáo hội, và mỗi cá nhân kitô hữu trong Giáo hội, không thể giữ kín hoặc độc quyền tính chất mới mẻ và phong phú này mà họ đă lănh nhận từ ḷng hào phóng của Thiên Chúa để đem thông truyền cho tất cả nhân loại. Sự Sống Đời Này Là Một Điều Hết Sức Tốt Đẹp Giống như tác giả Thánh Vịnh, chúng ta, trong giờ kinh nguyện mỗi ngày, cũng tán dương và chúc tụng Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng đă đan kết các chi thể của chúng ta trong dạ mẹ, và đă nh́n và đă yêu thương chúng ta trong khi chúng ta vẫn chưa có h́nh hài (x. Tv 139, 13, 15, 16). Chúng ta reo hoan: “Con cảm tạ Người v́ Người đă tạo nên con cách kỳ diệu; lạ lùng thay các công tŕnh của Người. Linh hồn con cũng rất am hiểu Người” (Tv 139, 14). Thật vậy, [như Đức Thánh Cha Phaolô VI nói], “Mặc dù những gian nan khổ sở, những bí nhiệm khó hiểu, những đau đớn và những yếu đuối không thể tránh, cuộc sống đời này vẫn là một cái ǵ đó rất xinh đẹp, rất kỳ diệu, luôn luôn mới mẻ và thay đổi, một sự kiện đáng tán dương trong hoan hỉ và vinh quang.” Hơn nữa, con người và cuộc sống của nó xuất hiện trước mắt chúng ta không chỉ như sự sống của một tạo vật ḱ diệu vĩ đại nhất: v́ Thiên Chúa đă ban cho con người một phẩm giá cận kề với loài thần linh (x. Tv 8, 5-6). Trong mỗi đứa trẻ được sinh ra và trong mỗi con người sống và chết đi chúng ta đều nh́n thấy h́nh ảnh của vinh quang Thiên Chúa. Chúng ta mừng kính vinh quang này trong mỗi con người, một dấu hiệu của Thiên Chúa hằng sống, một biểu tượng của Chúa Giêsu Kitô. Đức Chúa Đang Ở Gần Đức Chúa đang ở gần! Các con hăy để ư đến những lời của tiên tri Xôphônia và hăy vui mừng lên: “Reo vui lên, nữ tử Sion!... Vua Israel, Đức Chúa ở giữa ngươi, ngươi sẽ không c̣n phải sợ ǵ tai hoạ rủi ro nữa... đừng sợ, Sion hỡi, đừng có thất đảm” (Xp 3, 14-16). Sự kiện Thiên Chúa đang ở gần, đang hiện diện giữa Israel dân Người, là nguồn sức mạnh cho chúng ta chống lại tất cả mọi sự dữ, vị tiên tri bảo chúng ta như thế. Sự hiện diện của Thiên Chúa là một sự trợ giúp cứu độ. Người là “một Đấng Cứu độ quyền năng” (Xp 3, 17). Đây là nguồn mạch sự canh tân tinh thần chúng ta. V́ sự gần gũi của Thiên Chúa, sự hiện diện của Người giữa nhân loại, biểu lộ t́nh yêu của Người – một t́nh yêu thắng vượt tội lỗi. Tân Ước làm chứng cho chân lư này. Chẳng hạn, thánh Phaolô trong thư Philip bảo chúng ta: “Anh em hăy vui luôn trong Chúa! Tôi nói lại một lần nữa. Anh em hăy vui lên!... Đức Chúa đang ở gần” (Pl 4, 4-5). Các con hăy vui mừng trong sự hiện diện cứu độ của Người và hăy có một sự tin cậy không lay chuyển vào Thiên Chúa. Rồi Thánh Tông Đồ viết tiếp: “Hăy loại bỏ mọi lo lắng ra khỏi đầu óc anh em. Hăy tŕnh lên Thiên Chúa những nhu cầu của anh em dưới mọi h́nh thức cầu nguyện và van xin với đầy ḷng biết ơn’ (Pl 4, 6). Câu nói “Đức Chúa đang ở gần” là một lời mời gọi sống thân mật với