|
|
||
|
Chỉ c̣n vài ngày nữa, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI sẽ rời Vatican lên
đường qua thăm Do Thái. Những xáo trộn do vụ ngài tha vạ tuyệt thông cho
bốn vị giám mục thuộc nhóm Lefèbvre và các phản ứng dữ dội của một số giới
chức Do Thái trong những ngày kế tiếp liên quan tới quan điểm bài Do Thái
của một trong bốn vị giám mục này nay đă hoàn toàn lui vào dĩ văng, nhường
chỗ cho một thái độ hợp tác hết sức tích cực, dọn đường cho sự thành công
của chuyến tông du.
Một trăm giáo sĩ Do Thái chuẩn bị chào đón Đức Giáo Hoàng Ngày 30 tháng Tư vừa qua, hăng tin Zenit thông báo: hơn một trăm giáo sĩ Do Thái thuộc đủ hệ phái khác nhau sẽ kư tên trên một thông điệp để chào đón Đức Bênêđíctô XVI nhân dịp ngài đặt chân tới Đất Thánh, và để khích lệ cuộc đối thoại giữa người Do Thái Giáo và người Kitô Giáo. Các vị Chủ tịch Qũy Quốc Tế dành cho việc Giáo Dục Liên Tôn và Liên Văn Hóa là Adalberta và Armando Bernardini cho hay:sứ điệp này sẽ được công bố trên trang mạng của nhật báo Do Thái "Ha'Arezt". Sáng kiến này được một trong các hội viên của Qũy cổ vũ, đó là Giáo Sĩ Jack Bemporard. Vị này đồng thời cũng là giám đốc Trung Tâm Hiểu Biết Liên Tôn (Center for Interreligious Understanding) đặt tụ sở tại New Jersey. Từ ngày 8 tới ngày 15 tháng Năm, Đức GH sẽ viếng thăm Đất Thánh, Gio-đăng, Do Thái và lănh thổ Palestine, trong một cuộc thăm viếng được chính phủ Do Thái mô tả là “cây cầu ḥa b́nh”. Sứ điệp của các giáo sĩ có tên là “Hợp nhất trong Thời Đại ta” được gợi hứng từ văn kiện “Thời Đại Ta” (Nostra Aetate) của Công Đồng Vatican II, tức tuyên ngôn của Công Đồng Vatican II, công bố ngày 28 tháng Mười năm 1965, nhằm cổ vũ các mối liên hệ gần gũi hơn giữa người Do Thái Giáo và người Công Giáo. Một cách đặc biệt, thông điệp nói trên trích dẫn đoạn sau đây của tuyên ngôn kia: “V́ gia tài thiêng liêng chung đối với người Kitô Giáo và người Do Thái Giáo hết sức lớn lao, nên thánh công đồng này muốn cổ vũ và khuyến cáo sự hiểu biết và kính trọng lẫn nhau ấy, vốn trước nhất là hoa trái của các cuộc nghiên cứu về thánh kinh và thần học cũng như đối thoại trong t́nh anh em”. Ngỏ lời với Đức Thánh Cha, thông điệp trên khẳng định rằng: “Trong tinh thần đó, chúng tôi, các giáo sĩ và các nhà lănh đạo Do Thái, xin niềm nở chào đón ngài và phái đoàn ḥa b́nh của ngài tới Do Thái. Đồng thanh nhất trí, chúng ta hợp nhất với nhau trong cam kết đối thoại liên tôn, trong việc mở rộng nhiều ngả đường hơn nữa để gia tăng sự hiểu biết, và để liên tục thừa nhận và củng cố mối liên hệ quan trọng giữa người Công Giáo và người Do Thái Giáo khắp nơi trên thế giới. “Và đâu là chỗ tốt hơn để tái khẳng định mối liên hệ ấy cho bằng Thánh Địa Do Thái, một nơi mà cả hai tôn giáo chúng ta đều trân quí như là một phần trong gia tài chung”. Tiến bộ đáng kể Theo tin Zenit ngày 3 tháng Năm, tại Giêrusalem, Ủy Ban Thường Trực Song Phương Giữa Nhà Nước Do Thái và Ṭa Thánh đă cho công bố kết của cuộc họp vào ngày thứ Năm vừa qua. Ủy Ban này định kỳ gặp nhau để cố gắng thăng tiến các cuộc thương thảo liên quan tới Thoả Hiệp Căn Bản năm 1993. Bản tuyên ngôn vừa nói viết rằng: “Phiên họp toàn thể của Ủy Ban đă diễn ra trong bầu không khí rất thân hữu và trong tinh thần hợp tác cũng như thiện chí… Phiên toàn thể ghi nhận rằng Ủy Ban Cấp Làm Việc đă thực hiện được tiến bộ đáng kể, vào thời điểm trước cuộc thăm viếng quan trọng sắp đến của Đức Giáo Hoàng tới Giêrusalem. Hai bên thoả thuận sẽ tổ chức phiên toàn thể sắp đến vào ngày 10 tháng Mười Hai năm 2009 tại Vatican. Trong khi đó, ủy ban cấp làm việc sẽ gặp nhau để đẩy xa cam kết của cả hai phái đoàn nhằm gia tốc các cuộc thương thảo và kết thúc thoả hiệp vào một lúc sớm sủa nhất”. Những con mắt lé Trong khi ấy, không thiếu những người Công Giáo tỏ ra dè dặt đối với cuộc tông du này. Tuần báo Công Giáo Anh là tờ The Tablet số ngày 2 tháng Năm vừa qua liên tiếp có một số bài nhấn mạnh nhiều hơn đến những chuyện tiêu cực. Như bài của Robert Mickens chẳng hạn, chỉ cần nghe cái tựa cũng thấy có mùi không tích cực: “Trước cuộc tông du, căng thẳng đang tích lũy tại Đất Thánh”. Ông này kể ra ba sự kiện: một là địa điểm dựng khán đài chào đón Đức GH khi ngài tới thăm trại tỵ nạn Aida tại Bethlehem vào ngày 13 tháng Năm. Do Thái đang yêu cầu giới chức Palestine ngưng việc dựng khán đài ấy v́ nó quá gần bức tường ngăn West Bank với Do Thái, đe dọa tới an ninh của họ. Thị trưởng Bethlehem là Salah Taameri th́ cho rằng Palestine cần chào đón Đức GH ở địa điểm ấy, để ngài thấy rơ nỗi thống khổ của họ. Người Palestine vốn lên án bức tường “an ninh” này (được bắt đầu xây năm 2002 và nay đă hoàn thành được 2/3) v́ nó trưng thu gần 10% đất đai của họ tại West Bank. C̣n người Do Thái th́ cho rằng bức tường đó cần thiết để đề pḥng những tay súng và đánh bom tự sát của Palestine. Chưa biết kết quả vụ tranh chấp này kết cục ra sao. Nhưng Ṭa Thánh từ chối không b́nh luận chi. Vấn đề an ninh thứ hai là sự an toàn của Đức GH trong Thánh Lễ ngoài trời tại Nadarét vào ngày 14 tháng Năm. Nhật báo Do Thái Ha'aretz nói rằng sở an ninh Shin Bet yêu cầu không nên chở Đức GH ṿng quanh khu hành lễ bằng “giáo hoàng xa” có kiếng v́ sẽ không an toàn trong trường hợp bị những nhóm quân sự Hồi Giáo quá khích tấn công. Tuy nhiên, Đại Sứ Do Thái bên cạnh Ṭa Thánh là Mordechay Lewy, vào tuần này, nhấn mạnh rằng sẽ không có chuyện đó để mà quan tâm. Các Kitô hữu người Ả Rập cũng như người Do Thái hy vọng rằng giáo hoàng xa sẽ được sử dụng để càng nhiều người được nh́n thấy Đức GH càng tốt. Một lần nữa, Ṭa Thánh cũng từ chối không b́nh luận ǵ. Một bất đồng khác có thể gây phiền phức cho cuộc tông du là việc nội bộ, liên quan tới phản ứng của Giáo Hội Melkite (thuộc nghi lễ Byzantine), là giáo hội có số người Công Giáo lớn nhất trong vùng, hiện hiệp thông đầy đủ với ṭa Rôma. Họ cho rằng họ bị đẩy ra bên lề cuộc viếng thăm, hay đúng hơn, ban tổ chức chỉ muốn họ là một đám đông, chứ không phải là một giáo hội, bởi v́ nghi thức phụng vụ dùng trong cuộc tông du này không hề có một nét Byzantine nào cả. Theo họ, các giới chức phụ trách cuộc tông du nên hiểu rằng: “Đức Thánh Cha là giáo hoàng của cả Giáo Hội Công Giáo, chứ không của riêng Giáo Hội La Tinh”. Đất Thánh, băi ḿn chính trị Tờ báo này c̣n đăng bài của Anshel Pfeffer với tựa đề giật gân như trên. Theo Pfeffer, nếu biết nh́n xa, Đức GH không nên nhận lời mời của Tổng Thống Do Thái, Shimon Peres, qua thăm Đất Thánh vào ngay lúc gay cấn nhất của lịch sử sóng gío tại vùng này. Nhiều biến cố đă xẩy ra làm thay đổi khung cảnh chính trị của Do Thái trong khoảng sáu tháng kể từ ngày cuộc tông du được thỏa thuận vào tháng Mười Một năm ngoái. Trong đó, phải kể đến chiến dịch đẫm máu Do Thái tấn công phong trào Hamas tại Giải Gaza vào dịp Giáng Sinh và Năm Mới vừa qua. Một tháng sau, một chính phủ Do Thái cực hữu nhất trong ṿng một thập niên qua đă được bầu lên. Những biến cố ấy có cái nguy biến Đức GH đầy thiện chí thành một trái túc cầu cho các phe địa phương đá qua đá lại. Tờ báo này c̣n cho rằng việc Giáo Triều sẵn sàng chấp nhận lời mời của Do Thái khiến chính ông Peres phải ngạc nhiên. Một phụ tá ông Peres thổ lộ: sau khi gặp sứ thần Ṭa Thánh là Đức TGM Antonio Franco, ông Peres phát biểu: “chúng tôi không nghĩ là sẽ có cơ may Đức Giáo Hoàng tới thăm trong một tương lai gần. Khi Đức Sứ Thần bảo nếu chúng tôi đặt lời mời th́ chắc chắn sẽ có đáp ứng tích cực, điều ấy làm chúng tôi ngạc nhiên”. Vấn đề chính lúc ấy là cuộc tranh căi quanh Đức Piô XII. Phía Công Giáo đ̣i phải thay đổi lời ghi chú liên quan tới Đức Piô XII tại Yad Vashem, là địa điểm toàn quốc tưởng niệm Nạn Diệt Chủng của Do Thái. Phía Do Thái th́ phản đối diễn tŕnh phong thánh cho vị Giáo Hoàng này. Thỉnh nguyện viên phong thánh cho Đức Piô XII là linh mục sử gia Peter Gumpel, Ḍng Tên, tuyên bố rằng Đức GH sẽ không viếng Do Thái cho tới khi lời ghi chú kia được thay đổi. Mặc dù Ṭa Thánh tỏ ra dè dặt đối với lời tuyên bố của Cha Gumpel, nhưng một cuộc viếng thăm th́ xem ra chỉ là chuyện sau cùng trên nghị tŕnh. Thế rồi cơ hội xuất hiện, ông Peres đặt lời mời và lời mời ấy mau chóng được tiếp nhận. Tuy nhiên, dù được chấp nhận, phía Do Thái cũng giữ rất kín việc này sợ tuyên bố sớm, trước khi các chi tiết được giải quyết xong, sẽ làm trật đường rầy cuộc viếng thăm. Họ tự hỏi không biết cuộc tông du này có gây ra phiền toái ǵ về phương diện ngoại giao hay không. Nhóm đặt kế hoạch đă vẽ ra cả một băi ḿn chính trị có thể có. Theo thông lệ, việc tới thăm Yad Vashem là một điều bắt buộc đối với các vị nguyên thủ quốc gia và là địa điểm mà vị giáo hoàng người Đức không thể loại khỏi lộ tŕnh của ḿnh, nhưng cuộc tranh căi quanh Đức Piô XII có thể tránh được bằng cách không để Đức GH tới thăm viện bảo tàng nơi có lời chú giải gây xúc phạm kia, mà chỉ cần ngài tới đặt ṿng hoa tại đài kỷ niệm mà thôi. C̣n đối với cuộc tranh chấp Palestine và Do Thái, Đức GH sẽ lập thế quân b́nh bằng cách dừng lại thăm các thành phố Bethlehem và Ramallah của Palestine. Tuy nhiên đó mới chỉ là những cái bẫy ở đầu đường. Dù nhiều người Do Thái muốn cải thiện mối liên hệ giữa hai tôn giáo, nhưng chính phủ Do Thái th́ chỉ nhằm cái lợi chính trị. Một viên chức chính phủ, ngay sau khi cuộc tông du được công bố đă cho rằng “Chúng tôi coi cuộc thăm viếng của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô tới Do Thái là một khích lệ có ư nghĩa đối với thế đứng quốc tế của chúng tôi”. Trưởng pḥng thông tin tại phủ thủ tướng, là cơ quan phối hợp các cố gắng giao tế quốc tế của Do Thái, được chỉ định làm thành viên trong ủy ban đặt kế hoạch, để đảm bảo các h́nh ảnh các nhà lănh đạo Israel tiếp đón Đức GH được phổ biến khắp thế giới. Vatican dĩ nhiên hiểu rơ phương cách Do Thái mô tả cuộc viếng thăm; đó chính là lư do cho việc đặt tên cuộc hành tŕnh này là “cuộc hành hương Đất Thánh” chứ không phải cuộc thăm viếng một quốc gia. Ấy thế nhưng không phải chỉ có nhà nước Do Thái chơi tṛ chính trị. Các lănh tụ của một cộng đồng nhỏ Công Giáo Ả Rập đang o bế giới báo chí trong những ngày gần đây để họ đừng chỉ dành các cột báo cho duy một ḿnh Đức GH mà thôi, mà c̣n rao bán họ như một nhóm có hiệu quả tại Israel. “Với Đức Giáo Hoàng tại đây, chúng tôi có thể chứng tỏ cho các anh em Hồi Giáo thấy tuy nhỏ, nhưng chúng tôi có những người bạn rất lớn”. Ngay trong số người Công Giáo địa phương, cũng không hẳn là hoàn toàn hoà điệu. Hai cộng đồng chính là Haifa và Nadarét từng tranh biện không biết nên chọn nơi đâu làm địa điểm Thánh Lễ bế mạc. Nadarét th́ có tính lịch sử. Nhưng Haifa lại tự hào nhờ số người Công Giáo đông nhất trong xứ và đóng góp nhiều nhất cho cuộc tông du lần này. Vả lại, năm 2000, Đức GH Gioan Phaolô II đă viếng Nadarét rồi. Nay hiển nhiên phải đến lượt Haifa. Cũng lại là vấn đề chính trị. Mối liên hệ giữa người Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo tại Haifa có lẽ là mối liên hệ hài ḥa nhất tại bất cứ nơi nào thuộc Trung Đông, trong khi tại Nadarét, người Công Giáo đang phải tranh đấu, một cuộc đấu tranh đang thua, chống lại các phong trào chính trị và tôn giáo của Hồi Giáo, nhằm kiểm soát ṭa thị chính địa phương. Kế hoạch xây một đền hồi giáo lớn ngay bên cạnh Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin luôn là nguồn gây ra bạo động khôn nguôi. Cuối cùng, Nadarét vẫn được chọn. Một ai đó trong Giáo Triều rất có thể cho rằng sự hiện diện của Đức GH tại đó sẽ khích lệ ḷng tự tin của người Công Giáo, nếu không phải là viễn ảnh đang xuống dốc của họ. Những chạy vạy chính trị ấy không qua được mắt cấp lănh đạo của nhóm Hồi Giáo lớn nhất tại Do Thái, tức Phong Trào Duy Hồi Giáo (Islamist Movement). Hai tuần trước đây, nhóm này tuyên bố sẽ tẩy chay cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng. Lư do chính đưa ra là Diễn Văn Năm 2006 tại Regensburg của ngài. Nhưng cũng có khía cạnh chính trị trong đó. Nhóm này vốn gần gũi với Hamas, là nhóm đang kiểm soát Giải Gaza và đánh nhau với quân đội Do Thái cách nay mấy tháng, với tổn thất lên tới 1,300 sinh mạng. Nên họ tự hỏi: tại sao Đức GH lại không thăm Gaza? “Nếu ngài nhậy cảm đến thế đối với người Do Thái về nạn Diệt Chủng, th́ hẳn ngài cũng phải nhậy cảm như thế đối với nạn diệt chủng của thế kỷ 21, tức nạn diệt chủng tại Gaza. Đàng này, ngài chỉ biết chiều theo đe doạ và yêu sách của Do Thái”. Nhóm này cũng phản đối việc Đức GH viếng Bức Tường Phía Tây hiện đang đặt dưới quyền Do Thái, mà họ cho là một phần của đền thờ Haram al-Sharif. Trong khi tuyên bố không dự tính tổ chức bất cứ cuộc phản đối nào, th́ Phong trào này lại cho dán các bích chương và thả truyền đơn nặc danh tại Nadarét kêu gọi người Hồi Giáo gây gián đoạn cho cuộc viếng thăm và tấn công chính Đức Giáo Hoàng. Sở Tổng An Ninh của Do Thái đă cho rằng giáo hoàng xa không nên chạy quanh thành phố này là v́ vậy. Những nhóm Palestine khác th́ rất vui vẻ chào đón Đức Thánh Cha. Nhà cầm quyền Palestine và các lănh tụ Palestine địa phương cũng nôn nóng như chính người Do Thái muốn đầu tư tư bản chính trị trong vụ này. Chính quyền của Mahmoud Abbas, dựa vào phe phái Fatah hiện đang lâm bí, hy vọng sẽ đẩy mạnh được tính hợp lệ của ḿnh bằng cách đón tiếp một nhà lănh đạo nổi bật của thế giới, trong khi nhóm Hamas ở Gaza hiện đang bị phần lớn các quốc gia Tây Phương xa lánh. Việc bách hại trực tiếp dân số Kitô Giáo đang mỗi ngày một giảm tại Bethlehem phần lớn nằm trong tay các phần tử Hồi Giáo cực đoan, nhưng cấp lănh đạo Palestine sẽ không để cho một giọng điệu chói tai nào làm hư h́nh ảnh đoàn kết tôn giáo do chính họ dựng lên. Họ sẽ cố sử dụng cuộc viếng thăm này để làm nổi các khiếu nại của họ chống lại nhà nước Do Thái. Hiện cũng đang có bàn tán tới việc tẩy chay về phía Do Thái. Các thành phần trong Hội Đồng Thành Phố Giêrusalem đă lên tiếng kêu gọi thị trưởng của họ không tham dự các buổi tiếp tân tại thủ phủ này, để phản đối việc Vatican tham gia hội nghị “Durban 2” về nhân quyền do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Genève vào tuần rồi, trong đó Tổng Thống Iran là Mahmoud Ahmadinejad, đă đọc bài diễn văn chính. Đức GH từng ca ngợi hội nghị ấy, gọi nó là “một sáng kiến quan trọng”. C̣n các cư dân Do Thái tại Khu Cổ Thành Giêrusalem th́ đang dự tính sẽ phản đối ngồi tại Tường Phía Tây để phán đối cảnh sát đă ra lệnh đóng cửa đền thánh thiêng nhất của Do Thái Giáo trong suốt 12 giờ Đức GH đến thăm. Hành hương củng cố tín hữu Thiển nghĩ Ṭa Thánh và chính Đức Bênêđíctô XVI biết rất rơ ‘băi ḿn chính trị’ trên đây và những khó khăn do nó tạo ra cho chuyến tông du sắp tới. Nhưng Đức Bênêđíctô XVI, như cả thế giới đă thấy, không phải là người sợ bất cứ băi ḿn nào. Các phản ứng dữ dội của thế giới Hồi Giáo đối với bài diễn văn Regensburg chưa dịu hẳn, ngài vẫn đă tới Thổ Nhĩ Kỳ, và chiếm được cảm t́nh của mọi người. Phi Châu là một băi ḿn khác, băi ḿn ‘condom’, băi ḿn của những tay trọc phú làm giầu bằng việc bán ‘áo mưa’ t́nh dục. Đức Bênêđíctô sẵn sàng tới đó để chính thức ‘lột mặt nạ’ những tên trọc phú kia, bằng cách bảo họ: áo mưa không những không làm giảm bệnh AIDS mà c̣n làm băng hoại con người. Lần này cũng thế, thiển nghĩ không cần The Tablet, ngài cũng biết rơ t́nh h́nh chính trị của Đất Thánh, của Do Thái, của Gio-đăng, và của Palestine. Theo tin Zenit, ngày 3 tháng Năm vừa qua, trong buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng (Regina Coeli) với khách hành hương tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha cho mọi người hay: mục đích chuyến hành hương tới Đất Thánh của ngài là để cổ vũ đối thoại, ḥa giải và hoà b́nh. Ngài xin họ cầu nguyện cho chuyến hành hương được thành công. Ngài nói thêm: ngài chỉ theo chân Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II, đến để “củng cố và khích lệ các Kitô hữu của Đất Thánh, những người ngày đêm phải đương đầu với nhiều nỗi khó khăn. Trong tư cách kế nhiệm Tông Đồ Phêrô, cha muốn chứng tỏ (cho họ) sự gần gũi và nâng đỡ của toàn bộ cơ thể Giáo Hội. Mặt khác, cha cũng sẽ là một khách hành hương ḥa b́nh, nhân danh Thiên Chúa độc nhất, là Cha mọi người. Cha sẽ làm chứng cho sự cam kết dấn thân của Giáo Hội Công Giáo đối với những ai đang cố gắng thực hành đối thoại và ḥa giải, đạt tới một nền ḥa b́nh ổn định và bền vững trong công lư và ḷng kính trọng lẫn nhau”. Cuối cùng, Đức Giáo Hoàng nói