Người, một sự thân mật được thể hiện trực tiếp thông qua cầu nguyện. Chính trong khi cầu nguyện mà chúng ta mở ḷng ra trứơc Thiên Chúa và chia sẻ với người chính sự sống của chúng ta. Mạnh Dạn Truyền Giảng Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô là nguyên lư chắc chắn và là trung tâm cố định của việc truyền giáo mà chính Thiên Chúa đă uỷ thác cho nhân loại. Tất cả chúng ta phải tham gia vào việc truyền giáo này và tập trung tất cả mọi sức mạnh của chúng ta vào đó v́ đó là sự cần thiết hơn bao giờ hết cho nhân loại thời hiện đại. Nếu sự truyền giáo này xem ra phải đối mặt với sự chống đối lớn lao hơn trước đây, th́ điều này chứng tỏ rằng ngày nay nó c̣n cần hơn bao giờ và, mặc dù có những chống đối, và hơn là cứ chờ đợi măi. Ở đây chúng ta trực tiếp chạm đến mầu nhiệm về “nhiệm cuộc” thần linh được liên kết với sự cứu độ và ân sủng cùng với thập giá. Chẳng phải là không có lư do mà Chúa Giêsu nói: “Nước Trời phải chịu cưỡng bách và kẻ mạnh mẽ phải dùng sức mạnh mới chiếm được” ( Mt 11,12 ) và hơn nữa: “Con cái đời này khôn hơn con cái sự sáng” ( Lc 16,8 ). Chúng ta vui mừng chấp nhận lời khiển trách này, v́ chúng ta có thể là giống như “những người dân hùng mạnh của Thiên Chúa” mà chúng ta rất thường thấy trong lịch sử Giáo hội và ngày nay vẫn c̣n thấy, và v́ chúng ta có thể ư thức tham gia vào sứ mạng vĩ đại tỏ bày Đức Kitô cho thế giới, giúp cho mỗi người t́m thấy chính ḿnh trong Đức Kitô,và giúp cho các thế hệ đương thời gồm anh chị em chúng ta, các dân tộc, các quốc gia, nhân loại, các nước đang phát triển và các nước giàu có – tóm lại, giúp cho mọi người hiểu biết những sự phong phú của Đức Kitô” ( Ep 3,8 ), v́ những sự phong phú này thuộc về mỗi cá nhân và là tài sản của mọi người. Lư Do Để Hy Vọng Làm thế nào hành động toàn năng của Thiên Chúa lại phù hợp được với tự do của chúng ta? Và làm thế nào tự do của chúng ta phù hợp được với kế hoạch không sai chạy của Người? Tương lai của chúng ta sẽ ra sao? Làm thế nào chúng ta có thể bắt đầu hiểu biết và nhận ra chân lư và sự khôn ngoan vô cùng của Người trước những cái ác trên đời? Chúng ta nghĩ sao về cái ác luân lư của tội lỗi? Chúng ta nghĩ sao về sự đau khổ của những kẻ vô tội? Lịch sử của chúng ta- với sự thăng trầm của các quốc gia, với những tai ương khủng khiếp của nó và với những hành vi cao thượng của các bậc vĩ nhân và thánh hiền – tất cả có ư nghĩa ǵ? Có thể có một trận đại hồng thuỷ chung kết chôn vùi vĩnh viễn tất cả mọi thứ sự sống hay không? Hoặc chúng ta tự hỏi cách khác, có chăng thực sự có một hữu thể yêu thương và quan pḥng mà chúng ta gọi là Thiên Chúa. Vị Thiên Chúa này đang bao bọc chúng ta bằng trí năng, t́nh yêu và sự khôn ngoan của Người. Vị Thiên Chúa này đang dẫn dắt chúng ta một cách mạnh mẽ nhưng dịu dàng. Vị Thiên Chúa này đang hướng dẫn thế giới chúng ta, cuộc đời