rằng: chuyến tông du này “tất yếu sẽ có một ư nghĩa đại kết và liên tôn đáng ghi nhận. Theo quan điểm này, Giêrusalem là kinh thành có tính biểu tượng tuyệt hảo: tại đây, Chúa Kitô đă chết để tái hợp nhất mọi con cái tản mác của Thiên Chúa”. Với mục tiêu ấy và với lời cầu nguyện của tín hữu hoàn cầu, “băi ḿn” nào ngài cũng sẽ vượt qua để ban bố 29 bài diễn văn và bài giảng lễ, gặp gỡ các nhà cầm quyền dân sự và đại diện Kitô Giáo, Hồi Giáo và Do Thái Giáo ở đấy. Không chính trị, vẫn lên đường Cũng theo tin Zenit (3/5/09), phát ngôn viên Ṭa Thánh là Linh Mục Federico Lombardi, Ḍng Tên, tuyên bố rằng cuộc tông du của Đức Thánh Cha tới Đất Thánh đúng là một cuộc hành hương tôn giáo, chứ không phải là một cuộc công du chính trị. Cha cho hay: cuộc tông du này là cuộc tông du “được chờ mong nhất” xưa nay, và có lẽ là cuộc tông du “kết liên nhất”. Cha minh xác rằng: trước hết đây là một hành tŕnh đức tin, mặc dù các biến cố ở Trung Đông phần lớn được người ta giải thích theo nghĩa chính trị. “Ḷng khao khát thiêng liêng của mọi Kitô hữu đă trở thành ưu tiên tự phát cho nhiều vị giáo hoàng kể từ khi việc du hành quốc tế trở thành một khả thể cụ thể… Không phải là t́nh cờ khi cuộc hành hương của Đức Phaolô VI tới Đất Thánh chính là cuộc hành hương đầu hết trong tất cả các chuyến đi loại này. Nó là thời khắc thực sự có tính lịch sử và là thời khắc của ân sủng đối với Giáo Hội Công Giáo, lúc ấy đang cử hành Công Đồng, v́ con đường đại kết qua cuộc gặp gỡ với Đức Thượng Phụ Athenagorus, và v́ lời kêu gọi ḥa b́nh giữa các dân tộc trong vùng và trên thế giới’. Cha Lombardi c̣n nói thêm rằng: “Đức Gioan Phaolô II phải chờ một thời gian khá lâu trước khi thể hiện được ước muốn hành hương tới đó, nhưng sau đó, ngài đă thực hiện được chuyến đi trong thanh thản, giữa ngay Năm Thánh, lúc cao điểm nhất trong triều giáo hoàng của ngài, bằng những giờ phút cầu nguyện cực kỳ thâm hậu và bằng những cử chỉ thân hữu và gần gũi hết sức đáng nhớ đối với nhân dân Do Thái và nhân dân Palestine, với các thống khổ quá khứ và hiện tại của họ”. Bây giờ đến lượt Đức Bênêđíctô XVI. Cha Lombardi nh́n nhận rằng: “t́nh h́nh chính trị trong khu vực rất bấp bênh, và khả thể ḥa b́nh rất mỏng manh. Nhưng Đức Giáo Hoàng vẫn lên đường, với một ḷng quả cảm đáng khâm phục, đặt căn bản trên đức tin, để lên tiếng cho ḥa giải và ḥa b́nh”. Theo cha, “mọi người chúng ta cần tháp tùng ngài không những chỉ bằng lời cầu nguyện b́nh thường, mà c̣n bằng một chuyển động tâm linh mà Đức Gioan Phaolô II gọi là ‘lời cầu nguyện vĩ đại’, để Giáo Hội được canh tân ngay ở chính nguồn của ḿnh, để sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu xẩy ra sớm hơn, và để thù hận cuối cùng phải nhường bước cho ḥa giải”. Nhất định là can đảm
Chuẩn bị chào mừng
Theo tin tờ The Jerusalem Post, ngày 4 tháng Năm vừa qua, Thị Trưởng Giêrusalem là Nir Barkat lên tiếng chào mừng du khách tới Giêrusalem trước ngày Đức GH Bênêđíctô XVI tới đó. Trong lời chào mừng này, Nir Barkat viết rằng: “Thật là một vinh dự lớn cho tôi được nhân danh dân chúng Giêrusalem chào đón Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI, và hàng ngàn khách hành hương từ khắp thế giới tới thăm Giêrusalem”. Lời chào mừng c̣n thêm: “Giêrusalem là trái tim và linh hồn dân tộc Do Thái và là một thành phố đặc biệt đối với hơn ba tỷ người có đức tin trên khắp thế giới. Lịch sử phong phú của Giêrusalem tiếp tục hội tụ các tôn giáo vĩ đại và các nhà lănh đạo các tôn giáo này từ nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác nhau. Giêrusalem quả là một thành phố đích thực của ḥa b́nh, nơi người thuộc mọi hậu cảnh có thể tự do thực hành các niềm tin tôn giáo của ḿnh”. Sau đó, Barkat tiếp tục đặc biệt chào mừng Đức GH, cũng như “mỗi và mọi khách hành hương bằng một sứ điệp nhẫn nại v́ ḥa b́nh. Với cuộc viếng thăm có tính lịch sử và quan trọng tại Giêrusalem, thủ đô của Quốc Gia Do Thái này, tôi biết rằng chúng ta đă thực hiện một bước tiến gần hơn tới tự do tôn giáo và khoan dung mà hết thẩy chúng ta từng cố gắng đạt cho bằng được trên khắp thế giới và ở đây tại Thành Thánh này. Tôi kính chúc Đức Thánh Cha và mọi khách qúy của chúng tôi một cuộc thăm viếng đầy hân hoan và thoải mái tại Giêrusalem”. Hôm Chúa Nhật, Bộ Ngoại Giao Do Thái đă khánh thành một trang mạng dành riêng cho chuyến tông du của Đức GH Bênêđíctô XVI, địa chỉ ở tại http://popeinisrael.org.il. Trang mạng này sử dụng 8 thứ tiếng khác nhau: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Ư, Đức và Hy Bá Lai. Nó gồm các tín liệu viết và thính thị nói về cuộc viếng thăm của Đức GH, về các mối liên hệ Do Thái và Vatican, các cộng đồng Kitô Giáo tại Do Thái và các thánh điểm của Kitô giáo khắp lănh thổ. Trang mạng này cũng cung cấp những cập nhật thường xuyên trong suốt cuộc thăm viếng, cũng như những buổi phát sóng trực tiếp các biến cố trong cuộc hành hương của Đức GH, như cuộc viếng thăm Yad Vashem, các thánh lễ tại Vườn Diệtsimani và Đồi Vực Thẳm, các cuộc thăm viếng tại Nhà Thờ Tiệc Ly và Nhà Thờ Mộ Thánh. Đại nhạc hội ḥa b́nh để vinh danh Đức Giáo Hoàng Tờ Israel Culture ngày 4 tháng Năm có bài của Merav Yudilovitch cho hay: một buổi đại nhạc hội sẽ được tổ chức tại hí viện Beit She’an để chào mừng Đức Bênêđíctô XVI với chủ đề hoà giải và sống chung, do nhiều nghệ sĩ nổi danh trong vùng và của Ư tham dự. Với sứ điệp hoà b́nh và huynh đệ, các nghệ sĩ địa phương và Ư thuộc mọi tôn giáo sẽ tŕnh diễn một buổi đại nhạc hội để vinh danh Đức GH nhân cuộc viếng thăm Do Thái của ngài. Buổi đại nhạc hội này được tổ chức vào ngày 13 tháng Năm tại đại hí viện Rôma tại thành phố miền Bắc có tên là Beit She'an. Buổi đại nhạc hội này bao gồm các nhạc sĩ, ca sĩ và vũ viên và sẽ được trực tiếp phát tuyến tới 26 quốc gia qua đài truyền h́nh SAT của Ư. Các phóng viên của đài này sẽ tháp tùng Đức Thánh Cha trong suốt cuộc viếng thăm Đất Thánh của ngài. Một khán đài sẽ được dựng tại đại hí viện dành cho biến cố này, do Piono Leoni người Ư thiết kế. Khán đài này dự tính sẽ được dựng để ḥa điệu với khung cảnh cổ xưa. Các xướng ngôn viên của buổi tŕnh diễn sẽ là nữ tài tử kiêm người mẫu Do Thái Moran Atias và Julio Bazo. Buổi tŕnh diễn này sẽ được bắt đầu với Nhóm Nhà Hát Cộng Đồng của Qũy Beresheet LaShalom, một tổ chức ở miền Bắc Do Thái có thành viên thuộc mọi tầng lớp trong xă hội Do Thái, gồm cả người Do Thái lẫn Ả Rập, Hồi Giáo, người Druze và Kitô Hữu, cả đạo lẫn đời. Nhóm này do Angelica Edna Calo Livne thành lập. Bà vốn sinh tại Rôma và đậu tiến sĩ văn chương Ư. Nhóm sẽ tŕnh diễn cùng với sự phụ họa của các vũ viên thuộc Công Ty Fresco Dance. Công ty này được thành lập năm 2002 bởi vũ sư và biên đạo múa Yoram Carmi. Họ sẽ tŕnh diễn một vở nói về sống chung, vũ theo điệu nhạc được đặc biệt sáng tác cho dịp này, do Dàn Đại Ḥa Tấu Raanana và Nhóm Gaya tŕnh tấu. Các tham dự viên khác sẽ là ca sĩ Ai Cập Samira Said, ca sĩ Ư Lucio Dalla, ban nhạc rốc Do Thái Rockfour, ca đoàn của Viện Magnificent Institute, gồm các ca viên Do Thái, Hồi Giáo Palestine và Kitô Giáo, danh vĩ cầm Francesco D'Orazio, và giọng nam cao nổi tiếng Alessandro Safina. Biến cố chính của buổi tŕnh diễn này sẽ là phép lành b́nh an và ḥa giải của Đức GH. Cuối cùng, toàn bộ các nghệ sĩ sẽ cùng nhau tŕnh diễn bài “We Are the World" (Chúng Ta Là Thế Giới) do Michael Jackson và Lionel Richie sáng tác. Không cần thanh minh thanh nga nữa Hăng AP th́ tường tŕnh rằng phát ngôn viên của Đức GH cho hay: Ṭa Thánh đă “giải thích và làm sáng tỏ đủ mọi điều” liên quan tới bài diễn văn năm 2006 của Đức GH, một bài diễn văn bị nhiều người Hồi Giáo coi là xúc phạm đến tôn giáo của họ. Đức Thánh Cha dịp đó nhấn mạnh rằng bản văn Trung Cổ được ngài trích dẫn từng coi một số giáo huấn của tiên tri Muhammad là “xấu xa và bất nhân” đă không hề phản ảnh quan điểm riêng của ngài. Nhưng tổ chức Huynh Đoàn Hồi Giáo (Muslim Brotherhood) của Gio-đăng vừa đây đă lên tiếng đ̣i Đức Giáo Hoàng phải xin lỗi trước khi ngài khởi sự cuộc viếng thăm Đất Thánh vào Thứ Sáu này, trong đó trạm đầu tiên sẽ là Gio-đăng. Phát ngôn viên của Đức GH là Cha Federico Lombardi cho hay: “có lẽ đây là vấn đề thế giới Hồi Giáo cần hiểu rơ điều Đức GH muốn nói. Chúng tôi không thể tiếp tục nhắc lại cho đến tận thế cùng những lời đă minh xác”. Vua Gio-đăng phá lệ để nghênh đón Đức Giáo Hoàng Theo tin Zenit ngày 5 tháng Năm, Vua Gio-đăng Abdallah II dự tính, vào Thứ Sáu này, sẽ phá lệ nghi lễ khi ông nghênh đón Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI. Theo Cha Lombardi, Nhà Vua Gio-đăng sẽ thân hành ra tận phi trường để nghênh đón Đức Thánh Cha vào lúc 2 giờ 30 chiều. Và với một nghĩa cử chưa bao giờ có, ông sẽ cùng hoàng hậu Rania tháp tùng Đức Thánh Cha ra phi trường lúc ngài rời vương quốc của ông vào ngày Thứ Hai. Cha Lombardi nhận định rằng nhà vua muốn đóng góp đặc biệt vào cuộc đối thoại liên tôn bằng nhiều sáng kiến khác nhau. Cha nhắc lại Thông Điệp Amman của nhà vua trong đó ông khuyến khích thế giới Hồi Giáo hăy từ bỏ chủ nghĩa cực đoan, và Thông Điệp Liên Tín Ngưỡng Amman, chủ yếu nhắn gửi người Kitô Giáo và người Do Thái Giáo và kêu gọi việc cổ vũ ḥa b́nh và các giá trị chung nơi các tôn giáo. Phát ngôn viên Ṭa Thánh c̣n ghi nhận thêm rằng một trong các cố vấn của Vua Abdallah chính là Ghazi bin Muhammad, người đă phối hợp 138 học giả Hồi Giáo lên tiếng trả lời các tấn công chống lại Đức Giáo Hoàng v́ bài diễn văn Regensburg của ngài. Nhóm này đă viết “Lời Chung” mà cuối cùng đă dẫn tới việc thành lập ra Nghị Hội Công Giáo và Hồi Giáo tại Rôma. Một cuộc tông du xây nền Zenit ngày 5 tháng Năm cũng thuật lại nhận định của Đức HY Leonardo Sandri, Thánh Bộ Các Giáo Hội Đông Phương, về chuyến đi sắp tới của Đức Bênêđictô qua Đất Thánh. Theo Đức HY, Đức GH muốn thực hiện chuyến đi này ngay lúc mới khởi đầu triều giáo hoàng của ngài. Sở dĩ đến nay, vào năm thứ năm triều đại giáo hoàng, ngài mới thực hiện được dự tính đó, là v́ các cuộc tông du trước đây phần lớn đă được lên chương tŕnh từ thời giáo hoàng trước, đặc biệt là Ngày Giới Trẻ tại Cologne và Cuộc Gặp Mặt Các Gia Đ́nh tại Tây Ban Nha. Đức HY Sandri nhấn mạnh rằng: Đức Thánh Cha muốn được dành chuyến đi đầu hết, chuyến đi mang ư nghĩa toàn bộ cho triều giáo hoàng của ngài hướng về Chúa Giêsu, về Ngôi Lời Thiên Chúa, là tới Đất Thánh, một chuyến đi chính nhằm đặt để sắc thái cho toàn bộ triều giáo hoàng của ngài. Nhân dịp này, Đức HY Sandri cũng nhắc lại ư định của Đức Bênêđíctô XVI muốn tới Đất Thánh để cổ vũ cho ḥa b́nh. “Qua sự hiện diện của ngài, Đức GH là sứ giả của thanh thản và ḥa b́nh và là một thúc đẩy đối với mọi người đang có trách nhiệm về thời cuộc hay t́nh thế các dân tộc. Trong trường hợp tại Đất Thánh, sự hiện diện ấy bao hàm một khuyến khích đối với diễn tŕnh ḥa b́nh đă có từ lâu và hiện gặp nhiều khó khăn” Con số thống kê tại Đất Thánh Cơ sở Catholic Culture (Văn Hóa Công Giáo), ngày 5 tháng Năm, tŕnh bày một số thống kê của chính Vatican về Đất Thánh. Mặc dù người Kitô hữu đang rời bỏ vùng này, do bầu khí kinh tế và chính trị không thuận tiện, nhưng người Công Giáo vẫn chiếm gần 2% dân số các quốc gia được Đức Giáo Hoàng viếng thăm. Tại Gio-đăng, trạm đầu tiên của chuyến tông du, hiện có 109,000 người Công Giáo trong tổng số 5.7 triệu dân, và gần 31,000 trẻ em ghi danh học tại 123 trường Công Giáo. Tại Do Thái và các lănh thổ Palestine, có 130,000 người Công Giáo trong số 7.2 triệu cư dân, với gần 44,000 học sinh ghi danh tại 192 trường Công Giáo đủ các cấp từ vườn trẻ tới đại học. Giáo Hội cũng quản lư 36 bệnh viện, bệnh xá, viện mồ côi, nhà trẻ, và các viện bác ái khác. Tin của Hăng CNA c̣n cho hay thêm: tại Gio-đăng, hiện có ba giáo tỉnh và 64 giáo xứ, với 4 giám mục, 103 linh mục, 258 tu sĩ và 7 đại chủng sinh. Tại Do Thái và các lănh thổ Palestine, hiện có 9 giáo tỉnh, 78 giáo xứ và 3 trung tâm mục vụ, với 11 giám mục, 406 linh mục, 1,171 tu sĩ, 1 nhà truyền giáo giáo dân, 14 tiểu chủng sinh và 110 đại chủng sinh. Do Thái phát hành tem thư đánh dấu chuyến tông du Theo tin ngày 4 tháng Năm của NECN/APTV, sở bưu điện Do Thái đă phát hành một tá tem thư đặc biệt để kỷ niệm chuyến viếng thăm sắp tới của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI tại Đất Thánh. Các tem thư này, được bán cho công chúng bắt đầu từ Thứ Hai tới, tŕnh bày 12 thánh điểm Kitô Giáo trong vùng được Đức Giáo Hoàng dự tính viếng thăm nhân chuyến tông du tại đây từ ngày 11 tới ngày 15 tháng Năm. Sở bưu điện này cho biết họ cũng sẽ phát hành một tá tem thư khác tŕnh bày cuộc tông du thực sự của Đức Giáo Hoàng tới các thánh điểm này. Hội Mộ Thánh gánh vác phí tổn chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng Cindy Wooden của tờ BostonPilot cho hay Hội Mộ Thánh góp phần gánh vác chi phí của chuyến tông du tới Đất Thánh. Hẳn mọi người c̣n nhớ: Hội Hiệp Sĩ Mộ Thánh ở Giêrusalem (the Equestrian Order of the Holy Sepulcher of Jerusalem) được chân phước GH Piô IX lập năm 1847 để hỗ trợ Ṭa Thượng Phụ Latinh của Giêrusalem và các người Công Giáo khác sống tại Đất Thánh. Cuộc tông du từ ngày 8 tới ngày 15 tháng Năm này sẽ giúp Đức Giáo Hoàng thấy kết quả cụ thể của việc hỗ trợ trên và nhu cầu tiếp diễn của người Kitô hữu trong vùng, nhưng chính cuộc tông du này một phần có được cũng là nhờ sự hảo tâm của các hiệp sĩ. Đức Hồng Y John P. Foley, người Mỹ và là hiệp sĩ tối cao của Hội, cho hay: các hiệp sĩ và mệnh phụ đă dâng cho Đức Thánh Cha và Đức Thượng Phụ Latinh Fouad Twal mỗi vị khoảng 325,000 mỹ kim để giúp trang trải chi phí cho chuyến tông du. Ngài cũng cho biết: 50 hiệp sĩ của Hội sẽ lập thành một hàng rào danh dự cho suốt chuyến đi của Đức Giáo Hoàng. Theo Đức Hồng Y, hỗ trợ cuộc tông du bằng lời cầu nguyện và bằng tài chánh là hỗ trợ Đức Thánh Cha trong sứ mệnh thừa nhiệm Thánh Phêrô của ngài. “Ngài sẽ làm điều Thánh Phêrô vốn làm là khích lệ các tín hữu, thừa nhận họ, đem lại cho họ cảm thức tươi mới rằng họ có giá trị và cho họ biết Giáo Hội hoàn vũ đánh giá cao chính họ và tầm quan trọng trong đức tin của họ biết là dường nào”. Hiện nay, Hội có chừng 24,000 hội viên trong 32 quốc gia. Các hội viên đoan hứa hàng ngày cầu nguyện cho Giáo Hội, cho công việc của ṭa thượng phụ Latinh ở Giêrusalem và các thánh điểm có liên hệ tới cuộc đời Chúa Giêsu và cho bản thân họ đủ sức mạnh thực thi bổn phận bác ái của ḿnh, nhất là đối với “người nghèo và người bệnh tại Đất Thánh”. Về vấn đề quyên góp, Đức Hồng Y Foley cho hay: “mục tiêu của chúng tôi là quyên góp mỗi hội viên chừng 600 mỹ kim một năm” nhưng đóng góp thiếu không phải là cơ sở để chấm dứt tư cách hội viên. V́ hội được lập “chủ yếu để phát triển hội viên về phương diện thiêng liêng” qua cầu nguyện, học hỏi và dấn thân cụ thể nhằm “hỗ trợ Giáo Hội tại Đất Thánh để Giáo Hội ấy không trở thành một bảo tàng viện, mà là một Giáo Hội sống động”. Các người Công Giáo tại Đất Thánh, mà phần lớn là người Palestine, vốn là “ḍng dơi những người đầu hết bước chân theo Chúa Giêsu Kitô và hiện nay thuộc nhiều nghi lễ khác nhau, và chẳng may, cũng thuộc nhiều giáo hội khác nhau” dù phần lớn là Công Giáo và Chính Thống Giáo. Kể từ năm 2000, các thành viên của hội đă dâng cúng gần 65 triệu mỹ kim để yểm trợ Ṭa Thượng Phụ Latinh, chủng viện, các giáo xứ và trường học cũng như các cơ quan bác ái của Ṭa này và nhiều cơ sở khác như Bệnh Viện Thánh Giuse ở Giêrusalem và Đại Học Bêlem, do các Sư Huynh Ḍng Chúa Kitô (Christian Brothers) đảm trách. Mặc dù phần lớn sự yểm trợ của hội được dành cho Ṭa Thượng Phụ Latinh ở Giêrusalem, nhưng các hiệp sĩ cũng làm việc với cơ quan phối trí của Thánh Bộ Các Giáo Hội Đông Phương để hỗ trợ các dự án có giá trị liên hệ tới các giáo hội Melkite, Maronite, Chaldean và Công Giáo Armenian tại Do Thái và tại Gio-đăng. Vào khoảng một nửa số học sinh ghi danh theo học các trường Công Giáo trong vùng là Kitô hữu. Các trường này cung cấp việc giáo dục tôn giáo tùy theo tôn giáo của học sinh. Nên các học sinh Hồi Giáo có thể đem thầy Hồi Giáo vào dạy về Hồi Giáo cho các em, nhưng triết lư sống (ethos) của trường, theo Đức HY Foley, th́ là Công Giáo. Mục tiêu của việc mở rộng việc ghi danh là để cổ vũ tinh thần tương kính, khoan dung và ḥa b́nh. Bất cứ điều ǵ có thể góp phần vào ḥa b́nh cũng đều quan trọng. Nên Đức HY Foley hy vọng người Do Thái tỏ ra hiểu biết nhiều hơn đối