chúng ta, và cả đến ư chí hay nổi loạn của chúng ta, nếu chúng ta thần phục Người. Vị Thiên Chúa này dẫn chúng ta đến nơi nghỉ ngơi của “ Ngày Thứ Bảy”, sự an nghỉ của công ttŕnh sáng tạo đang tiến gần đến sự hoàn thành. Đây là câu trả lời. Lời đứng lơ lửng giữa hy vọng và thất vọng. Vâng, Lời của Thiên Chúa cho chúng ta những lư do mạnh mẽ để hy vọng. Lời Thiên Chúa vẫn c̣n mới mẻ và rất sáng ngời. Nó uốn nắn trí khôn con người với sứ điệp lạ lùng của nó. Hy Sinh Mạng Sống V́ Bạn Hữu Đấng đă đến “không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ - để hiến sự sống ḿnh làm giá chuộc cho nhiều người” ( Mc 10,45), đă đạt tới những đỉnh cao của t́nh yêu trên thập giá: “không có t́nh yêu nào lớn lao hơn t́nh của người hiến mạng sống ḿnh v́ bạn hữu” (Ga 15,13). Và người đă chết cho chúng ta đang khi chúng ta c̣n là những tội nhân ( x. Rm 5,8 ). Như thế Chúa Giêsu đă công bố rằng sự sống t́m thấy tâm điểm của nó, ư nghĩa và sự hoàn tất của nó khi nó được từ bỏ. Về điểm này suy tư của chúng ta trở nên lời tán dương và tạ ơn, và đồng thời thúc dục chúng ta bắt chước Đức Kitô và bước theo chân Người (x. 1Pr 2,21). Chúng ta cũng được kêu gọi để hiến mạng sống v́ anh chị em chúng ta, và do đó thực hiện trong sự sung măn của chân lư ư nghĩa và định mệnh của cuộc đời chúng ta. Lạy Chúa, chúng con sẽ có thể làm được điều này bởi v́ Chúa đă làm gương cho chúng con và đă ban xuống trên chúng con sức mạnh Thần Khí Chúa. Chúng con sẽ có thể làm được điều đó nếu mỗi ngày, với Chúa và như Chúa, chúng con vâng lời Chúa Cha và thực thi Thánh Ư Người. Do đó, xin ban cho chúng con biết lắng nghe với con tim quảng đại và rộng mở trước mỗi lời phán ra từ miệng Chúa. Như thế, chúng con sẽ học không chỉ vâng theo lệnh truyền chớ giết sự sống con người, nhưng cũng phải tôn trọng, yêu mến và nuôi dưỡng nó. Mùa Xuân Mới Cho Phúc Âm Nếu nh́n vào thế giới ngày nay, chúng ta sẽ gặp nhiều yếu tố tiêu cực có thể khiến chúng ta bi quan. Nhưng cái cảm giác này không đúng: chúng ta có đức tin vào Thiên Chúa là Cha tốt lành và nhân từ. Khi ngàn năm thứ ba của ơn cứu độ đang đến gần, Thiên Chúa chuẩn bị một mùa xuân vĩ đại cho Kitô giáo, và chúng ta có thể đă nh́n thấy những dấu hiệu đầu tiên của nó. Thực ra, cả trong thế giới không Kitô giáo và trong thế giới theo truyền thống Kitô, người ta đang dần dần xích lại gần những giá trị và lư tưởng Phúc âm hơn, một sự phát triển mà Giáo hội t́m kiếm để phấn khích. Thực ra, ngày nay có một sự đồng cảm mới giữa những con người về những giá trị này: bác bỏ bạo lực và chiến tranh; tôn trọng con người và những quyền của con người; khát vọng tự do, công bằng và t́nh huynh đệ; thắng vượt những h́nh thức khác nhau của chũ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa quốc gia; nh́n nhận phẩm giá và vai tṛ của nữ giới. Niềm hy vọng Kitô giáo củng cố