với những người Palestine biết điều và con số những người Palestine biết điều sẽ mỗi ngày một gia tăng. Đức Hồng Y cũng tiết lộ rằng mọi trường học tại Do Thái, kể cả trường Công Giáo, đều được chính phụ tài trợ. Nhưng việc tài trợ ấy không có tại Palestine và Gio-đăng. Chính v́ thế, nhiều trường tại hai nơi đó phải tiếp nhận tài trợ từ Hội Mộ Thánh. Hội cũng giúp tiền học phí nữa v́ Hội không muốn bất cứ trẻ em Công Giáo nào không được hưởng nền giáo dục Công Giáo chỉ v́ gia đ́nh các em không đóng được lệ phí. Đối với Đức HY Foley, giáo dục là ch́a khóa giúp người nghèo trong vùng thoát khỏi cảnh nghèo, giúp cổ vũ việc chung sống ḥa b́nh và tạo ra các điều kiện cần thiết để thuyết phục các Kitô hữu đừng di cư. Nếu các cộng đồng Công Giáo không c̣n sinh sống và làm việc tại Đất Thánh nữa, th́ theo Đức Hồng Y, “ta sẽ đánh mất sợi dây liên kết với các gốc rễ của chúng ta”. Thay đổi quan điểm với Do Thái Jeff Abramowitz, của Deutsche Presse-Agentur, ngày 4 tháng Năm, cho rằng cuộc tông du của Đức Bênêđíctô XVI tới Do Thái lần này cho thấy rơ một thay đổi rất tích cực và rơ ràng trong mối liên hệ Do Thái và Vatican. Thực vậy, vị giáo hoàng đầu tiên đến thăm Do Thái đă không thừa nhận chính thức là ngài đến thăm quốc gia đó. Hẳn mọi người c̣n nhớ, năm 1964, Đức Phaolô VI từ Gio-đăng dừng chân một ngày tại Do Thái, nhưng ngài đă thận trọng không nhắc đích danh quốc gia Do Thái trong chuyến dừng chân ấy. V́ vào lúc ấy, Do Thái và Vatican chưa lập liên hệ ngoại giao. Khi đă trở về Vatican, Đức Phaolô VI có gửi cho Tổng Thống Do Thái, lúc ấy là Zalman Shazar, một thư cám ơn, nhưng đă gửi thư ấy cho “Ông Shazar” tại Tel Aviv, chứ không phải tại Giêrusalem, là nơi ở chính thức của Ông Shazar. Đến lượt Đức Gioan Phaolô II, không những ngài nhắc đích danh quốc gia Do Thái trong hành tŕnh đến Đất Thánh năm 2000, mà c̣n gặp tổng thống, thủ tướng và hai trưởng giáo sĩ của Do Thái. Cuộc thăm viếng của vị giáo hoàng thứ ba tới Đất Thánh lần này được Daniel Rossing, Giám Đốc Trung Tâm Do Thái về Các Liên Lạc Do Thái và Kitô Giáo, cho là một bước nhẩy vọt. Ông nói: “Ta không nên quên sự kiện này là trong 50-60 năm nay, đă có những bước tiến hết sức đáng kể trong các mối liên hệ Do Thái và Kitô Giáo, nhất là các liên hệ Do Thái và Công Giáo”. Phần lớn các nhà b́nh luận và các học giả đều nhất trí rằng thái độ của Vatican đối với Do Thái chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố chính sau đây: Thứ nhất là thần học, tức thái độ của người Công Giáo đối với người Do Thái Giáo, và thứ hai là chính trị thực tiễn (realpolitik) v́ phần lớn Kitô hữu đang sống tại Đất Thánh là người Ả Rập tự nhận ḿnh có tinh thần quốc gia Palestine. Ai cũng biết các giáo huấn của Giáo Hội Tiên Khởi thường lên án người Do Thái Giáo đă bác bỏ Chúa Giêsu, và coi việc phá hủy Đền Thờ Giêrusalem vào năm 70 cũng như việc tứ tán của người Do Thái Giáo như là h́nh phạt của Chúa đối với việc bác bỏ kia và vai tṛ của họ trong vụ việc đóng đinh Con Yêu Dấu của Người. Măi đến năm 1965, năo trạng ấy mới thay đổi với tuyên ngôn Nostra Aetate của Công Đồng Vatican II cởi bỏ cái tội giết Chúa (deicide) của dân tộc này. Giáo trưởng David Rosen, người từng đóng một vai tṛ hàng đầu trong việc thăng tiến các mối liên hệ giữa Do Thái và Vatican, th́ tuyên ngôn trên "đem đến một cuộc cách mạng tích cực trong giáo huấn của Giáo Hội”. Khai triển cách mạng trên đă được Đức GH Gioan Phaolô II tiếp tục. Ngài được coi là vị giáo hoàng đóng góp nhiều hơn tất cả các vị tiền nhiệm cho việc cổ vũ các liên hệ giữa Công Giáo và Do Thái Giáo, rẫy bỏ hoàn toàn nền thần học bài Do Thái. Năm 1993, dưới triều đại của ngài, Vatican và Do Thái chính thức thiết lập các liên hệ ngoại giao đầy đủ. Việc thiết lập liên hệ ngoại giao này thật là một bước can đảm, bởi cho đến lúc đó, Giáo Hội vẫn có nhiều e ngại đối với các Kitô hữu gốc Ả Rập trong vùng. Thực vậy, như trên đă nói, phần lớn người Công Giáo sống tại Do Thái và các lănh thổ bị Do Thái chiếm đóng đều đứng về chính nghĩa Palestine, ít có ai chịu chấp nhận việc Vatican xích lại gần nhà nước Do Thái, ít nhất th́ Vatican cũng nên chờ cho tới lúc giới lănh đạo Palestine chịu làm như thế. Rất may, cơ hội ấy đă xẩy ra trong năm 1993 lúc Do Thái và Tổ Chức Giải Phóng Palestine kư bản tuyên bố lịch sử các nguyên tắc chung, làm phát sinh ra diễn tŕnh ḥa b́nh. Nhờ thế mà liên hệ ngoại giao giữa Vatican và Do Thái đă được thiết lập.
Đất Thánh chuẩn bị nghênh đón Đức Giáo Hoàng
Từ tháng Tư, các thợ sơn, nhân công và các nhà khảo cổ đă cùng nhiều người khác thực hiện những chuẩn bị sau cùng cho cuộc nghênh đón Đức Giáo Hoàng tới Đất Thánh. Theo hăng tin EFE, các công nhân bận bịu sơn các khung cửa và rà xét các bức tường tại Pḥng Tiệc Ly. Nhà thờ Mộ Thánh cũng được tạm đóng cửa trong một thời gian để chuẩn bị. Tại Đồi Vực Thẳm (Mount Precipice), các công nhân đă xây dựng một khán đài để Đức Giáo Hoàng ngỏ lời với hàng ngàn người bên ngoài Nadarét. Theo Cha Ricardo Bustos thuộc Đền Thánh Truyền Tin, sẽ có ba ca đoàn địa phương, một của người Maronite, một của người Melchite và một ca đoàn Latinh, và ít nhất sẽ có một bài đọc hát theo Nghi Lễ Đông Phương trong Thánh Lễ tại Đồi Vực Thẳm. John Seligman, một nhà khảo cổ làm việc tại Cơ Quan Khảo Cổ Do Thái, có nhiệm vụ tân trang Pḥng Tiệc Ly, cho biết: việc Đức GH tới thăm là “một cơ hội lớn để trưng bày các địa điểm quan trọng nhất của Kitô Giáo. Chúng tôi đă làm sạch các tường, sửa lại gạch và chữa các bức tường hư, để địa điểm này coi cho được đối với cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng”. Cha Pierbattista Pizzaballa, Quản Thủ Đất Thánh, nói rằng cuộc viếng thăm của Đức GH cho thấy: bất chấp các hiểu lầm, mối liên hệ với thế giới Do Thái Giáo và Hồi Giáo là mối liên hệ rất quan trọng đối với cả Giáo Hội Công Giáo nói chung và cho bản thân Đức GH nói riêng. Do Thái đầu tư hơn 9 triệu mỹ kim để canh tân các địa điểm được Đức Giáo Hoàng viếng thăm. Lực lượng an ninh khổng lồ bảo vệ chuyến tông du Theo hăng tin AP, Do Thái sẽ triển khai 80,000 nhân viên an ninh trong “Chiến Dịch Áo Trắng” (Operation White Cloak) để bảo vệ Đức GH Bênêđíctô XVI trong thời gian ngài tới thăm nước này. Tổng úy trưởng Cảnh sát Do thái là Dudi Cohen gọi cuộc tới thăm này là “một biến cố lịch sử, xét về phương diện an ninh, th́ rất phức tạp”. Ông cho hay: 80,000 nhân viên an ninh sẽ được triển khai để giữ an ninh cho chuyến viếng thăm này, trong đó có 60,000 cảnh sát. Số c̣n lại là cảnh sát ch́m và binh sĩ. Đức GH Bênêđíctô XVI sẽ là vị giáo hoàng thứ hai chính thức viếng thăm Do Thái. Vị tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan Phaolô II tới đây vào năm 2000 để thực hiện cuộc tông du thiên niên kỷ. Năm 1964, Đức GH Phaolô VI cũng tới Do Thái, nhưng cuộc viếng thăm đó là một cuộc viếng thăm không chính thức và chỉ kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Các viên chức Do Thái và Palestine đang lên cơn sốt trong việc hoàn tất các sắp xếp sau cùng cho chuyến viếng thăm. Tại Giêrusalem, Đức GH sẽ viếng thăm nơi thánh thiêng nhất, nơi người Do Thái Giáo thường tới cầu nguyện, đó là Bức Tường Phía Tây của Cổ Thành Giêrusalem; Đền Thờ Đá (the Dome of the Rock), tức đền thờ chính của Hồi Giáo, và Nhà Thờ Mộ Thánh, nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh và được chôn cất. Đức GH sẽ cử hành thánh lễ ngoài trời tại Giêrusalem, Bêlem và Nadarét. Cohen cho hay nguyên tại Giêrusalem, chính phủ Do Thái sẽ huy động 30,000 nhân viên an ninh. Tŕnh bày với báo chí về kế hoạch an ninh, Cohen cho hay: hiện không có dấu hiệu t́nh báo nào về một cuộc tấn công nhắm vào Đức GH, nhưng ông cho rằng “khủng bố là một thực tại mà Do Thái phải đương đầu suốt cả năm”. Ông cũng cho biết: lực lượng an ninh trong “Chiến Dịch Áo Trắng” đă được huấn luyện trong nhiều tháng nay và sẽ sử dụng nhiều kỹ thuật mới, nhưng ông từ chối không cho biết thêm chi tiết”. Cảnh sát nói rằng họ sẽ chặn nhiều đường phố, không cho xe cộ lưu thông, và sẽ cho kéo đi những chiếc xe đậu dọc lộ tŕnh của Đức GH. V́ lư do an ninh, Đức GH sẽ sử dụng giáo hoàng xa của ngài trong hành tŕnh ngắn tại Nadarét đến chỗ cử hành Thánh Lễ tại đấy. Dân số Kitô Giáo tại Đất Thánh là 160,000 người gồm khoảng 110,000 người sống bên trong Do Thái, 50,000 người tại West Bank và 3,800 tại Gaza. Cảnh sát cho biết: hơn 10,000 Kitô hữu tại West Bank sẽ được cấp giấy phép đặc biệt để tham dự các buổi chào đón Đức GH. Đối với các Kitô hữu từ Gaza, cảnh sát cho hay họ c̣n đang do dự không biết có nên cho họ tới tham dự hay không v́ sợ những người cầm quyền thuộc phong trào Hamas quá khích tại đó dám lợi dụng giấy phép để cài người vào Do Thái. Hăng Alitalia chở Đức GH và đoàn tùy tùng tới Đất Thánh Theo tin WAPA, Đức Thánh Cha sẽ sử dụng máy bay A-320 của hăng hàng không Alitalia để tới Đất Thánh. Hăng này cho biết họ rất vinh dự được chuyên chở Đức Thánh Cha và đoàn tùy tùng tới Amman, chặng đầu trong chuyến tông du của ngài. Airbus A-320 “Dante Alighieri” là một trong các phi cơ mới được du nhập vào đoàn phi cơ của hăng này. Ngoài Đức GH và phái đoàn của ngài, đại diện truyền thông khắp thế giới cũng sẽ có mặt trên chiếc phi cơ này. Chuyến bay đặc biệt tên là AZ-4000 sẽ cất cánh khỏi phi trường quốc tế Leonard da Vinci ở Rôma vào lúc 9 giờ 30 sáng Thứ Sáu và sẽ đáp xuống phi trường Queen Alia ở Amman lúc 2 giờ 30 chiều, giờ địa phương. Phi hành đoàn gồm 3 phi công và 6 tiếp viên phi hành, được chọn trong số những nhân viên kỳ cựu trong nghề và tha thiết dấn thân trong nhiệm vụ. Chỉ huy trưởng chuyến bay là Roberto Germano, giám đốc điều hành các chuyến bay của Alitalia. Phi công chính là Giacomo Belloni, người đă có tới 10,500 giờ bay. Đức Thánh Cha gửi thông điệp cho Đất Thánh trước ngày lên đường Đài Phát Thanh Vatican, ngày 6 tháng Năm, đưa tin: trong buổi triều kiến chung vào hôm Thứ Tư vừa qua, Đức Thánh Cha đă nói về chuyến đi sắp đến của ngài tới Đất Thánh với 40,000 người tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô. Nhân cơ hội này, ngài cũng đă gửi tới nhân dân Đất Thánh thông điệp đặc biệt sau đây: “Các bạn thân mến, Thứ Sáu này, tôi sẽ rời Rôma để tông du Giođăng, Do Thái và các Lănh Thổ Palestine. Sáng nay, tôi muốn dùng dịp may để qua buổi phát tuyến truyền thanh và truyền h́nh này chào mừng mọi người thuộc các vùng đất trên. Tôi rất náo nức mong tới lúc được ở bên các bạn và chia sẻ với các bạn mọi hoài mong và hy vọng cũng như mọi đau thương và đấu tranh của các bạn. Tôi sẽ đến với các bạn như một người hành hương ḥa b́nh. Chủ đích của tôi là trước nhất thăm viếng những nơi đă trở nên thánh thiêng nhờ cuộc đời của Chúa Giêsu, và, cầu nguyện tại các nơi ấy cho hồng phúc ḥa b́nh và hợp nhất cho gia đ́nh các bạn, và mọi người vốn nhận Đất Thánh và Trung Đông là quê hương. Trong nhiều cuộc gặp gỡ có tính tôn giáo và dân chính diễn ra trong suốt tuần tới, sẽ có cuộc gặp mặt với đại diện các cộng đồng Hồi Giáo và Do Thái Giáo mà với họ nhiều tiến bộ lớn lao đă thực hiện được trong đối thoại và trao đổi văn hóa. Một cách đặc biệt, Cha xin nồng nhiệt chào mừng người Công Giáo trong vùng và xin chúng con cùng cha cầu nguyện cho cuộc viếng thăm này mang lại nhiều hoa trái cho cuộc sống thiêng liêng và dân chính của mọi người đang sinh sống tại Đất Thánh. Mọi người chúng ta hăy ngợi khen Chúa đă ban cho sự tốt lành này. Ước chi mọi người chúng ta trở thành người của ḥa b́nh. Cầu chúc mọi người chúng ta kiên vững trong ước vọng và cố gắng ḥa b́nh”. Muốn hiểu chuyến tông du của Đức GH, phải quay về với Thánh Kinh George Weigel, trên Newsweek số ngày 6 tháng Năm, cho rằng dù Ṭa Thánh muốn nói sao th́ nói về chuyến tông du sắp tới của Đức Giáo Hoàng, các nhà lănh đạo chính trị trong vùng ngài sắp viếng thăm không thể nào không nhằm mục tiêu chính trị. Nhà lănh đoạ chính trị nào th́ cũng thế thôi. Họ có thể bất cần Ban Ki-moon (Tổng thư kư LHQ) nghĩ về họ ra sao, nhưng ngay những lănh tụ như Kim Jong Il (Bắc Hàn) và Mahmoud Ahmadinejad (Iran) cũng hy vọng Đức Giáo Hoàng sẽ xếp họ vào hàng ngũ thiên thần. Bởi thế mà trong mấy ngày qua, đủ mọi chính kiến đă được nêu ra, đến quên cả sự kiện hết sức bản thân của cuộc viếng thăm này: nó là cuộc hành hương của một con người Thánh Kinh tới lănh thổ Thánh Kinh. Muốn hiểu cuộc hành hương này phải khởi đi từ gốc ngọn thực sự trong tư duy của Đức Bênêđíctô XVI, tức Thánh Kinh. Dù nhiều người ngày nay hay khoác cho tư duy thần học của ngài nhăn hiệu “bảo thủ”, nhưng lúc c̣n là một đại chủng sinh và là sinh viên tiến sĩ thời Tây Đức hậu chiến, Joseph Ratzinger đă là một nhà canh tân thần học rồi. Bởi từ lúc ấy, người sinh viên này đă biết nhấn mạnh tới việc thần học phải bắt đầu với Thánh Kinh và phải trở về với Thánh Kinh như điểm tham chiếu chủ chốt. Nhận ra thứ luận lư lạnh lùng của nền thần học lúc ấy đầy buồn tẻ và phi nhân, Ratzinger bị lôi cuốn vào phương thức thần học của những con người sống vào thiên niên kỷ đầu hết mà người ta thường gọi là “Giáo Phụ”: những nhà trí thức và mục tử vĩ đại như Ambrose, Augustine, John Chrysostom, Basil, Gregory Nazianzen, Gregory thành Nyssa và Ephrem người Syrian. Đối với các vị này, thần học chẳng là ǵ khác ngoài việc giải thích Thánh Kinh. Người sinh viên trẻ tuổi Joseph Ratzinger nghĩ rằng trở về với Thánh Kinh và Giáo Phụ là tái năng lực hóa thần học sau những thảm họa của nửa phần đầu thế kỷ 20. Ngài đă hiến hơn nửa thế kỷ cuộc đời học giả của ḿnh cho dự án tái sinh lực hóa ấy. Thích thú một điều: phương thức căn bản của Đức Bênêđíctô đối với Thánh Kinh gần như có thể mô tả là Thệ Phản: bởi v́ đối với nhà thần học Joseph Ratzinger, Thánh Kinh “trước hết và đầu hết là lời Thiên Chúa nói với Giáo Hội”, như Cha Thomas Rausch thuộc trường Đại Học Loyola ở Marymount đă viết trong một cuốn sách mới về cái nh́n thần học của Đức Bênêđíctô. Nói cách khác, đối với Đức Bênêđíctô, Thánh Kinh không phải đơn giản chỉ là một bản văn. Thánh Kinh là một phần yếu tính trong việc Thiên Chúa đi t́m chúng ta… Điểm dị biệt giữa ngài và Thệ Phản là: ngài không giải thích Thánh Kinh một cách chiểu tự (literalist). Ngài cũng khác với những nhà thần học lớn tuổi hơn thuộc các thế hệ 1940 và 1950, v́ ngài không coi Thánh Kinh như một thư viện để người ta lục lọi mà lôi ra các điểm thần học trừu tượng. Đúng hơn, như Cha Rausch viết, các chú giải Thánh Kinh của Đức Bênêđíctô dựa trên “một nhậy cảm hết sức đồng điệu với các chủ đề và h́nh ảnh Thánh Kinh, một nhậy cảm mà ngài khám phá dễ dàng trong cả hai giao ước”. Theo chân Thánh Bonaventure, vị thánh mà ngài dành luận án tiến sĩ thứ hai để viết về, Đức Bênêđíctô nhấn mạnh rằng Thánh Kinh có cả tính bản thân lẫn tính chữ nghĩa. Hiểu một cách đúng đắn, Thánh Kinh là một cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa hằng sống và dân tộc mà Người muốn đem tới sự sống viên măn, dân tộc từng sống mấy thiên niên kỷ qua và dân tộc đang sống bây giờ. Như thế, rút gọn “Thánh Kinh” hay Lời Chúa vào duy chữ nghĩa mà thôi là làm nó mất hết chiều kích bản thân mà tự thân vốn mang tính nhân và thần. Xác tín về chiều kích bản thân của Thánh Kinh ấy là trọng điểm trong cái hiểu của Ratzinger về phương pháp nghiên cứu Thánh Kinh hiện đại thường gọi là “phương pháp phê b́nh sử học” (historical-critical method). Đức Bênêđíctô không cực đoan hay duy chiểu tự. Ngài sẵn sàng để cho những điều các học giả t́m ṭi được liên quan tới nguồn gốc và sự biến hóa của bản văn Thánh Kinh lên khuôn cho cách đọc Thánh Kinh của ngài. Điều ngài không chấp nhận là rút gọn Thánh Kinh vào các mẫu mực khảo cổ. Theo Đức Bênêđíctô, khoa phê b́nh lịch sử về Thánh Kinh có thể cho ta biết nhiều điều, nhưng nó không thể cho ta biết bản văn ấy có nghĩa ǵ đối với chúng ta hiện nay. Cuộc gặp gỡ thâm hậu của nhà thần học Ratzinger với Thánh Kinh Hybálai và Tân Ước Kitô Giáo trong hơn nửa thế kỷ qua giúp ngài vừa hết sức tôn kính Thánh Kinh vừa hết dạ tôn kính Do Thái Giáo sống động, một dạ tôn kính có cơ sở thần học. Ḷng tôn kính này là căn bản chắc chắc nhất cho t́nh thân hữu chân chính và ḷng tôn trọng lẫn nhau. Đức Bênêđíctô biết rằng Thánh Kinh Hybálai hết sức yếu tính đối với Kitô Giáo. Như có lần ngài viết: “Tân Ước không phải là một sách khác của một tôn giáo khác, một sách mà v́ lư do này hay lư do nọ đă nhận vơ Sách Thánh của người Do Thái làm một thứ cấu trúc mào đầu của ḿnh. Tân Ước không là ǵ khác hơn là lời giải thích ‘Lề Luật, các Tiên Tri và Lời Dạy’ t́m thấy hay chứa đựng trong truyện kể về Chúa Giêsu” Sau cùng, cũng có thể gọi Đức Bênêđíctô là một nhà dân túy về Thánh Kinh (biblical populist). Vốn là người từng góp phần soạn ra Hiến Chế Mạc Khải của Công Đồng Vatican II, nhà thần học Joseph Ratzinger muốn phục hồi Thánh Kinh cho dân Giáo Hội, để Thánh Kinh ấy, một lần nữa, trở thành nguồn suối cho lời kinh và cái hiểu của Kitô hữu. Một trong những điểm ngài hết sức chỉ trích những người quá thổi phồng phương thức phê b́nh lịch sử là họ đă lấy Thánh Kinh ra khỏi dân Giáo Hội, bằng cách dạy các tín hữu b́nh thường rằng cái bản văn cổ xưa hết sức phức tạp này chỉ dành cho các chuyên viên thành thạo đọc mà thôi. Weigel cho rằng trong chuyến tông du tới Đất Thánh lần này, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI sẽ nói và làm nhiều chuyện. Những chuyện ấy sẽ được sàng sẩy qua cái lọc của truyền thông và được mô sẻ qua mọi sắc thái chính trị. Nhưng bên dưới những chuyện ngài nói và làm ấy, sẽ là ḷng tôn kính sâu xa của ngài đối với Thánh Kinh. Ngài hoàn toàn xác tín rằng những sách cổ xưa ấy nói lên các lời chân lư và ánh sáng cho thời đại ta. Ngài sẽ nói điều ấy, dưới nhiều h́nh thức khác nhau của cùng một chủ đề vĩ đại. Hăy chờ xem ai là người biết lắng nghe. Tầm quan trọng lịch sử của chuyến tông du Đất Thánh
Tại Giođăng, Đức Giáo Hoàng nói ḥa b́nh
Tin Reuters ngày 8 tháng Năm, từ Amman, cho hay: Đức Giáo Hoàng bắt đầu chuyến đi khá tế nhị tới Trung Đông vào hôm Thứ Sáu bằng cách tỏ ḷng “tôn kính sâu xa” đối với Hồi Giáo và cho hay: Giáo Hội Công Giáo sẽ làm mọi điều có thể làm được để góp phần vào diễn tŕnh ḥa b́nh đang bị ngưng đọng trong vùng. Khởi đầu chặng thứ nhất của một chuyến đi sẽ bao gồm Do Thái và các Lănh Thổ Palestine, ngài cũng kêu gọi một cuộc đối thoại ba chiều giữa Kitô Giáo, Hồi Giáo và Do Thái Giáo để hỗ trợ ḥa b́nh. Ngài nói với các phóng viên báo chí trên chuyến máy bay chở ngài tới Giođăng rằng: “Chắc chắn tôi sẽ cố gắng đóng góp cho ḥa b́nh, không với tư cách cá nhân mà với tư cách nhân danh Giáo Hội Công Giáo, nhân danh Ṭa Thánh. Chúng tôi không phải là một thế lực chính trị nhưng là một sức mạnh tâm linh và sức mạnh tâm linh này là một thực tế có thể góp phần tạo tiến bộ cho diễn tŕnh ḥa b́nh”. Ṭa Thánh có liên hệ ngoại giao đầy đủ với hầu hết các quốc gia tại Trung Đông và có thoả hiệp ngoại giao với Thẩm Quyền Palestine. Đức Giáo Hoàng nói thêm: “Là tín hữu, chúng tôi xác tín rằng cầu nguyện là một sức mạnh thật sự, nó mở cửa thế giới cho Thiên Chúa. Chúng tôi xác tín rằng Thiên Chúa đang lắng nghe và có thể tác động trên lịch sử và tôi nghĩ rằng nếu hàng triệu tín hữu biết cầu nguyện, th́ đó là một sức mạnh có ảnh hưởng và có thể đóng góp vào việc thăng tiến ḥa b́nh”. Ngài cũng nói với các nhà báo rằng các cố gắng ḥa b́nh thường bị ngăn chặn bởi quyền lợi phe phái, do đó Giáo Hội có thể “góp phần làm cho quan điểm hữu lư triển nở” v́ Giáo Hội muốn mời gọi cả người Do Thái Giáo lẫn người Hồi Giáo dấn thân vào một cuộc đối thoại cho ḥa b́nh đặt căn bản trên đức tin. Ngài bảo: “Cuộc đối thoại ba chiều phải tiến lên phía trước. Nó rất quan trọng đối với ḥa b́nh, và c̣n cho phép mỗi người sống tốt niềm tin của ḿnh”. Vị giáo hoàng 82 tuổi này tỏ ra thận trọng trong việc tránh né các ngôn từ chính trị lộ liễu, ngay ở giai đoạn đầu tiên trong chuyến công du tới vùng này. Thay vào đó, ngài nhấn mạnh tới tiềm năng của tôn giáo trong việc giải quyết tranh chấp. Cuộc tông du của Đức Bênêđíctô xẩy ra trong dư vị bài diễn văn năm 2006 tại Regensburg, trong đó ngài trích dẫn nhận xét của một vị hoàng đế Byzantine cho rằng Hồi Giáo ưa bạo lực và phi lư. Bài diễn văn đó hiện vẫn c̣n làm một số thành phần Hồi Giáo bất b́nh và các lănh tụ của Phong Trào Duy Hồi Giáo tại Giođăng từng lên tiếng phản đối cuộc viếng thăm nếu ngài không chịu xin lỗi trước. Ṭa Thánh cũng như Đức Giáo Hoàng minh xác nhiều lần rằng ngài không ủng hộ nhận định của vị hoàng đế kia. Nay là lúc không cần phải nhắc tới biến cố ấy nữa. “Cuộc viếng thăm Giođăng cho tôi cơ hội thuận tiện để nói lên ḷng tôn kính sâu xa của tôi đối với cộng đồng Hồi Giáo”, đó là lời Đức Bênêđíctô nói trong bài diễn văn tại phi trường Amman. Ngài cũng ca ngợi Vua Abdullah II đă tận t́nh “cổ vũ một cái hiểu tốt hơn về các nhân đức được Hồi Giáo truyền dạy”. Nhà vua nói chính trị Tuy nhiên, Vua Abdullah II, người nồng nhiệt nghênh đón Đức Giáo Hoàng tại phi trường Amman, đă không tránh né các vấn đề chính trị đặc thù của vùng này và đă cho Đức Giáo Hoàng nếm thử các khó khăn mà ngài sẽ thấy ở chặng kế tiếp của chuyến đi, lúc tới Do Thái. Nhà Vua lên tiếng kêu gọi giải pháp hai nhà nước cho cuộc xung đột Do Thái và Palestine. Ông cho rằng: “Các giá trị chung chia của chúng ta có thể góp phần quan trọng tại Đất Thánh, nơi, chúng ta phải cùng nhau cất bỏ cái bóng của tranh chấp”. Theo tờ tuần báo Anh, the Tablet, trước ngày đức Giáo Hoàng tới Gio-đăng, Vua Abdullah II nói với hăng truyền h́nh RAI của Ư rằng: ông hy vọng cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng sẽ làm gia tốc các cố gắng nhằm đạt ḥa b́nh cho Trung Đông. Ông bảo: “Cuộc viếng thăm này rất đúng lúc”. Ông cũng nói với nhật báo Corriere della Sera của Milan rằng: "các lời ngài nói sẽ là một kích thích nhằm vào tất cả chúng ta, thúc đẩy chúng ta tiến nhanh hơn tới ḥa b́nh”. Theo tờ The New Straits Time, tại buổi nghênh đón Đức Giáo Hoàng, nhà vua nhấn mạnh tới “tầm quan trọng của việc chung sống và sự hoà hợp giữa người Hồi Giáo và người Kitô Giáo” và cảnh giác rằng “những giọng nói khiêu khích, các ư thức hệ hàm hồ gây chia rẽ, chỉ đe dọa đem đến những thống khổ khôn tả mà thôi… Chúng tôi hoan nghênh cam kết của ngài trong việc loại trừ các quan điểm lầm lạc và gây chia rẽ từng mang họa lại cho các mối liên hệ giữa người Kitô Giáo và người Hồi Giáo… Tôi hy vọng rằng cùng nhau chúng ta sẽ mở rộng cuộc đối thoại mà chúng ta đă mở ra”. Về phía Do Thái, từ ngày tuyên thệ làm người đứng đầu tân chính phủ cánh hữu vào ngày 31 tháng Ba đến nay, Thủ Tướng Benjamin Netanyahu chưa bao giờ đặc thù thảo luận tới việc thiết lập một nhà nước Palestine tại West Bank và Giải Gaza, vốn được Mỹ và khối Ả Rập coi là ưu tiên. Tại cuộc họp của Uỷ Ban Các Vấn Đề Công Cộng Mỹ Do Thái (American Israel Public Affairs Committee [Aipac]) tại Hoa Thịnh Đốn vừa qua, Netanyahu cho hay ḥa b́nh với thế giới Ả Rập là một ưu tiên đối với ông: “Chúng tôi muốn ḥa b́nh với thế giới Ả Rập, nhưng chúng tôi cũng muốn ḥa b́nh với người Palestine.Tôi tin rằng việc ấy có thể thực hiện được, nhưng tôi nghĩ việc ấy đ̣i một phương thức mới hẳn”. Trong bối cảnh ấy, bất cứ Đức Giáo Hoàng nói điều ǵ về chủ đề này đều sẽ có tiếng vang khắp vùng, nhất là lúc ngài tới thăm trại tị nạn của người Palestine, không xa hàng rào mà Do Thái đă và đang xây cất gần Bêlem trong lănh thổ West Bank hiện đang bị Do Thái chiếm đóng. Đức Tổng Giám Mục Michel Sabbah, thượng phụ về hưu của Giêrusalem và là một người Palestine, nói rằng: “Tôi tin Đức Giáo Hoàng sẽ đem tới một sứ điệp nói lên nỗi đau khổ của người Palestine dưới sự chiếm đóng của Do Thái”. Tại phi trường Amman, Đức Tổng Giám Mục Sabbah nói với thông tín viên của Reuters rằng: “Tôi nghĩ ngài sẽ gửi một thông điệp nói lên nỗi bất công từng giáng xuống người Palestine, bất kể họ là Kitô hữu hay người Hồi Giáo”. Ưu tiên thăm người khuyết tật Đúng như chương tŕnh, Vua Abdullah II đă thân hành ra tận máy bay để cùng hoàng hậu Rania nghênh đón Đức Giáo Hoàng lúc ngài đáp xuống phi trường Amman. Cũng theo chương tŕnh, hai vị sẽ c̣n gặp nhau vào buổi chiều tại hoàng cung để thảo luận. Tuy nhiên, ưu tiên hàng đầu của Đức Giáo Hoàng là tới thăm trung tâm dành cho người khuyết tật tại giáo xứ Regina Pacis (Nữ Vương Ḥa B́nh). Theo tin Catholic News Service, trung tâm trên do Giáo Hội Công Giáo sở hữu và điều hành, nhằm chăm sóc sức khỏe và khôi phục cho hơn 600 người Giođăng khuyết tật về thể lư và tinh thần. Tại đây, ngài xúc động đề cập tới việc biến khổ đau thành có ư nghĩa và các cố gắng của Giáo Hội nhằm trợ giúp người khuyết tật. Việc ngài tới thăm trung tâm này cũng nói lên quan tâm của Giáo Hội đối với những người bệnh hoạn. Tại Giođăng, người ta ước lượng có tới 10% người trẻ dưới tuổi 19 mang khuyết tật trầm trọng. Trung tâm điều trị hết sức tối tân này được điều hành bởi ba nữ tu thuộc Ḍng Truyền Giáo Comboni và một nhóm giáo viên, điều trị viên và thiện nguyện viên để giáo dục và chăm sóc miễn phí cho những người Hồi Giáo và Kitô Giáo tàn tật. Đức Giáo Hoàng đến trung tâm giữa tiếng reo ḥ của đám đông. Ngài len lỏi vào giữa hàng ngũ tín hữu, trong khi ban nhạc Giođăng thổi gerpe, một loại kèn ống của họ, và đánh tabla (trống đánh bằng tay). Trong bài huấn dụ, ngài nhận rằng đôi khi thật “khó t́m được lư lẽ giải thích điều xem ra chỉ là một trở ngại phải vượt qua hay đơn giản chỉ là đau khổ phải hứng chịu, đau khổ thể lư hay đau khổ xúc cảm”. Ngài cho rằng: đức tin vào Thiên Chúa và t́nh yêu vô điều kiện của Người đem lại tầm nh́n cần thiết, và cầu nguyện có thể giúp ta chữa lành các vết thương tâm linh và xúc cảm. Ngài vui cười nói với đám đông tại trung tâm: “Các bạn thân mến, không giống người hành hương thuở xưa, tôi tới đây chẳng mang theo quà cáp hay lễ dâng ǵ cả. Tôi chỉ đến với một chủ đích, một niềm hy vọng: là cầu nguyện cho hồng phúc hợp nhất và ḥa b́nh đầy qúy giá, nhất là hợp nhất và ḥa b́nh cho Trung Đông”. Phản ứng của người Hồi Giáo Vào sáng hôm nay, ngài cũng sẽ đọc diễn văn trước các nhà lănh đạo Hồi Giáo và ngoại giao đoàn sau khi viếng Đền Thờ Hồi Giáo Al-Hussein Mosque. Các học giả Hồi Giáo coi cuộc viếng thăm Đền Thờ này là một dấu hiệu thiện chí. Basma Dajani, một giáo sư dạy tiếng Ả Rập tại Đại Học Giođăng cho hay: “chúng tôi hoan nghênh cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng tại nơi thánh ấy. Chúng tôi hy vọng cuộc viếng thăm này không chỉ nhằm gây tác động hỗ tương về tôn giáo, mà c̣n là cơ hội cho sự hợp tác văn hóa giữa người Ả Rập và người Phương Tây”. Hamdi Murad, một học giả Hồi Giáo và là thành viên của Trung Tâm Nghiên Cứu Chung Sống Liên Tín Ngưỡng Giođăng cho hay: “Trong tư cách một quốc gia Hồi Giáo, chúng tôi hoan nghênh Đức Giáo Hoàng. Cuộc thăm viếng của ngài thật tích cực… và giúp xua đuổi mọi hiểu lầm giữa Vatican và thế giới Ả Rập”. Lớn mạnh, góp phần xây dựng Trung Đông Trước khi rời Gio-đăng qua Do Thái, Đức Giáo Hoàng sẽ làm phép viên đá đầu tiên xây dựng ít nhất ba cấu trúc Công Giáo: một đại học tân lập tại Madaba, cách Amman 20 dặm, và hai nhà thờ tại Bethany-quá-bên-kia-Giođăng gần địa điểm người ta tin Chúa Giêsu xưa kia đă được Thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho. Giám đốc báo chí của Ṭa Thánh là Cha Federico Lombardi cho biết: khi làm phép các viên đá đầu tiên nói trên, Đức Giáo Hoàng hy vọng cộng đồng Kitô hữu nhỏ bé của nước này tiếp tục ở lại và lớn mạnh, góp phần vào sự phồn vinh của đất nước. Marie-Ange Siebrecht, một nhân viên thuộc tổ chức “Trợ Giúp Các Giáo Hội Túng Thiếu”, vừa từ Trung Đông trở về Đức, mô tả điều kiện sống hết sức khó khăn của các Kitô hữu tại vùng này. Theo cô, người Kitô hữu tại Galilê chẳng hạn, tuy có được những điều kiện sống tốt hơn người Palestine tại West Bank, nhưng đối với Do Thái, họ vẫn bị coi là công dân bậc nh́, nghĩa là không được đủ tự do như các công dân Do Thái khác, như không được tự do du hành như các công dân kia. Dù thế, vẫn có chừng 73,000 người Công Giáo tại Galilê, một con số không nhỏ. Cô cho hay khu vực quanh Bêlem thuộc West Bank có nhiều vấn đề tồi tệ nhất. Ở đấy, người ta như sống trong một nhà tù, v́ bức tường phân cách kia, họ không thể tới lui được chi cả. Vấn đề càng trở nên khó khăn hơn cho các cặp vợ chồng Kitô giáo c̣n trẻ. Cô trưng trường hợp người chồng trẻ được cấp giấy đi Giêrusalem làm việc, nhưng người vợ của anh th́ không được phép rời Bêlem để cùng đi và sống với anh… Cô kêu gọi Kitô hữu hăy tới Đất Thánh không phải chỉ để thăm những nơi thánh mà c̣n thăm những ‘viên đá sống’ v́ những người Kitô hữu này rất vui khi thấy anh chị em Kitô hữu tới lui gần gũi với ḿnh. Đó chính là điều Đức Thánh Cha đang làm. Ngài đến nói với những viên đá sống này rằng: nay quả là một thời kỳ hết sức khó khăn đối với họ, nhưng cũng là thời điểm của hy vọng, thời điểm của “một bắt đầu mới và một cố gắng mới tiến tới ḥa b́nh”. Ngài cho họ hay: họ là thành tố quan trọng trong sinh hoạt của các quốc gia tại trung Đông, và Giáo Hội muốn khích lệ họ hăy “can đảm, khiêm nhường và nhẫn nại để tiếp tục ở lại trong nước” và đóng góp cho xă hội, đặc biệt qua hệ thống học đường và bệnh viện của ḿnh. Nhất là các học đường, những định chế này sẽ giúp đưa người Kitô Giáo và người Hồi Giáo t́m về với nhau. Tự do tôn giáo Trong đáp từ của ngài tại phi trường Amman, Đức Giáo Hoàng nói rằng các công tŕnh xây dựng trên c̣n làm chứng cho sự tự do tôn giáo của Gio-đăng. Và ngài hy vọng sự tự do ấy được quảng bá khắp vùng. Theo ngài, tự do tôn giáo là một quyền căn bản, “và tôi hết sức hy vọng và cầu nguyện để việc tôn trọng các quyền và phẩm giá bất khả nhượng của mọi con người, bất kể nam hay nữ, được khẳng nhận và bênh vực mỗi ngày một hơn, không phải chỉ ở Trung Đông, mà c̣n ở mọi vùng trên thế giới”. Theo tin của Catholic News Service, Đức Thánh Cha nhân dịp này cũng ca ngợi các nhà lănh đạo Giođăng trong việc ủng hộ các cố gắng t́m ra giải pháp công bằng cho cuộc xung đột Do Thái và Palestine. Cuối tháng Tư vừa qua, Vua Abdullah II từng gặp Tổng Thống Barack Obama và thúc giục ông này có những động thái cương quyết cho ḥa b́nh giữa Do Thái và Palestine, bằng cách cảnh cáo rằng một cuộc chiến tranh Trung Đông mới sẽ bùng nổ nếu không có tiến triển thật sự nào trong 18 tháng tới. Nhà Vua cũng mới gặp Tổng Thống Ai Cập là Hosni Mubarak để cố gắng tái phát động các cuộc thương thảo nghiêm chỉnh về ḥa b́nh giữa người Palestine và người Do Thái, đặt căn bản trên giải pháp hai quốc gia. Đức Giáo Hoàng cũng ghi nhận việc Giođăng tiếp nhận người tị nạn từ Iraq. Con số người tị nạn này lên đến 700,000 người, trong đó có 70,000 người là Kitô hữu. Một số Kitô hữu này cũng đă tham dự các buổi nghênh đón Đức Giáo Hoàng tại Giođăng. Thù tiếp của Giođăng Báo chí tường thuật rằng theo truyền thống Đức Giáo Hoàng không ăn uống với các vị nguyên thủ quốc gia, nên tại Giođăng, dù được quốc vương, hoàng hậu và hoàng gia đón tiếp nồng hậu, ngài vẫn không dự yến tiệc chi tại hoàng cung cả. Phần lớn các bữa ăn của ngài diễn ra tại Ṭa Đại Sứ của Vatican ở Amman, do các đầu bếp thượng thặng trông coi. Thực đơn đă được gửi trước cho Vatican và các đầu bếp được dặn ḍ cẩn thận là Đức Giáo Hoàng không dùng nấm và đồ biển. Giođăng đă dành cả hai tháng chuẩn bị cho chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng. Biển ngữ chào đón ngài được chăng khắp các phố, có biển ngữ viết rằng: “Hăy đứng sau quốc vương để nghênh đón Đức Giáo Hoàng trong suốt cuộc hành hương của ngài. Hỡi người Hồi Giáo và Kitô Giáo”. Sở bưu điện Giođăng cũng sẽ phát hành các tem thư đặc biệt trong những ngày tới để đánh dấu cuộc viếng thăm này, nhưng các viên chức không cho biết thêm tin tức ǵ về h́nh thù các tem thư này. Chuyến đi của Đức Bênêđíctô phản ảnh chuyến đi lịch sử năm 2000 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người được cả người Do Thái Giáo lẫn người Hồi Giáo ca ngợi như nhau. Phản ứng tốt đẹp vào ngày đầu cuộc viếng thăm cho người ta hy vọng Đức Bênêđíctô XVI cũng sẽ gặt hái được một thành quả tương tự. Một viên chức, ông Bader, cho hay hàng ngàn chiếc nón mang cờ Giođăng và Vatican cũng như các áo thung in h́nh nhà vua và Đức Giáo Hoàng đă được phân phối tại vận động trường quốc tế tại Amman vào ngày Chúa Nhật trước Thánh Lễ Đức Giáo Hoàng cử hành tại đó. Theo tin của tờ The National, Nhà Cầm Quyền Palestine đă bằng ḷng bỏ kế hoạch tiếp đón Đức Giáo Hoàng tại một khán đài cạnh bức tường phân cách West Bank với Do Thái, mà theo Essa Qaraqie, một nhà lập pháp của Palestine, là do áp lực của Do Thái. Họ đă di chuyển địa điểm nghênh đón tới một ngôi trường của Liên Hiệp Quốc bên trong trại tị nạn. Phải chăng, đó cũng là vết rạn của sự căng thẳng cố hữu trong vùng.