chúng ta trong việc tận tâm trọn vẹn với việc tân Phúc âm hoá và với việc truyền giáo trên thế giới, và dẫn chúng ta đến lời nguyện như Chúa Giêsu đă dạy: “Xin cho nước Cha trị đến, ư Cha thể hiện dưới dất cũng như trên trời” (Mt 6,10). T́m đâu ra hoà b́nh? Giáo hội, đang ôm ấp tất cả mọi con tim nhân loại trong trái tim ḿnh, nài van Thánh Thần ban cho thứ hạnh phúc mà chỉ trong Chúa mới thể hiện hoàn toàn, đó là niềm vui “không ai cất mất được” (x.Ga 16,22), niềm vui là hoa trái của t́nh yêu và do đó của Thiên Chúa, Đấng là t́nh yêu. Giáo hội nài van “sự công chính, hoà b́nh và niềm vui của Thánh Thần” mà, theo lời thánh Phaolô “nước Thiên Chúa cốt tại đó” (x. Rm 14,17; Gl 5,22). Hoà b́nh cũng là hoa trái của t́nh yêu: đó là hoà b́nh trong nội tâm, hoà b́nh mà con người mệt mỏi kiếm t́m trong tầng sâu hữu thể ḿnh; đó là hoà b́nh đang được nhân loại van xin; gia đ́nh nhân loại, các dân tộc, các quốc gia, các đại lục, đang bồn chồn hy vọng đạt được nó trong... thời gian quá độ từ ngàn năm thứ hai sang ngàn năm thứ ba của Kitô giáo. Bởi v́ xét cho cùng, con đường của hoà b́nh đi qua ngả yêu thương và t́m cách kiến tạo một nền văn minh t́nh thương. Giáo hội hướng tất cả ánh mắt vào Đấng là t́nh yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Và mặc cho những hiểm nguy đang dâng lên, Giáo hội vẫn không ngừng tin tưởng, không ngừng khẩn nguyện và phục vụ cho hoà b́nh của nhân loại. Niềm tin của Giáo hội được xây nền trên Đấng là thần khí-t́nh yêu và cũng là thần khí của hoà b́nh. Người không ngừng hiện diện trong thế giới con người, trên lănh vực của trí tuệ và trái tim, để “phủ đầy vũ hoàn” với t́nh yêu và hoà b́nh. T́m đâu ra hoà b́nh? Giáo hội, đang ôm ấp tất cả mọi con tim nhân loại trong trái tim ḿnh, nài van Thánh Thần ban cho thứ hạnh phúc mà chỉ trong Chúa mới thể hiện hoàn toàn, đó là niềm vui “không ai cất mất được” (x.Ga 16,22), niềm vui là hoa trái của t́nh yêu và do đó của Thiên Chúa, Đấng là t́nh yêu. Giáo hội nài van “sự công chính, hoà b́nh và niềm vui của Thánh Thần” mà, theo lời thánh Phaolô “nước Thiên Chúa cốt tại đó” (x. Rm 14,17; Gl 5,22). Hoà b́nh cũng là hoa trái của t́nh yêu: đó là hoà b́nh trong nội tâm, hoà b́nh mà con người mệt mỏi kiếm t́m trong tầng sâu hữu thể ḿnh; đó là hoà b́nh đang được nhân loại van xin; gia đ́nh nhân loại, các dân tộc, các quốc gia, các đại lục, đang bồn chồn hy vọng đạt được nó trong... thời gian quá độ từ ngàn năm thứ hai sang ngàn năm thứ ba của Kitô giáo. Bởi v́ xét cho cùng, con đường của hoà b́nh đi qua ngả yêu thương và t́m cách kiến tạo một nền văn minh t́nh thương. Giáo hội hướng tất cả ánh mắt vào Đấng là t́nh yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Và mặc cho những hiểm nguy đang dâng lên, Giáo hội vẫn không ngừng tin tưởng, không ngừng khẩn nguyện và phục vụ cho hoà b́nh của nhân loại. Niềm