Tân Môsê
Ngày 9 tháng Năm, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI tới viếng Vương Cung Thánh Đường Kỷ Niệm Môsê tại Núi Nebo, nơi, theo truyền thuyết, Chúa cho Môsê thấy Đất Hứa từ xa sau 40 năm lang thang trong hoang địa. Điều
George Weigel nhận định trên Neewsweek về chuyến đi của Đức Thánh
Cha có tính Thánh Kinh quả rất đúng. V́ chính tại đây, Đức Giáo Hoàng cho
rằng thật là thích hợp khi ngài khởi đầu cuộc tông du Đất Thánh từ ngọn
núi Nebo, nơi Môsê được ngắm nh́n Đất Hứa từ xa, vào lúc cuối cuộc hành
tŕnh trần gian của ông. Điều này nhắc ta nhớ rằng cả chúng ta nữa, chúng
ta cũng đang tham dự cuộc hành hương muôn thuở của dân Chúa qua ḍng lịch
sử. Ngài mong ước rằng cuộc gặp gỡ hôm nay tại đỉnh núi này sẽ gợi hứng để
ta đổi mới ḷng yêu mến đối với qui điển Thánh Kinh. Cha
José Rodrígez Carballo, Tổng Thừa Tác Các Tu Sĩ Phanxicô đang sống tại Đất
Thánh, người nghênh đón Đức Thánh Cha tại đây, thưa với ngài như sau: “Đức
Thánh Cha không đơn độc trong cuộc hành tŕnh này. Chúng con muốn được
tháp tùng Đức Thánh Cha, hay đúng hơn, được theo chân ngài, như dân Do
Thái xưa từng theo chân Môsê và được ông hướng dẫn. Ngày nay, chúng con
vẫn cảm thấy ḿnh như đang lang thang trong sa mạc và chúng con đang cần
một ai đó dẫn dắt chúng con tới Chúa, một ai đó giúp chúng con biết Người
như là người Cha đầy quan pḥng và xót thương, như chính Chúa Giêsu Kitô
đă mạc khải cho chúng ta. Thưa Đức Thánh Cha, chúng con phó thác chúng con
cho Đức Thánh Cha trong cuộc hành tŕnh này”.Bồi đắp tiềm năng của lư trí nhân bản Từ núi Nebo, Đức Thánh Cha tới Madaba gần đó để làm phép viên đá đầu tiên cho một đại học tân lập do Ṭa Thượng Phụ Latinh tại Giêrusalem xây cất. Sau đó, ngài đi thăm Đền Thờ Hồi Giáo Hussein bin Talal và Viện Bảo Tàng Hashemite kế bên. Trong một bài diễn văn tiếp đó với các nhà lănh đạo Hồi Giáo, ngài nhấn mạnh đến việc sử dụng lư trí nhân bản làm cơ sở chung cho việc hợp tác giữa người Hồi Giáo và người Kitô Giáo. Ngài nói: “Thưa qúi bạn, hôm nay tôi muốn nhắc tới một trách vụ mà tôi từng đề cập tới nhiều lần và là trách vụ tôi tin chắc cả người Kitô hữu lẫn người Hồi Giáo đều có thể theo đuổi, nhất là trong các đóng góp liên hệ của họ đối với học thuật và việc nghiên cứu bác học, cũng như công vụ. Trách vụ đó chính là thách đố phải bồi đắp tiềm năng rộng lớn của lư trí nhân bản để phục vụ sự thiện, trong bối cảnh đức tin và chân lư”. Ngài giải thích thêm: “quả thật, người Kitô hữu mô tả Thiên Chúa nhiều cách, nhưng một trong các cách đó là mô tả Người như một Lư Trí sáng tạo, một lư trí biết xếp sắp và huớng dẫn thế giới. Và Người phú bẩm cho chúng ta khả năng tham dự vào lư trí của Người và nhờ thế, có thể hành động phù hợp với điều thiện. Người Hồi Giáo thờ phượng Thiên Chúa, Đấng dựng nên trời và đất, Đấng đă lên tiếng với nhân loại. Và trong tư cách những người tin vào một Thiên Chúa duy nhất, chúng ta biết rằng lư trí nhân bản chính là quà phúc của Thiên Chúa. Quà phúc ấy vươn tới b́nh diện cao nhất khi nó thấm nhiễm ánh sáng chân lư của Người. Thực vậy, khi lư trí con người chịu khiêm hạ để đức tin thanh lọc ḿnh, nó không thể nào ra suy yếu được; trái lại, sẽ trở nên vững mạnh để chống trả mọi kiêu căng và vươn cao hơn chính các giới hạn của ḿnh”. Bằng cách đó, lư trí con người sẽ theo đuổi việc phục vụ nhân loại, “nói lên các khát vọng chung sâu xa nhất của chúng ta và mở rộng ra măi, chứ không thao túng hay giam hăm cuộc tranh luận công cộng” Đóng góp của tôn giáo Đức Bênêđíctô XVI quả quyết rằng theo một tôn giáo cách đó “thay v́ làm tâm trí ta ra nhỏ hẹp, nó sẽ mở rộng chân trời hiểu biết của con người”. Ngài c̣n cho rằng: “Nó sẽ bảo vệ xă hội dân sự khỏi những thái quá của cái tôi bất trị vốn có khuynh hướng tuyệt đối hóa cái hữu hạn và che bớt cái vô hạn; nó bảo đảm rằng tự do phải được thực thi song song với chân lư, và nó làm đẹp nền văn hóa bằng những thông tuệ liên quan tới bất cứ cái chân, cái thiện và cái mỹ nào” Đức Giáo Hoàng nói thêm: Một cái hiểu như thế về lư trí đặt ra một thách đố lớn cho cả người Kitô Giáo lẫn người Hồi Giáo, và ngài thúc giục họ bỏ qua một bên các ư thích đặc thù để “trân quí cái khoái cảm sâu sắc của việc phục vụ ích chung, dù bản thân có mất mát”. Để kết luận, Đức Giáo Hoàng nói rằng: “chúng ta nên nhớ rằng v́ nhân phẩm chung của chúng ta đă phát sinh ra các nhân quyền phổ quát, nên các nhân quyền này có giá trị ngang nhau đối với mọi người, bất kể là đàn ông hay đàn bà, bất kể họ thuộc nhóm tôn giáo, xă hội hay sắc tộc nào. Về phương diện này, chúng ta cần ghi nhận rằng quyền tự do tôn giáo vượt quá vấn đề thờ phượng và phải bao gồm cả quyền được gia nhập một cách công bằng thị trường nhân dụng và các lănh vực khác của đời sống dân chính”. Tôn giáo có thể bị hủ hóa Tại buổi lễ đặt viên đá đầu tiên cho đại học tân lập tại Madaba của Ṭa Thượng Phụ Latinh tại Giêrusalem, Đức Giáo Hoàng nói rằng: “Dĩ nhiên, tôn giáo, giống như khoa học và kỹ thuật, triết học và mọi phát biểu khác trong cuộc t́m kiếm chân lư của chúng ta, có thể bị hủ hóa. Tôn giáo sẽ mất hết h́nh tượng khi bị buộc phải phục vụ sự ngu dốt hay thiên kiến, khinh miệt, bạo lực hay lạm dụng”. Ngài cho biết khi điều trên xẩy ra, không những nó là một hủ hóa tôn giáo, mà c̣n là một hủ hóa chính tự do con người nữa, một “việc biến tâm trí thành hẹp ḥi và mù quáng”. Tuy nhiên, theo Đức Giáo Hoàng, “một hậu quả như thế không phải là điều không thể tránh được. Thực vậy, khi chúng ta chịu cổ vũ giáo dục, là chúng ta tuyên xưng ḷng tín nhiệm của chúng ta đối với quà phúc tự do. Trái tim con người có thể ra chai đá do các giới hạn của môi trường, của tư lợi và đam mê. Nhưng mọi người cũng được kêu gọi tiến tới khôn ngoan và chính trực, tới việc biết chọn lựa một cách căn bản và hết sức quan trọng sự thiện thay v́ sự ác, chân lư thay v́ bất trung thực, và có thể được trợ giúp trong trách vụ này”. Những người thờ phượng trung thành Sau đó, tại đền thờ Hồi Giáo chính thức của Giođăng, ngôi đền thứ hai được ngài thăm viếng từ ngày lên ngôi giáo hoàng, sau ngôi đền tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, Đức Giáo Hoàng lại một lần nữa lên tiếng bênh vực tôn giáo đích thực. Ngài cho hay: một điều khiến ta phải lo âu đó là việc càng ngày càng có nhiều người nằng nặc cho rằng tôn giáo không c̣n là “người xây dựng hợp nhất và hoà hợp nữa, không c̣n là biểu thức hiệp thông giữa con người và Thiên Chúa nữa. Thực thế, một số người c̣n dám quả quyết rằng tôn giáo nhất thiết là nguyên nhân gây chia rẽ trong thế giới chúng ta; và do đó, họ biện luận rằng càng ít quan tâm tới tôn giáo trong lănh vực công càng hay”. Nhưng dù nh́n nhận hiện đang có “những mâu thuẫn gây căng thẳng và chia rẽ giữa tín đồ các truyền thống tôn giáo khác nhau”, Đức Giáo Hoàng vẫn cho rằng “Phải chăng cũng có trường hợp chính sự thao túng có tính ư thức hệ đối với tôn giáo, đôi khi v́ những mục tiêu chính trị, mới thực là chất xúc tác của căng thẳng và chia rẽ, và đôi lúc của bạo lực trong xă hội?” Đức Giáo Hoàng nói thêm: “Đối diện với t́nh huống trên, một t́nh huống trong đó các kẻ thù của tôn giáo không hẳn chỉ t́m cách giập tắt tiếng nói của tôn giáo mà c̣n thay thế tiếng nói đó bằng chính tiếng nói của họ nữa, th́ các tín hữu cần phải cảm nhận sâu sắc sự trung thực đối với các nguyên tắc và niềm tin của ḿnh. Ngày nay, người Hồi Giáo và người Kitô Giáo, chính v́ sức nặng của lịch sử chung, dù đôi khi bị hoen ố bởi hiểu lầm, phải cố gắng làm sao cho người ta thấy và nh́n nhận ḿnh là những người thờ phượng Thiên Chúa luôn trung thành với việc cầu nguyện, hăng say tuân giữ và sống theo lệnh truyền của Đấng Toàn Năng, nhân từ và xót thương, nhất quán trong việc làm chứng cho mọi điều chân và thiện, và luôn chú tâm tới nguồn cội và phẩm giá chung của mọi con người nhân bản, những chủ thể luôn đứng ở đỉnh cao trong kế sách sáng tạo của Thiên Chúa dành cho thế giới và lịch sử”. Người Hồi Giáo biết ơn Hoàng tử Ghazi Bin Talal cám ơn Đức Thánh Cha đă tới thăm đền thờ Hồi Giáo: “Nghĩa cử này càng đáng ghi nhớ v́ sự kiện cuộc viếng thăm Giođăng lần này của ngài chủ yếu là một cuộc hành hương thiêng liêng tới Đất Thánh Kitô Giáo, và đặc biệt tới địa điểm Chúa Giêsu Kitô chịu phép rửa. […]Ấy thế nhưng ngài vẫn dành th́ giờ trong thời khóa biểu dày đặc và nhiều mệt mỏi của ngài, quả là mệt mỏi đối với một người cỡ tuổi ngài, đến viếng đền thờ Vua Hussein, để tôn vinh người Hồi Giáo”. Hoàng tử này vốn là người soạn thảo thông điệp “Lời Chung” của 138 học giả Hồi Giáo công bố để trả lời vụ bất ổn do hiểu lầm gây ra nhân bài diễn văn năm 2006 của Đức Thánh Cha tại Regensburg. Đối với các hiểu lầm ấy, vị hoàng tử Giođăng này quả quyết rằng người Hồi Giáo có trách nhiệm phải giải thích gương sáng của Mohammed, “trên hết bằng những việc làm của đức hạnh, bác ái, ḷng đạo đức và thiện chí”. Và ông lấy Giođăng làm điển h́nh cho việc người thuộc các tôn giáo khác nhau có thể chung sống ḥa b́nh với nhau. Ông đặc biệt nhấn mạnh tới vai tṛ của người Kitô Giáo tại Giođăng, bởi theo ông, họ “không những luôn bảo vệ Giođăng mà c̣n không biết mệt mỏi và hết dạ yêu nước góp phần vào việc xây dựng Giođăng, đảm nhiệm những vai tṛ hàng đầu trong lănh vực giáo dục, y tế, thương măi, du lịch, canh nông, khoa học, văn hóa và nhiều lănh vực khác. Bởi thế, tất cả những điều này nói lên rằng trong khi ngài tin rằng họ là những Kitô hữu đồng đạo của ngài, nhưng chúng tôi, chúng tôi biết rằng họ là đồng bào Giođăng của chúng tôi. Họ là một phần của xứ sở này cũng giống như lănh thổ vậy”. Vị hoàng tử này kết luận: “chúng tôi hy vọng rằng tinh thần ḥa hợp liên tín ngưỡng đầy tính độc đáo Giođăng này sẽ là một gương sáng cho toàn thế giới”. Bênh vực người Kitô Giáo Iraq Cuối bài diễn văn với các nhà lănh đạo Hồi Giáo, Đức Giáo Hoàng dành mấy lời đặc biệt chào mừng Đức Emmanuel III Delly, thượng phụ Baghdad. Ngài nói: “Sự hiện diện của thượng phụ khiến mọi người nhớ tới nước Iraq lân bang, mà nhiều công dân đă t́m được nơi tỵ nạn đầy niềm nở tại Giođăng này. Các cố gắng của cộng đồng quốc tế trong việc cổ vũ ḥa b́nh và hoà giải, cùng với các cố gắng của các nhà lănh đạo tại địa phương, phải được tiếp tục để mang hoa trái lại cho cuộc sống người dân Iraq”. Đức Bênêđíctô XVI ngỏ lời cám ơn đối với những ai đang góp phần “thâm hậu hóa ḷng tin tưởng lẫn nhau” và tái thiết đất nước bị chiến tranh tàn phá. Ngài nói tiếp: “Và một lần nữa, tôi khẩn khoản xin các nhà ngoại giao và cộng đồng quốc tế mà họ đại diện cùng với các nhà lănh đạo chính trị và tôn giáo tại địa phương làm mọi điều có thể làm được để đảm bảo cho cộng đồng Kitô giáo cổ xưa của mảnh đất cao quí ấy được hưởng quyền căn bản sống chung ḥa b́nh với các đồng bào của họ”. Người ta ước lượng có tới 20,000 Kitô hữu Iraq tị nạn tại Giođăng. Trân quí các truyền thống Đông Phương Chiều ngày 9 tháng Năm, Đức Giáo Hoàng đă tới đọc kinh chiều (Vespers) tại Nhà Thờ Chính Ṭa Thánh George, theo Nghi Lễ Melkite Hy Lạp, và tại đây, ngài đă nói truyện với các vị lănh đạo các giáo hội Công Giáo tại Cận Đông. Trong số các vị hiện diện, người ta thấy Đức Gregorios III Laham, Thượng Phụ Giáo Hội Melkite Hy Lạp tại Damascus, Tổng Giám Mục Hồi Hưu Georges El-Murr và Tổng GM Yasser Ayyach của Petra và Philadelphia, cà các vị lănh đạo các Giáo Hội Maronite, Syrian, Armenian, Chaldean và Latinh. Tổng giám mục Benediktos Tsikoras của Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp cũng hiện diện. Nhân dịp này, Đức Thánh Cha ngỏ lời thành thực cám ơn v́ được “dịp may cầu nguyện với qúi vị và cảm nghiệm phần nào nét phong phú trong các truyền thống phụng vụ của qúi vị”. Ngài nói thêm: “Giáo Hội là một dân lữ hành và do đó, suốt trong nhiều thế kỷ, đă được đánh dấu bằng các biến cố lịch sử có tính lên khuôn, trong đó có những thời điểm tranh chấp thần học hay những giai đoạn chèn ép lẫn nhau. Tuy nhiên, cũng có những thời điểm khác đánh dấu bằng ḥa giải, nhờ thế đă củng cố một cách tuyệt vời sự hiệp thông trong Giáo Hội. Lại cũng có những thời điểm phục hưng văn hóa phong phú, trong đó các Kitô hữu Đông Phương đóng góp một phần hết sức lớn lao”. Theo Đức Giáo Hoàng, “Các Giáo Hội đặc thù trong ḷng Giáo Hội phổ quát nói lên năng động tính trong cuộc lữ hành trần gian của Giáo Hội và biểu lộ cho mọi thành phần tín hữu thấy một kho tàng gồm nhiều truyền thống tâm linh, phụng vụ, và giáo hội học dẫn người ta tới sự tốt lành phổ quát của Chúa và thánh ư của Người, lôi kéo mọi người vào sự sống thần linh của Người”. Ngài c̣n cho hay: “kho tàng cổ xưa nhưng vẫn sống động trong các truyền thống của các Giáo Hội Đông Phương làm phong phú Giáo Hội phổ quát và sẽ không bao giờ bị hiểu lầm như chỉ là một món đồ được người ta thụ động duy tŕ. Mọi Kitô hữu đều được mời gọi đáp ứng tích cực vào lệnh truyền của Chúa là đem người khác tới chỗ nhận biết và yêu mến Người”. Để kết luận, Đức Thánh Cha bày tỏ “các cảm t́nh tôn kính lớn lao đối với toàn thể qúi vị đang quây quần cùng tôi vào buổi chiều hôm nay để cùng thờ phượng”. Ngài cũng tỏ ḷng biết ơn đối với các lời cầu nguyện của họ; ngài hứa sẽ cầu nguyện cho họ và những người hiện được trao phó cho họ chăm sóc. Hănh diện làm người Ả Rập, Giođăng và Kitô Giáo Cuộc tông du của Đức Bênêđíctô giúp người Công Giáo tại Giođăng trân quí hơn bản sắc làm “người Ảrập, Giođăng và Kitô Giáo” của họ. Đó là nhận định của Nader Twal, một hướng dẫn viên du lịch theo Kitô Giáo. Twal là một sinh viên Giođăng đă du học tại Rôma trong 7 năm và nói thạo tiếng Ư. Anh sinh tại Madaba, nơi Đức Giáo Hoàng tới làm phép viên đá đầu tiên cho một đại học tân lập sẽ được Ṭa Thượng Phụ Latinh xây cất nay mai. Anh cùng một xứ đạo với Đức Fouad Twal, Thượng Phụ Giêrusalem, và cùng tên họ với ngài. Theo anh, cuộc tông du này là một hỗ trợ rất mạnh cho người Kitô hữu tại đây. “Các Kitô hữu đang làm việc cho nền hành chánh công được phép tham dự Thánh Lễ với Đức Giáo Hoàng vào Chúa Nhật này, mặc dù ngày đó là ngày làm việc của họ. Đây là một quyết định của chính phủ nhằm cổ vũ người Kitô Giáo họp nhau lại để cùng chia sẻ. Quyết định của chính phủ này tăng cường điều chúng tôi vốn đề cập tại đây như là sống chung: ở đây, thực sự có sự tôn trọng nhau giữa người Kitô Giáo và người Hồi Giáo”. Suy tư về tầm quan trọng của chuyến tông du đối với người Kitô hữu, một thiểu số nhỏ nhoi trpng một quốc gia đại đa số là Hồi Giáo hệ Sunni, Twal cho hay: “Trong tư cách một Kitô hữu, tôi luôn luôn nói ḿnh là người Ảrập, Giođăng và Kitô Giáo. Người Kitô Giáo chúng tôi chỉ chiếm tối đa 3% [tổng số dân Giođăng], riêng người Công Giáo chỉ chiếm 1.5%. Trong cuộc viếng thăm này, chúng tôi nh́n ra sự yểm trợ đối với sự hiện diện của các Kitô hữu, những người vốn đă có mặt ở đây suốt 2,000 năm qua”. Đối với Twal, việc Đức Giáo Hoàng tới bờ sông Giođăng vào hôm Chúa Nhật quả là một thời điểm có ư nghĩa biểu tượng lớn lao đối với tương lai của Kitô giáo tại Giođăng. Anh nhận định rằng địa điểm từng được coi như nguồn cội cho đức tin Kitô Giáo ấy, nơi Chúa Giêsu được Thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho, hiện ít được ai biết tới, hiện bị ngay Giáo Hội lăng quên. Việc Đức Giáo Hoàng tới đó đặt viên đá đầu tiên xây cất hai thánh đường, một dành cho người Công Giáo theo nghi lễ Latinh, một cho người Công Giáo theo nghi lễ Melkite Hy Lạp, là một cử chỉ khiến người ta lưu ư, v́ đó là biến cố được 1,300 nhà báo chứng kiến. “Đó quả là lời mời gọi gửi tới Giáo Hội khắp thế giới”.