tin của Giáo hội được xây nền trên Đấng là thần khí-t́nh yêu và cũng là thần khí của hoà b́nh. Người không ngừng hiện diện trong thế giới con người, trên lănh vực của trí tuệ và trái tim, để “phủ đầy vũ hoàn” với t́nh yêu và hoà b́nh. Lănh Nhận Tặng Ân Sự Sống Từ Đức Kitô Sự cứu chuộc bắt đầu với thập giá và được hoàn thành nơi sự phục sinh. Chiên con giải phóng đàn chiên. Đức Kitô vô tội giao hoà kẻ tội lỗi với Chúa Cha. Này đây nhân loại đă được giải thoát khỏi sự chết và được phục hồi sự sống, được thoát ách tội lỗi và được trở về với t́nh yêu. Tất cả chúng ta, những người c̣n đang bị giam giữ trong bóng tối tử thần, hăy nghe: Đức Kitô đă phục sinh! Tất cả chúng ta, những người đang sống dưới gánh nặng tội lỗi, hăy nghe: Đức Kitô đă chiến thắng tội lỗi trong thập giá và sự phục sinh của Người. Hăy trao phó sự sống các con cho Người. Hỡi con người của thế giới hiện đại! Hăy thần phục Người và quyền năng Người! Các con càng khám phá ra trong các con những lối ṃn của tội lỗi, càng trở nên hiểu biết về sự kinh tởm của tội lỗi, trong phạm vi cuộc sống chúng ta, các con sẽ càng thần phục quyền năng cứu độ của Người hơn. Tin Vui Cho Mọi Người Các con hăy sống trong đức tin và hăy truyền đức tin lại cho con cái các con. Hăy làm chứng đức tin trong đời sống các con. Hăy yêu mến Giáo hội như một người mẹ. Hăy sống trong và v́ Giáo hội. Hăy dành chỗ trong trái tim các con cho mọi người. Hăy tha thứ cho tha nhân và trở nên người kiến tạo hoà b́nh ở mọi nơi. Đối với những người không phải là tín hữu, cha nói: “Hăy t́m kiếm Thiên Chúa v́ Người đang t́m kiếm anh em.” Và đối với những ai đang đau khổ, cha nói: “Hăy tin tưởng. V́ Đức Kitô, Đấng đă đi trước anh em, sẽ ban cho anh em sức mạnh để đương đầu với buồn đau.” Đối với giới trẻ, cha nói: “Hăy hết sức lo cho đời sống anh em nên tốt v́ đó là kho tàng quư giá.” Đối với mọi người, cha nói: “Cầu chúc ơn Chúa ở cùng anh em mọi ngày.” Hăy nhân danh cha mà chào các con nhỏ của các con ngay khi chúng vừa thức giấc. Cha ước mong biết bao cho lời chào “good morning” (chúc buổi sáng may lành) đó phải là một lời loan báo về một cuộc sống tốt đẹp cho chúng, cho niềm an ủi của các con và của cha cũng như của toàn thể Giáo hội. Tâm Điểm Của Thế Giới “Này đây Thiên Chúa chúng ta, Đấng chúng ta trông chờ, đang đến cứu chúng ta!... hăy vui mừng hoan hỷ v́ Ngài đă cứu chuộc chúng ta!” (Is 25,9). Những lời từ sách tiên tri Isaia đó.... mời gọi chúng ta tin tưởng vào Chúa... Trên ngọn núi chiến thắng, Ngài đă dọn một yến tiệc cho muôn dân. Nước mắt sẽ được lau sạch trên mọi khuôn mặt và tử thần sẽ vĩnh viễn bị khai trừ. Hoà b́nh sẽ ngự trị. Đức Kitô, con của Trinh Nữ Maria sẽ là tâm điểm của thế giới. Chúng ta hăy cầu xin cho ư Cha được thực hiện, làm cho mọi dân tộc trở nên con cái Thiên Chúa nhờ hoạt động hiệp nhất của Chúa Thánh Thần.
|