Hiến thân phục vụ người khác
Hôm nay, ngày 10 tháng Năm, thánh lễ do Đức Giáo Hoàng cử hành tại Vận Động Trường Quốc Tế Amman có sự tham dự của chừng 30,000 người Công Giáo, trong tổng số 109,000 tín hữu tại Giođăng. Nhân dịp này, Đức Thánh Cha khuyên các Kitô hữu Trung Đông ở lại Đất Thánh và làm chứng cho Chúa Giêsu tại vùng đất vốn bị ám ảnh bởi tranh chấp này. Chính phủ Giođăng cho phép người Kitô hữu được nghỉ làm việc trong ngày này, mặc dù Chúa Nhật là ngày làm việc b́nh thường tại Giođăng. Các cửa tiệm và công ty cũng cho phép như thế. Đức Giáo Hoàng khuyên: “Ḷng trung thành với gốc rễ Kitô Giáo, ḷng trung thành với sứ mệnh của Giáo Hội tại Đất Thánh, đ̣i mỗi người chúng con một loại can đảm đặc biệt: ḷng can đảm của xác tín, phát sinh từ niềm tin bản thân, chứ không phải chỉ là ước lệ có tính xă hội hay truyền thống gia đ́nh; ḷng can đảm dấn thân vào đối thoại và làm việc bên cạnh các Kitô hữu khác để phục vụ Phúc Âm và liên đới với người nghèo, người rời cư, và các nạn nhân của các thảm kịch nhân bản sâu xa; ḷng can đảm xây dựng những nhịp cầu mới phục vụ cuộc gặp gỡ có hiệu quả giữa những con người thuộc các tôn giáo và văn hóa khác nhau, và nhờ thế, làm giầu cho cấu trúc xă hội”. Ngài cũng cho rằng ḷng trung thành của các Kitô hữu Trung Đông cũng có nghĩa là phải “làm chứng cho t́nh yêu, là thứ t́nh linh hứng cho ta phải bỏ mạng sống ḿnh mà phục vụ người khác, và do đó, chống lại những lối suy nghĩ vốn biện minh cho việc loại trừ các mạng sống vô tội”. Bàn thờ hôm nay được trang trí bằng một bức tranh lớn vẽ Chúa Kitô là Mục Tử Nhân Lành v́ các giáo hội Đông Phương mừng Chúa Nhật hôm nay là Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Phục Sinh và là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành (Họ mừng Phục Sinh sau chúng ta một tuần). H́nh Đức Mẹ và h́nh Thánh Gioan Tẩy Giả, quan thầy Giođăng, cũng được trưng trên bàn thờ. Nhân dịp này, Đức Giáo Hoàng được một trong những người con của Giođăng chào mừng bằng “một ḷng hiếu khách Ả Rập và Gio Đăng” đó là Đức TGM Fouad Twal, thượng phụ Latinh của Giêrusalem. Đức TGM báo một tin vui mà ngài nói đùa là một cuộc khủng hoảng: hiện khu vực dưới sự trông coi của ngài có nhiều đại chủng sinh hơn là tài nguyên cho phép, nên ngài đang phải t́m cơ sở mới cho số ơn gọi này. Đức TGM Twal cũng đề cập tới thách đố mà Giáo Hội địa phương đang phải đương đầu, tức vấn đề tịn nạn từ Iraq. Hiện Giáo Hội nói chung và cơ quan Caritas nói riêng đang yểm trợ người tị nạn Iraq (cả triệu người, trong đó có 40,000 là Kitô hữu) về cả hai phương diện tâm linh và vật chất. Đức HY Emmanuel III Delly, thượng phụ Baghdad, cũng có mặt trong thánh lễ. Trong thánh lễ này, 40 trẻ em Giođăng đă được Đức Thánh Cha cho rước lễ lần đầu. Bênh vực phụ nữ tại Trung Đông Cũng trong thánh lễ trên, Đức Thánh Cha đề cập tới sự đóng góp độc đáo của phụ nữ đối với xă hội. Ngài dành phần lớn bài giảng trong thánh lễ để suy niệm về Năm Gia Đ́nh mà Giáo Hội địa phương tại Đất Thánh kỷ niệm vào năm nay. Ngài tập chú vào phẩm giá người phụ nữ, tŕnh bày một số suy tư xem ra rất có ư nghĩa trong bối cảnh Trung Đông và nơi nhiều quốc gia khác đang mừng Ngày Hiền Mẫu. Ngài cho hay: “Trong khi cử hành Năm Gia Đ́nh hiện nay, Giáo Hội khắp miền Đất Thánh vốn nghĩ gia đ́nh như là một mầu nhiệm của t́nh yêu trao ban sự sống, được Thiên Chúa, trong kế hoạch của Người, ủy thác cho một ơn gọi và một sứ mệnh riêng: là rạng chiếu t́nh yêu Thiên Chúa vốn là nguồn cội và là hoàn tất tối hậu cho mọi t́nh yêu khác trong cuộc đời chúng ta”. Món nợ biết ơn Đức Giáo Hoàng nói tiếp: “Một khía cạnh quan trọng trong các suy niệm của các con về Năm Gia Đ́nh này vốn là phẩm giá, ơn gọi và sứ mệnh đặc thù của phụ nữ trong kế hoạch Thiên Chúa”. Theo Đức Thánh Cha, Giáo Hội tại Trung Đông này mang ơn nhiều nơi người phụ nữ. “Giáo Hội tại các lănh thổ này mang nợ xiết bao đối với chứng tá đầy kiên nhẫn, đầy yêu thương và trung tín của vô vàn các bà mẹ, các nữ tu, các cô giáo, các nữ bác sĩ và nữ y tá Kitô hữu. Xă hội của các con mang nợ xiết bao đối với những người đàn bà, bằng nhiều cách thế khác nhau, đôi khi hết sức can đảm, đă hiến trọn cuộc đời để xây dựng ḥa b́nh và cổ vũ yêu thương”. Đức Giáo Hoàng tiếp tục: “Ngay từ những trang đầu tiên của Thánh Kinh, ta đă thấy người đàn ông và người đàn bà, vốn được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa, đă được sắp đặt để bổ túc cho nhau trong tư cách quản lư viên các ơn phúc của Thiên Chúa và trong tư cách hùn hạp để thông truyền ơn phúc sự sống, cả sự sống thể lư lẫn sự sống tâm linh, cho thế giới”. Nhưng, Đức Giáo Hoàng buồn rầu nói tiếp “đáng buồn thay, cái phẩm giá và vai tṛ phụ nữ do Thiên Chúa ban này đă không phải lúc nào cũng được hiểu và trân quí một cách tạm đủ”. Ngài trích dẫn vị tiền nhiệm để nói rằng: “Ta cần điều Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vốn gọi là ‘đặc sủng có tính tiên tri’ của phụ nữ trong tư cách người ấp ủ yêu thương, thày dạy nhân từ và người kiến tạo ḥa b́nh, đem ấm áp và nhân tính lại cho một thế giới vốn chỉ biết phán đoán gía trị của một con người dựa trên tiêu chuẩn lạnh lùng của việc có ích hay có lợi nhuận”. Đức Thánh Cha kết luận: "Qua chứng tá công khai cho ḷng tôn trọng đối với phụ nữ, và việc ḿnh bênh vực phẩm giá bẩm sinh của mọi con người nhân bản, Giáo Hội tại Đất Thánh có thể góp phần quan trọng vào việc thăng tiến một nền văn hóa có nhân tính thực sự và xây đắp được một nền văn minh t́nh thương”. Vua Abdullah II ‘hướng dẫn du khách’ Cũng trong ngày 10 tháng Năm, Vua Abdullah II bất ngờ xuất hiện bên bờ Sông Giođăng để cùng Đức Giáo Hoàng làm một ṿng thăm viếng khu vực đang thực hiện nhiều cuộc khai quật khảo cổ giá trị. Ngồi bên cạnh Đức Giáo Hoàng trên một xe chơi cù (golf) cải tiến, Nhà Vua giải thích cho Đức Giáo Hoàng các công tŕnh khảo cổ kia. Các công tŕnh này đang được ủy ban khảo cổ của Giođăng giám sát. Các nhà khảo cổ đă khám phá ra hơn 20 nhà thờ, thánh động và giếng rửa tội tại khu vực này, đủ chứng tỏ đây là một địa điểm hành hương hết sức nổi tiếng thời Giáo Hội sơ khai. Ngày nay, khu vực gần như bị quên lăng, chỉ mở cửa mỗi năm một đôi lần. Nhưng Nhà Vua cho hay: một kế hoạch phát triển khu vực đang được tiến hành: ông đang dự trù xây năm nhà thờ Kitô giáo gần địa điểm lịch sử vẫn được coi như nơi phát sinh ra Kitô Giáo. Và một trong các hậu quả được người ta mong chờ từ chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng là khách hành hương sẽ tái khám phá ra tầm quan trọng của nó. Sau khi thăm địa điểm làm phép rửa, Đức Giáo Hoàng cùng đoàn tùy tùng đến một địa điểm công cộng, nơi ngài được hàng ngàn tín hữu nghênh đón và là nơi ngài đặt viên đá đầu tiên xây dựng hai ngôi thánh đường, một cho nghi lễ Latinh, một cho nghi lễ Melkite Hy Lạp. Tại đây, ngài cho hay: “Thật là niềm vui thiêng liêng lớn, khi tôi được làm phép các viên đá nền cho hai Nhà Thờ Công Giáo sẽ được xây cất bên sông Giođăng, nơi vốn đánh dấu nhiều biến cố đáng ghi nhớ trong lịch sử Thánh Kinh”. Ngài nói rằng: “Viên đá nền của một nhà thờ là biểu tượng của Chúa Kitô. Giáo Hội dựa trên Chúa Kitô, được Người nâng đỡ và không thể nào tách rời khỏi Người. Người là nền tảng duy nhất của mọi cộng đồng Kitô Giáo, là viên đá sống động, bị thợ xây loại bỏ nhưng đă được tuyền chọn và qúy giá trước nhan Thiên Chúa như là viên đá góc. Cùng với Người, chúng ta cũng là những viên đá sống động xây thành ngôi nhà thiêng liêng, nơi Thiên Chúa cư ngụ”. Ngài bảo: “Ta hăy vui mừng khi biết rằng hai toà nhà này, một cho nghi lễ Latinh, một cho nghi lễ Melkite Hy Lạp, sẽ dùng để bồi đắp gia đ́nh duy nhất của Thiên Chúa, mỗi ṭa theo truyền thống riêng của cộng đồng ḿnh”. Cùng tham dự nghi thức này, có Đức Gregorios III Laham, Thượng Phụ Antiôkia của Giáo Hội Melkite Hy Lạp, Tổng GM Fouad Twal, Thượng Phụ Latinh của Giêrusalem, Thượng Phụ hồi hưu Michel Sabbah, Tổng GM Joseph Jules Zerey và GM Salim Sayegh. Nhận định của phát ngôn viên Ṭa Thánh Cha Federico Lombardi, Ḍng Tên, phát ngôn viên Ṭa Thánh, người tháp tùng Đức Thánh Cha trong suốt chuyến tông du này, cho rằng Đức Bênêđíctô XVI đă đạt được mục tiêu cho chặng đầu tiên trong chuyến tông du một tuần tại Đất Thánh. Theo Cha Federico Lombardi, kết quả phần đầu trong chuyến tông du từ trước đến nay “rất tích cực”. Cha cho hay: “Đức Giáo Hoàng đă có thể cử hành tất cả các buổi gặp gỡ, được dự trù trước trong chương tŕnh, với một sự thanh thản lớn lao. Ngài nhận được sự nghênh đón rất nồng nhiệt và thân ái, về phía các nhà cầm quyền chính phủ và hoàng gia cũng như về phía thế giới Hồi Giáo và cộng đồng Công Giáo”. Cha nhận định rằng “Đối với tôi, khởi đầu chuyến đi này bằng cánh cửa ḥa b́nh, bằng cánh cửa thanh thản quả là điều khôn ngoan. Vào lúc này, trong khung cảnh Trung Đông, Giođăng quả là một đất nước chủ yếu thanh thản, và do đó, việc khởi đầu cuộc du hành qua khắp Trung Đông từ điểm này, tôi nghĩ, sẽ làm cho cuộc du hành ấy tích cực một cách đặc biệt”. Bước tiến tới với người Hồi Giáo Cha Lombardi nhấn mạnh đến việc Đức Giáo Hoàng tới thăm Đền Hồi Giáo Hussein bin Talal vào ngày Thứ Bẩy. Cha nhận định rằng: “Dường như càng ngày càng trở nên b́nh thường hơn đối với việc một vị giáo hoàng thân thiện bước vào một địa điểm Hồi Giáo để cầu nguyện. Ngày nay, đây là một dấu chỉ tiến bộ trong mối liên hệ tích cực giữa người Kitô Giáo và người Hồi Giáo”. Suy nghĩ về biến động năm 2006 liên quan đến bài diễn văn của Đức Bênêđíctô XVI tại Regensburg, Cha Lombardi cho rằng ngài tin cuộc khủng hoảng trong liên hệ Kitô Giáo và Hồi Giáo, phát sinh từ sự hiểu lầm ấy, nay đă được giải quyết hấu hết. Và theo cha, “Hiện nay, ta thấy, khi một hiểu lầm xẩy ra đối với các vấn đề phức tạp, một loạt biện pháp và nhiều th́ giờ cần phải qua đi mới có thể hoàn toàn hàn gắn được mọi hậu quả. Bởi thế không nên lấy làm ngạc nhiên khi đây đó vẫn có người nhắc tới giờ khắc khó khăn trên. Nhưng ta đă có được hơn hai năm cảm nghiệm tích cực từ ngày có giờ khắc ấy”. Cha ghi nhận rằng Hoàng Tử Ghazi Bin Muhammed Bin Talal, một cố vấn của Vua Abdullah II, tuy có nhắc tới bài diễn văn Regensburh trong bài diễn văn nghênh đón Đức GH tại Đền Thờ Hồi Giáo nói trên, “nhưng ông rơ ràng phát biểu rằng nó là một chương sách hoàn toàn bị bỏ lại phía sau rồi, và sau đó, ông chào mừng Đức Giáo Hoàng là ‘Người Kế Vị Thánh Phêrô’, một điều hết sức có ư nghĩa trên môi miệng một đại diện của thế giới Hồi Giáo”. Một khích lệ đối với thiểu số Công Giáo Cha Lombardi cho hay: một mục tiêu khác trong chặng viếng thăm Giođăng của Đức GH là bày tỏ sự hỗ trợ đối với cộng đồng Kitô Giáo bé nhỏ, chỉ chiếm không đầy 3% dân số nước này, một đất nước có hơn 6 triệu dân. Chỉ khoảng phân nửa Kitô hữu là người Công Giáo. Theo cha, “một h́nh ảnh tươi đẹp mà Đức Bênêđíctô XVI sẽ mang măi trong trái tim ngài là h́nh ảnh nồng ấm của cộng đồng Kitô hữu nghênh đón ngài”. Sự hào hứng trong cuộc nghênh đón Đức Thánh Cha tại Nhà Thờ Chính Ṭa Thánh George thuộc nghi lễ Melkite Hy Lạp được cha Lombardi mô tả là “hết sức gây ấn tượng”. Cha cho hay: “[Giáo Hội Công Giáo ở đây] là một giáo hội sống động, và họ có khả năng biểu dương điều đó với Đức Giáo Hoàng không phải bằng cuộc nghênh đón đầy t́nh thân ái và những giờ phút cầu nguyện sốt sắng, mà c̣n trong nhiều dịp quan trọng khác nữa. Như tại Trung Tâm Regina Pacis dành cho thanh thiếu niên khuyết tật chẳng hạn, ngài đă khánh thành một khu mới; tại Madaba, ngài làm phép viên đá đầu tiên của một đại học, một sáng kiến cực kỳ quan trọng không những cho Giođăng mà thôi mà cho toàn vùng Trung Đông nữa, nơi việc triển khai các đóng góp của Giáo Hội vào nền văn hóa sẽ hết sức có ư nghĩa. Rồi việc đặt viên đá đầu tiên cho hai ngôi nhà thờ tại nơi Chúa Giêsu chịu phép rửa… cho thấy sự lớn mạnh tại các nơi có sự hiện diện của Giáo Hội. Chắc chắn việc liên kết cuộc thăm viếng của Đức GH với những dịp tốt đẹp ấy cho thấy đó là một Giáo Hội đang cảm thấy ḿnh sống động và đang hướng về tương lai” Nh́n về phía trước Nói về việc đến Do Thái và các lănh thổ Palestine sắp tới, Cha Lombardi cho biết: Đức Giáo Hoàng hy vọng chuyến tông du của ngài sẽ thực sự là “một thông điệp ḥa b́nh, ḥa giải, và khích lệ đối với các cộng đồng Kitô hữu đang lâm khó khăn, một thông điệp hy vọng, tin tưởng, yêu thương sẽ đóng góp một cách hữu hiệu vào việc cải thiện t́nh h́nh trong vùng”.
Ḥa b́nh, hy vọng chung
“Chúng tôi mong đợi Đức Giáo Hoàng như con cái mong đợi người cha”, lời phát biểu của Eli Hajjar quả đă tóm lược được hết cảm thức mong chờ của Kitô hữu đối với chuyến tông du Đất Thánh của Đức Thánh Cha. Ngài đă tới Do Thái vào ngày hôm nay, 11 tháng Năm, sau khi lưu lại Giođăng ba ngày và chỉ trở lại Rôma vào Thứ Sáu này. Theo chương tŕnh, ngài sẽ đọc 29 bài diễn văn trong suốt cuộc hành tŕnh này. Hajjar, một sinh viên 21 tuổi của Đại Học Bêlem, người dạy giáo lư cho trẻ em và làm nhiều việc xă hội giúp đỡ người cao niên, mong rằng cuộc tông du của Đức Giáo Hoàng sẽ diễn tiến thanh thản. Theo anh, “Ngày nay, Kitô hữu, và nhất là người Công Giáo rất hy vọng Đức Giáo Hoàng sẽ mang lại ḥa b́nh cho cuộc sống của chúng tôi. Người Do Thái Giáo và người Hồi Giáo cũng hy vọng được biết con người vĩ đại vốn là người kế vị Thánh Phêrô này một cách tốt hơn” Bêlem Bêlem cũng đang đầy hy vọng chờ đợi Đức Giáo Hoàng. Vicenzo Bellomo, một giáo dân Ư thuộc phong trào Fidei Donum (Ơn Phúc Đức Tin), từng ở Trung Đông ba năm nay, và hiện làm việc với cơ quan trông coi Đất Thánh của ḍng Phanxicô, tại vùng Bêlem, nhận xét rằng: “Cuộc thăm viếng Bêlem là một cuộc thăm viếng lănh thổ hiện đang bị vây kín chung quanh. Muốn ra khỏi đây, bạn cần có giấy phép. Gần giống như đến thăm người tù vậy, mặc dù đây là một địa điểm hết sức đặc biệt”. Đức Giáo Hoàng sẽ cử hành một Thnáh Lễ tại đây vào hôm Thứ Tư. Bellomo cho hay: người ta đặt “niềm hy vọng tươi đẹp, đầy hứng khởi và tin tưởng sâu sắc vào vị Giáo Hoàng này. Họ hy vọng ngài sẽ có những lời nói lên sự thật về Gaza và về t́nh huống các Kitô hữu tại đây”. Nadarét Thánh lễ lớn sau cùng của Đức Thánh Cha trong chuyến tông du Đất Thánh lần này sẽ diễn ra tại Nadarét vào hôm Thứ Năm. Nhiều người đang mong chờ cho ngày ấy mau đến. Cha Renato Rosso, Ḍng Cát Minh Không Giầy, đang tổ chức các chuyến xe buưt cho giáo dân thuộc giáo xứ Thánh Giuse, là giáo sứ theo nghi lễ Latinh duy nhất tại Haifa, trong đó có khoảng 100 thanh niên Công Giáo Tiến Hành. Cha bảo: “Đối với phần đông những người này, đây là lần đầu không những được thấy Đức Giáo Hoàng mà c̣n được tiếp xúc với anh chị em Kitô hữu từ khắp nơi trên thế giới”. Ḥa b́nh cũng là niềm hy vọng chính của các Kitô hữu này: “Người Do Thái Giáo và người Hồi Giáo coi chuyến tông du này như dấu chỉ tái khẳng định ư chí hướng tới ḥa b́nh và t́m ra giải pháp cho các vấn đề lớn lao của cộng đồng Palestine”. Kêu gọi một quê hương an ổn cho mọi người Ngày 11 tháng Năm, vừa từ Giođăng đặt chân tới phi trường quốc tế Tel Aviv của Do Thái, Đức Giáo Hoàng đă nhấn mạnh tới nhu cầu phải chấm dứt các tranh chấp tại Đất Thánh để t́m ra một giải pháp ḥa b́nh và công chính đảm bảo một quê hương an ổn cho mọi người. Trước sự hiện diện của Tổng Thống Simon Peres, Thủ Tướng Benjamin Netanyahu, và nhiều chức trách dân sự và nhiều vị giám mục tại Đất Thánh, Đức Giáo Hoàng khẳng định rằng ba tôn giáo độc thần vĩ đại là Kitô Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo có chung “một niềm tôn kính đặc biết” đối với Giêrusalem. Ngài hết sức hy vọng “mọi khách hành hương thăm các nơi thánh sẽ được thăm những nơi này một cách tự do, không bị một hạn chế nào, ngơ hầu có thể tham dự các nghi lễ tôn giáo và cổ vũ việc duy tŕ xứng đáng các nơi thờ phượng tại các địa điểm thánh thiêng ấy”. Ngài buồn rầu nhận định rằng: “Dù tên Giêrusalem có nghĩa là thành phố ḥa b́nh, nhưng suốt nhiều thập niên qua, điều hiển nhiên là ḥa b́nh vẫn xa vời một cách thảm thương đối với cư dân của mảnh đất thánh thiêng này”. Ngài bảo “Con mắt thế giới đang nh́n về phía các dân tộc của vùng này trong khi các dân tộc này đang cố gắng thực hiện cho bằng được một giải pháp công lư và bền vững cho các cuộc tranh chấp từng đem lại xiết bao đau thương… Niềm hy vọng của không biết bao nhiêu người đàn ông, đàn bà và trẻ em vào một tương lai an toàn và ổn định hơn tùy thuộc kết quả các cuộc thương thảo ḥa b́nh giữa người Do Thái và người Palestine”. Ngài nói tiếp: “Hiệp ư với người thiện chí ở khắp nơi, tôi khẩn khoản xin mọi người có trách nhiệm hăy thăm ḍ mọi ngả đường có thể để t́m ra một giải pháp công b́nh cho các khó khăn nổi bật hiện nay, ngơ hầu cả hai dân tộc được sống ḥa b́nh trên mảnh đất quê hương riêng của họ, bên trong các biên giới an toàn và được quốc tế công nhận. Về phương diện này, tôi hy vọng và cầu xin để một bầu không khí tin cậy hơn không bao lâu nữa sẽ được tạo ra, giúp các bên có khả năng thực hiện được tiến bộ thực sự trên con đường ḥa b́nh và ổn định”. Về phần các cộng đồng Kitô Giáo tại Đất Thánh, Đức Thánh Cha thúc giục họ “Bằng chứng tá cầu nguyện của các con đối với Đấng từng rao giảng sự tha thứ và ḥa giải, bằng việc dấn thân của các con trong việc duy tŕ tính thánh thiêng của sự sống nhân bản, các con có thể góp phần một cách đặc thù vào việc chấm dứt các mối thù địch từng giáng họa bao lâu nay trên mảnh đất này”. Về phần Tổng Thống Peres, khi lên tiếng chào mừng Đức Thánh Cha, Ông gọi cuộc tông du này là một “sứ mệnh ḥa b́nh”. Ông nói: “Chúng tôi từng thực hiện ḥa b́nh với Ai Cập và Giođăng, và hiện chúng tôi đang có những cuộc thương thảo tạo ḥa b́nh với người Palestine, và đă tiến tới một nền ḥa b́nh tổng thể cho từng khu vực”. Ông cho rằng cuộc tông du của Đức Thánh Cha “đem tới một cái hiểu đầy phúc đức giữa các tôn giáo và gieo rắc ḥa b́nh khắp mọi nơi” Đối thoại liên tín ngưỡng, đường dẫn tới ḥa b́nh Trong bài diễn văn công khai lần thứ hai tại Do Thái, Đức GH Bênêđíctô XVI nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cuộc đối thoại liên tôn trong việc mưu cầu ḥa b́nh, khi được Tổng Thống Peres nghênh đón tại dinh tổng thống ở Giêrusalem vào ngày hôm nay, 11 tháng Năm. Tại dinh này, Đức GH đă trồng tượng trưng một cây ở vườn của dinh trước mặt nhiều yếu nhân chính trị và tôn giáo. Sau đó, là cuộc trao đổi đầy cởi mở giữa nhà lănh đạo Do Thái và Đức Thánh Cha. Sau đó, Đức Thánh Cha nói truyện với mọi người hiện diện. Theo ngài, hoà b́nh trước hết là hồng ân của Thiên Chúa, một hồng ân ta chỉ có thể nhận được khi ta chịu đi t́m Thiên Chúa “bằng trọn trái tim ḿnh”. Ngài nhấn mạnh: “Đóng góp đặc thù của tôn giáo vào việc mưu cầu ḥa b́nh chủ yếu hệ ở việc t́m kiếm Chúa hết ḷng hết dạ và đầy hợp nhất… Chính sự hiện diện đầy năng động của Thiên Chúa đă lôi kéo các trái tim lại với nhau và bảo đảm sự hợp nhất”. Theo Đức Giáo Hoàng, an ninh “phát sinh từ sự tin tưởng [lẫn nhau] và không phải chỉ là việc không có đe dọa nhưng c̣n là việc cảm nhận được sự thanh b́nh và tự tin. Trong kế sách của Thiên Chúa dành cho thế giới, an ninh, chính trực, công lư và ḥa b́nh, là những điều không thể tách biệt được với nhau. Không một cá nhân, một gia đ́nh, một cộng đồng hay một quốc gia nào được miễn chước khỏi nhiệm vụ phải sống trong công lư và làm việc cho ḥa b́nh”. Để kết luận, Đức Thánh Cha cho mọi người hay: “tôi vốn nghe được tiếng kêu của những người đang sống tại mảnh đất này. Tiếng kêu này đ̣i công lư, ḥa b́nh, và sự tôn trọng phẩm giá họ, đ̣i một nền an ninh bền vững, đ̣i một cuộc sống hàng ngày không phải sợ sệt v́ bị đe dọa từ bên ngoài và những bạo lực vô nghĩa. Và tôi cũng biết rằng vô số đàn ông, đàn bà và người trẻ đang cố gắng làm việc cho ḥa b́nh và t́nh liên đới qua nhiều chương tŕnh văn hóa và qua nhiều sáng kiến nhằm nới rộng ṿng tay cảm thương và thực tiễn; khiêm hạ đủ để tha thứ, những con người này đă can đảm nắm lấy giấc mơ vốn là quyền lợi của họ”. Vị Giáo Hoàng người Đức tại đài kỷ niệm Diệt Chủng Linh mục Caesar Atuire, quản trị viên đặc nhiệm của Opera Romana Pellegrinaggi, một định chế của Vatican nhằm phúc âm hóa bằng du lịch, người tháp tùng Đức Bênêđíctô XVI trong chuyến tông du lần này, nhận xét rằng việc đức Thánh Cha tới viếng đài kỷ niệm Diệt Chủng Yad Vashem tại Giêrusalem là một sứ điệp rất mạnh cho toàn thể Giáo Hội. Cha cho rằng việc chọn Yad Vashem như là một trong các điểm đến thăm đầu tiên ở Do Thái là một động thái can đảm. Trong một bài diễn văn cảm động tập chú vào tầm quan trọng của một cái tên, Đức Thánh Cha nói tại đài tưởng niệm này như sau: “Nh́n các khuôn mặt phản chiếu trong hồ nước đang êm đềm tĩnh lặng tọa lạc trong khuôn viên đài tưởng niệm này, người ta không khỏi nhớ tới việc mỗi người trong số họ đều mang một cái tên. Tôi chỉ có thể tưởng tượng ra nỗi chờ mong đầy hân hoan của cha mẹ họ lúc các ngài lo lắng chờ đợi con cái ḿnh sinh ra. Ḿnh sẽ cho đứa con này cái tên nào đây? Nó sẽ ra sao ngày sau? Không ai có thể tưởng tượng được chuyện chúng lại bị kết tội phải chịu một số mạng đáng trách đến thế!” Cha Atuire nghĩ rằng lời lẽ của Đức Thánh Cha không phải chỉ là những suy tư cá nhân của ngài mà là những lời của người đứng đầu Giáo Hội. “Giáo Hội Công Giáo bác bỏ tất cả những ǵ là bạo lực và tôi nghĩ rằng: vào thời điểm Đức Giáo Hoàng thăm viếng xứ sở này, quả là thích hợp để khẳng định rằng tất cả chúng ta đều có sứ mệnh được Đức Thánh Cha tŕnh bày trong bài diễn văn của ngài, là làm việc để những thảm kịch này không xẩy ra nữa trong lịch sử nhân loại”. Mặt khác, theo cha Atuire, “Đức Giáo Hoàng là người Đức, một quốc gia mà người tổ chức ra Nạn Diệt Chủng, tức nhóm Quốc Xă, vốn thuộc về”. Điều này càng làm tăng ‘trọng lượng’ cho sứ điệp của ngài cũng như cuộc hành hương của ngài tới Đất Thánh. Lời lẽ của ngài càng hùng hồn hơn khi ngài cho biết: “chúng ta không muốn những việc này được lặp lại, và khi đă giáp mặt với tính hăi hùng của những ǵ xẩy ra, chúng ta cần phải học cách làm mọi sự có thể làm được để thế giới này trở thành một thế giới tốt hơn”. Tôn giáo không thể là nguồn gây chia rẽ Trong buổi gặp gỡ đại diện các tổ chức đối thoại liên tôn tại Đất Thánh vào hôm nay, 11 tháng Năm, Đức Giáo Hoàng khẳng định rằng cần phải tôn trọng các dị biệt tôn giáo và cổ vũ những ǵ kết hợp chúng ta. Cuộc gặp gỡ trên diễn ra tại hội trường Trung Tâm Viện Giáo Hoàng Đức Bà Giêrusalem do Đức GH Gioan Phaoloô II thiết lập, dành cho các chương tŕnh tôn giáo, văn hóa, bác ái và giáo dục. Trước các đại diện Kitô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Druze và Samaria, Đức Giáo Hoàng đọc một bài diễn văn bằng tiếng Anh và ghi nhận rằng: “một số người khiến chúng ta tin rằng các dị biệt của chúng ta tất yếu là nguyên nhân gây chia rẽ và do đó cùng lắm chỉ nên khoan dung”. Ngài nói tiếp: “Một ít người c̣n chủ trương rằng tiếng nói của chúng ta cần bị giập tắt. Nhưng chúng ta biết rằng các dị biệt của chúng ta không bao giờ được tŕnh bày sai lạc như là nguyên nhân tất yếu của va chạm hay căng thẳng giữa chúng ta cũng như trong xă hội nói chung”. “Đúng hơn, các dị biệt ấy phải đem lại cơ hội tốt đẹp để người của các tôn giáo khác nhau có thể sống với nhau trong sự tôn trọng, qúi mến và đánh giá lẫn nhau một cách sâu sắc, khích lệ lẫn nhau trong đường lối Thiên Chúa”. Đức GH khuyến khích các người tham dự cuộc gặp gỡ “hăy can đảm tiến lên, tôn trọng mọi điều dị biệt chúng ta và cổ vũ mọi điều kết hợp chúng ta trong tư cách các tạo vật được chúc phúc bằng ư nguyện đem ḥa b́nh lại cho các cộng đồng của chúng ta và cho toàn hế giới”. Biến cố không hay Sau bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng, Giáo Sĩ Hồi Giáo Taysir Tamimi, thẩm phán tối cao của Các Ṭa Án Hồi Giáo tại Giêrusalem, đăng đàn diễn thuyết mặc dù ông không có trong chương tŕnh chính thức, và phát động một cuốc tấn công bằng lời chống Do Thái bằng tiếng Ả Rập. Trong khi ông đang nói, giữa sự ngỡ ngàng của mọi người, th́ hai người theo Do Thái Giáo rời ghế ngồi của ḿnh. Đức Thượng Phụ Latinh của Giêrusalem là Tổng Giám Mục Fouad Twal, tiến lên để ngăn cản vị giáo sĩ Hồi Giáo trên. Đức Giáo Hoàng, v́ không hiểu tiếng Ả Rập, nên không rơ điều vị giáo sĩ này phát biểu. Sau biến cố này, Cha Federico Lombardi, giám đốc báo chí của Ṭa Thánh, đă phân phối một bản tuyên bố cho rằng lời phát biểu của vị giáo sĩ Hồi Giáo kia “không được các nhà tổ chức cuộc gặp gỡ dự trù”. Cha cho hay: “Trong một cuộc gặp gỡ dành cho việc đối thoại, việc can thiệp như thế quả đă trực tiếp bác bỏ nội dung phải có của đối thoại. Chúng tôi hy vọng rằng một biến cố như thế sẽ không phá hoại được sứ mệnh của Đức Giáo Hoàng nhằm cổ vũ ḥa b́nh và cả đối thoại liên tôn, như ngài đă khẳng định rơ ràng nhiều lần trong chuyến hành hương lần này”. Cha hy vọng: biến cố trên sẽ không làm trở ngại cuộc đối thoại liên tôn tại Đất Thánh. Nhận định trên Bản Tin CBS Linh mục Thomas D. Williams, thuộc Đạo Binh Chúa Kitô (www.thomasdwilliams.com), một nhà thần học Mỹ sống tại Rôma, có cung cấp một bài b́nh luận về chuyến đi của Đức Giáo Hoàng tới Đất Thánh, trên bản tin CBS. Theo Cha, trong những ngày qua, nhiều người chỉ lưu ư tới điều Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI nói hay viết khi một ngôn từ hay một hành động nào đó của ngài khiến người ta không hài ḷng hay khiến giới truyền thống ṭ ṃ chú ư. Dĩ nhiên, thái độ ấy dẫn tới lối nh́n một chiều và đầy tiêu cực về đường lối của Đức Bênêđíctô trong ngôi vị Giáo Hoàng. Bởi thế, hầu như mọi người chỉ biết câu ngài trích dẫn năm 2006 trong bài diễn văn tại Regensburg, Đức Quốc, đă làm phật ḷng người Hồi Giáo, và việc ngài tha vạ tuyệt thông cho bốn vị giám mục lạc giáo, mà một trong số họ đă bác bỏ Nạn Diệt Chủng, chứ ít ai chịu đọc các thông điệp của ngài về t́nh yêu và ḷng hy vọng, hay nghe bài diễn văn của ngài về Thánh Phaolô và các giáo phụ đầu hết của Giáo Hội. Cha Williams nói rằng: “Hôm qua, Đức Bênêđíctô cử hành Thánh Lễ ngoài trời tại Vận Động Trường Quốc Tế tại Amman. Tại nơi đó, một viên kim cương như thế lại đă không được giới truyền thông lưu ư. Tại một xứ sở đại đa số theo Hồi Giáo, Đức Bênêđíctô đă chọn để đưa ra một suy tư khá dài về phẩm giá người phụ nữ, bằng cách nhắc tới “đặc sủng tiên tri” của họ và đề cao họ là “người ấp ủ ḷng yêu thương, thày dạy ḷng nhân từ và là người kiến tạo ḥa b́nh”. Theo ngài, nhờ làm chứng công khai cho việc tôn trọng phụ nữ, Giáo Hội tại Đất Thánh sẽ đóng góp đáng kể vào việc thăng tiến nền văn hóa có nhân tính thực sự và xây dựng được nền văn minh t́nh yêu. Rồi vừa tới Do Thái vào sáng hôm nay, 11 tháng Năm, Đức GH không để mất thời gian, đă phá tan ngay dư vị hoài nghi cuối cùng đối với chủ trương của ngài về nạn Diệt Chủng. Thực thế, ngay tại phi trường Tel Aviv, ngài đă nói như sau: “Trong thời gian tôi lưu lại Do Thái, thật là đúng đắn và thích hợp khi được dịp vinh danh kư ức về sáu triệu nạn nhân Do Thái trong biến cố Diệt Chủng, và để cầu xin cho thế giới khỏi phải chứng kiến một lần nữa cái tội ác lớn lao cỡ ấy. Buồn thay, chủ nghĩa bài Do Thái vẫn tiếp tục ngoi cái đầu xấu xa lên ở nhiều nơi trên thế giới. Điều ấy hoàn toàn không thể chấp nhận được. Mọi cố gắng phải được đưa ra để đánh bại chủ nghĩa bài Do Thái ở bất cứ nơi nào nó hiện diện, và để cổ vũ ḷng kính trọng và quí mến đối với thành viên mọi dân tộc, mọi bộ tộc, mọi ngôn ngữ và mọi quốc gia khắp mặt địa cầu”. Cha Williams hy vọng rằng thiện chí hiển nhiên của Đức Giáo Hoàng trong mặt trận chống trả chủ nghĩa bài Do Thái sẽ nhận được thiện chí hỗ tương từ những người nghe ngài. Việc ngài sau đó tới thăm đài tưởng niệm Yad Vashem lại là một minh xác khác cho thấy cam kết của ngài đối với việc đẩy mạnh các mối liên hệ Do Thái và Kitô Giáo, cũng như một chủ trương thống nhất nhằm bảo vệ nhân quyền. Sau hai biến cố trên, Cha Williams cho hay: ngài có nói truyện với một số người Do Thái ở ngoài phố, đại đa số hài ḷng với chủ trương và đường lối của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô. Duy có một người cho cha hay: Đức Giáo Hoàng nên dùng từ “sát nhân” chứ không phải chỉ là “giết” để nói về trường hợp 6 triệu nạn nhân Diệt Chủng nói trên. Theo cha Williams, cho đến nay, Đức Giáo Hoàng không những không tránh né vấn đề nào trong các sinh hoạt của ngài tại Đất Thánh; trái lại c̣n tích cực theo đuổi một con đường cao hơn, tức thách thức các thính giả của ḿnh bước vào ḥa b́nh, công lư, đối thoại và tôn trọng lẫn nhau. Lời đầu tiên trên đất Do Thái là lên án chủ nghĩa bài Do Thái Việc Thủ Tướng Benjamin Netanyahu cũng có mặt trong buổi nghênh đón Đức Giáo Hoàng tại phi trường Tel Aviv là một dấu chỉ có ư nghĩa cho thấy ḷng kính trọng của ông đối với Đức Giáo Hoàng, v́ việc nghênh đón này, theo truyền thống, chỉ cần có vị nguyên thủ quốc gia là Tổng Thống Simon Peres. Đức Giáo Hoàng được hàng danh dự quân sự dàn chào trong khi quốc ca của Vatican và Do Thái được cử vang. Trong bài diễn văn bằng tiếng Anh, Đức Thánh Cha nói rằng: “Ṭa Thánh và quốc gia Do Thái có chung nhiều giá trị, mà trên hết là cam kết dành cho tôn giáo chỗ đứng đúng đắn trong đời sống xă hội”. Ngài nói tiếp: “Việc sắp xếp đúng đắn các liên hệ xă hội giả thiết và đ̣i phải có sự tôn trọng tự do và phẩm giá của mọi hữu thể nhân bản, những người mà người Kitô Giáo, người Hồi Giáo và người Do Thái Giáo đều tin là đă được Thiên Chúa đầy yêu thương tác tạo nên và dự tính cho hưởng cuộc sống vĩnh cửu. Khi chiều kích tôn giáo của con người nhân bản bị bác khước hay bị đẩy ra bên lề, th́ chính nền tảng để hiểu đúng đắn các nhân quyền bất khả nhượng sẽ bị đặt vào thế lâm nguy. Thảm họa thay, dân tộc Do Thái đă phải kinh qua các hậu quả khủng khiếp của các ư thức hệ vốn bác khước chính phẩm giá nền tảng của mọi con người nhân bản”. Sau khi vinh danh 6 triệu nạn nhân Do Thái của nạn Diệt Chủng, Đức Giáo Hoàng nói thêm: “Ước chi các lời sau đây của tiên tri Isaia nên trọn: nhiều dân tộc sẽ xuôi về núi thánh nhà Chúa, để Người dạy dỗ họ đường lối của Người, để họ đi trong đường lối của Người, đường lối ḥa b́nh và công lư, đường lối dẫn tới ḥa giải và hoà hợp” Sứ mệnh hoà b́nh Trong bài diễn văn nghênh đón Đức GH tại Phi Trường Tel Aviv, sau khi gọi chuyến đi của ngài là “sứ mệnh ḥa b́nh”, Tổng Thống Do Thái, Simon Peres, đă nói như sau: “Tôi đánh giá cao các chủ trương và hành động của ngài trong việc hạ bệ mức độ bạo lực và hận thù trên thế giới. Tôi chắc chắn rằng điều ấy sẽ được tiếp tục trong cuộc đối thoại giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo trong tinh thần tiên tri. Tôi vinh danh các cố gắng của ngài trong việc nuôi sống người đói ăn và giải cơn khát của con người đối với niềm tin vào con người và vào Đấng Tạo Hóa của vũ trụ”. Ông nói thêm: “Xứ sở chúng tôi nghèo tài nguyên, nhưng giầu đức tin. Xứ sở chúng tôi nửa là hoang địa, nhưng đă xây dựng được một nền thương mại phồn thịnh nhờ sức mạnh của vốn liếng nhân bản, và một xă hội biết t́m công lư cho mọi trẻ em sinh ra”. Ông thưa với Đức GH rằng: “Cuộc viếng thăm của ngài tại đây đem đến một hiểu biết đầy phúc đức giữa các tôn giáo và gieo rắc ḥa b́nh khắp nơi nơi. Do Thái lịch sử và Do Thái canh tân thẩy đều cùng nhau chào mừng việc ngài tới đây như là để dọn con đường vĩ đại dẫn tới ḥa b́nh từ thành phố này tới thành phố nọ”. Tại Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Diệt Chủng Từ phi trường Tel Aviv, Đức GH dùng trực thăng bay tới Giêrusalem, nơi ngài được thị trưởng Nir Barkat nghênh đón. Sau đó, ngài về ṭa Đại Diện Ṭa Thánh để dùng bữa trưa, rồi tới Yad Vashem, đài tưởng niệm các nạn nhân của Diệt Chủng, đốt lên ngọn lửa tưởng niệm và đặt ṿng hoa vàng trắng tại đó. Ngài vinh danh các nạn nhân, và cho hay: họ sẽ được tưởng nhớ bởi “mọi người nhất quyết không bao giờ cho phép một sự tàn bạo như thế làm ô nhục một lần nữa toàn bộ nhân loại”. Đức GH, sau đó, gặp gỡ một số người sống sót của nạn Diệt Chủng trong một buổi lễ long trọng có sự tham dự của Tổng Thống Peres và chủ tịch quốc hội Reuven Rivlin. Đức Giáo Hoàng phát biểu tại buổi lễ này rằng: “Ước chi nỗi thống khổ của họ không bao giờ bị bác khước, hạ giá hay lăng quên! Và ước chi mọi người thiện chí tỉnh táo trong việc nhổ tận gốc khỏi trái tim con người bất cứ điều ǵ có thể dẫn tới những thảm kịch như thế này”. Giáo Hội chống lại sự thống trị của hận thù Cũng tại Yad Vashem, Đức GH nói rằng “Họ (các nạn nhân) mất mạng sống, nhưng không bao giờ mất tên: tên tuổi họ được khắc ghi măi măi trong trái tim người thân yêu, các bạn đồng tù sống sót, và mọi người nhất quyết không bao giờ để cho một tàn bạo như thế này làm ô nhục nhân loại một lần nữa. Trên hết, tên tuổi họ đời đời được định vị trong trí nhớ Thiên Chúa Toàn Năng”. Trong nghi lễ sau đó với các người sống sót nạn Diệt Chủng, Đức Giáo Hoàng nói rằng: Giáo Hội cảm thương sâu xa đối với các nạn nhân được tưởng nhớ tại đây. Và Giáo hội cũng xích lại thật gần tất cả những ai ngày nay đang chịu bách hại v́ ṇi giống, mầu da, điều kiện sống hay tôn giáo. Thống khổ của họ là thống khổ của Giáo Hội, và thống khổ của Giáo Hội là hy vọng công lư của họ. “Trong tư cách Giám Mục Rôma và là người kế nhiệm Tông Đồ Phêrô, giống các vị tiền nhiệm của ḿnh, tôi xin tái khẳng định rằng Giáo Hội cam kết dấn thân vào việc cầu nguyện và không mệt mỏi làm việc để bảo đảm rằng hận thù sẽ không c̣n thống trị trong trái tim con người nữa. V́ Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và của Jacob vốn là Thiên Chúa của ḥa b́nh”.
Nhận định của người đi tiên phong đối thoại
Baruch Tenembaum, một người đi tiên phong trong phong trào đối thoại liên tôn, từ thời Đức Phaolô VI, và là sáng lập viên của Qũy Raoul Wallenberg, nhận định rằng cuộc tông du của Đức GH Bênêđíctô XVI tại Đất Thánh là một cơ hội lịch sử để phát động cuộc đối thoại sâu sắc với các giới chức thực sự quan tâm tới việc củng cố mối dây liên kết huynh đệ vốn kết hợp hai truyền thống tôn giáo vĩ đại. Để đánh dấu cuộc tông du này, Qũy Raoul Wallenberg đă phát động một chiến dịch thế giới nhằm thu thập các chứng tá về việc người Công Giáo cứu người Do Thái thời Quốc Xă. Tenembaum cho hay: đáp ứng đối với chiến dịch này thật đáng ngạc nhiên. Ngay tại Do Thái, nhiều người sống thoát Nạn Diệt Chủng cho biết họ sống được là nhờ người Công Giáo đă cứu họ. Yossi Peled, một trong các viên chức của chính phủ Do Thái hiện nay, cũng là một trong những người sống sót đó. Ông cùng các chị đă được một gia đ́nh Công Giáo Bỉ cứu sống. Theo Tenembaum, việc thành lập nhà nước Do Thái một phần lớn cũng nhờ công Đức TGM Angelo Roncalli (sau này là GH Gioan XXIII), người đă vận động với Đức GH Piô XII để không có trở ngại nào xẩy ra cho lá phiếu ủng hộ nhà nước Do Thái. Đàng khác, khi c̣n là sứ thần Ṭa Thánh tại Istanbul, Đức TGM Roncalli đă cứu sống hàng ngàn người Do Thái. Vị sáng lập viên c̣n cho hay: Qũy Wallenberg đă tổ chức một ủy ban đặc biệt để nh́n nhận công lao của Đức Giáo Hoàng. Ông kêu gọi cần phải thực hiện nhiều bước tiến hơn nữa: tỷ dụ về phiá Ṭa Thánh, xin hăy mở rộng Văn Khố mật, về phía Do Thái, cũng xin mở rộng hơn nữa các văn khố hiện do Yad Vashem lưu trữ. Ông cũng khuyến cáo nên để các giáo sĩ Do Thái người Ư như Meir Lau, một người sống thoát Nạn Diệt Chủng, tham gia các cuộc thảo luận… Ông nhấn mạnh việc người Do Thái cần phải tỏ ḷng biết ơn người Công Giáo, là những người đă bất chấp hiểm nguy tới tính mạng để cứu anh chị em họ lúc ấy bị Quốc Xă bách hại. Đu dây Cha Thomas D. Williams, thuộc Đạo Binh Chúa Kitô, và là một thần học gia người Mỹ sống tại Rôma, tiếp tục nhận định về chuyến tông du Đất Thánh của Đức Thánh Cha. Cha cho rằng tại Do Thái, Đức Thánh Cha như đang phải đi trên một sợi dây giăng cao và dù bị chỉ trích, ngài vẫn kiên tŕ trong sứ điệp của ngài. Theo cha Williams, một số báo chí ra ngày 12 tháng Năm tại Do Thái cho chạy hàng tít lớn than phiền là lời ân hận của Đức Giáo Hoàng khi tới thăm Đài Tưởng Niệm Yad Vashem, đối với các nạn nhân của Diệt Chủng, không được thỏa đáng lắm. Nhưng Cha cho hay: phần lớn những than phiền này đề cập tới việc ngài bỏ sót, tức việc đáng lẽ ra ngài nên làm, hơn là tới việc ngài thực sự nói hay làm. Dù ngài đă minh nhiên tưởng niệm biến cố Diệt Chủng (Shoah) trong bài diễn văn đầu tiên tại Do Thái và dứt khóat lên án chủ nghĩa bài Do Thái, không thiếu báo chí cho rằng ngài không tiến xa đủ. Có báo c̣n cho rằng các hạn từ như “Quốc Xă” hay “tàn sát”, “sát nhân” đă không có trong bài diễn văn tại Yad Vashem, trong khi có báo nghĩ rằng đáng lư ra Đức Giáo Hoàng nên xin lỗi về điều họ nghĩ người Công Giáo đă đồng lơa trong việc Diệt Chủng. Lại cũng có tờ c̣n bắt lỗi Đức GH đă ‘tham gia’ quân đội Đức hồi ấy (dù sau đó ngài đă tự ư rời bỏ hàng quân) và đă tỏ ra quá ít xúc động trong bài diễn văn tại Yad Vashem. Người ta khó mà biết phải bắt đầu từ đâu trước làn sóng chỉ trích này. Xem ra, một số thính giả của Đức Giáo Hoàng không hài ḷng với bất cứ điều ǵ ngài nói hay làm, sẵn sàng nhẩy bổ vào ngài và khẩn cầu trái đất hăy nuốt chửng ngài đi cho rồi. Đáp lại những ngôn từ hết sức thành thật và khiêm nhường về ḥa b́nh và hoà giải, người ta đă coi ngài như người đích thân phải chịu trách nhiệm đối với nỗi thống khổ của người Do Thái trên thế giới. Cha Williams cảm thấy không làm sao giải thích cho một số người Do Thái hiểu rằng: Đức Giáo Hoàng không phải là mẫu người dễ xúc cảm ở bề ngoài, cho nên, bất kể họ mong chờ ở ngài thứ thổ lộ tâm t́nh chan chứa nào, th́ điều ấy cũng không tương ứng với bản chất thực sự của ngài. Cha chỉ c̣n biết mời họ nh́n kỹ vào chính quyết định có tính bản thân của ngài khi dám đề cập đến vấn đề ấy một cách thành thật, và đă đi thăm đài tưởng niệm nạn nhân Diệt Chủng ngay ngày đầu tiên đặt chân lên Do Thái (điều mà không ai bắt ngài phải làm như thế)… Tiếc thay, những luận điểm như thế đă rơi vào quăng không. Trong khi đó, ở cực bên kia của chính phổ (political spectrum), xúc cảm cũng dâng lên rất cao. Sáng nay, 12 tháng Năm, cha Williams nhận được một điện thư khá sắc bén của một Kitô hữu ở Giải Gaza. Anh cực lực phê phán các phúc tŕnh từ trước đến nay về chuyến tông du đă chỉ biết nhằm vào người Do Thái. Anh đặt câu hỏi “C̣n chúng tôi th́ sao?” và sau đó liệt kê hàng loạt những lời kết án trước sự đối xử tàn tệ của nhà nuớc Do Thái đối với người Palestine. Anh viết “Có lẽ qúy vị quên mất rằng Do Thái đă được xây dựng trên máu và nhà cửa của hàng ngàn người Công Giáo và Kitô hữu Palestine. Có lẽ qúy vị quên mất rằng Do Thái đang xây một bức tường phân biệt chủng tộc, một bức tường c̣n tệ hơn bức tường Bálinh và tệ hơn chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi”. Bức điện thư c̣n nói nhiều hơn nữa… Cha Williams bỗng thấy được phần nào điều Đức Thánh Cha hẳn đang kinh qua khi ngài cố gắng lèo lái qua các băi śnh cực kỳ khó khăn của những bến bờ t́nh cảm tôn giáo cực mạnh, hiện đang tràn ngập vùng đất này. Xem ra, ngài đang đóng vai người đi dây thiêng liêng. Chỉ cần nghiêng qua trái hay qua phải một chút, liền bị dán cho cái nhăn hiệu không nhạy cảm hay tàn ác. Tệ hơn nữa, dù ngài cố gắng giữ hoàn toàn thăng bằng, họ vẫn cho là chưa đủ. Xem ra, một số quan sát viên không thèm để tâm tới ư định thật sự của Đức Giáo Hoàng trong cuộc hành hương này hay bất cứ nội dung tích cực nào trong sứ điệp của ngài. Thay vào đó, họ chỉ biết lục lọi các lời ngài nói và các việc ngài làm để t́m cớ mà bắt lỗi. Bất chấp những thái độ như thế, Đức Giáo Hoàng tỏ ra hết sức điềm đạm và thanh thản, dùng hết các xác tín tâm linh cũng như niềm tin tưởng hoàn toàn vào ơn thánh của Chúa để đem điều thiện tới cho vùng này. Th́ giờ của ngài, v́ thế, thực tế đầy rẫy các hoạt động, đôi khi mỗi giờ là một biến cố khác nhau, và lúc nào cũng duy tŕ được một tinh thần lạc quan không lay chuyển. Theo nhận định của Cha Williams, ít nhất cũng có một người có thể so sánh được với Đức Thánh Cha, đó là Tổng Thống Do Thái, Simon Peres. Trong diễn văn chào mừng Đức GH tại phi trường Tel Aviv, ông là người hơn ai hết nắm được tầm quan trọng của chuyến tông du này khi nhấn mạnh: “Các nhà lănh đạo tâm linh có khả năng dọn đường cho các nhà lănh đạo chính trị. Họ dọn sạch các băi ḿn vốn cản trở đường dẫn tới ḥa b́nh. Các nhà lănh đạo tâm linh giảm thiểu sự thù nghịch, để các nhà lănh đạo chính trị không cần dùng tới các phương tiện phá hoại”. Đối với những ai chỉ trích cho rằng chuyến tông du của Đức GH không hữu hiệu hay không có “răng”, th́ lời lẽ của ông Peres xem ra hết sức xác đáng và sáng suốt. Ông nói: “Chúng ta không cần có thêm xe bọc thép nhưng là sự lănh đạo thiêng liêng có linh hứng”. Đó chính là điều Đức Bênêđíctô đang mang tới cho khu vực bất ổn này. Không phải thiếu niên Hitler Một số báo chí ở Do Thái sai lầm cho rằng cậu thiếu niên Joseph Ratzinger từng tham gia Đoàn Thiếu Niên Hitler (Hitlerjugend). Cha Federico Lombardi, giám đốc pḥng báo chí của Ṭa Thánh, trong một cuộc họp báo vào ngày 12 tháng Năm tại Giêrusalem, tuyên bố rằng: điều đó không đúng. Cậu thiếu niên sau này lên ngôi Giáo Hoàng, hiệu là Bênêđíctô XVI, chưa bao giờ t́nh nguyện làm thành viên của Hitlerjugend (HJ), vốn là một đoàn gồm các thiện nguyện viên cuồng tín và đầy ư thức hệ. Cha Lombardi sau đó minh xác thêm rằng lúc Hitlerjugend (HJ) c̣n có tính thiện nguyện, cả Đức GH lẫn người anh ruột của ngài đều không tham gia phong trào ấy. Nhưng năm 1941, khi Quốc Xă ra đạo luật buộc mọi thanh thiếu niên Đức phải gia nhập tổ chức này, th́ anh trai ngài là George Ratzinger có gia nhập. Ngài th́ c̣n quá trẻ, nhưng sau đó, khi đă là chủng sinh rồi, ngài có đăng kư. Tuy nhiên lúc sống bên ngoài chủng viện, ngài không bao giờ trở lại sinh hoạt trong tổ chức ấy nữa. Điều ấy gây cho ngài trở ngại lớn, v́ không có thẻ hội viên HJ sẽ không được giảm học phí. Theo lời Đức Giáo Hoàng thuật lại trong “Muối Đất”, th́ vị giáo sự toán của ngài thoạt đầu khuyên ngài nên trở lại với tổ chức, dù chỉ một lần thôi, để lấy được thẻ hội viên. Nhưng khi thấy ngài nhất quyết không muốn, đích thân ông đă lo chạy được thẻ hội viên kia, nhờ thế ngài thoát không phải sinh hoạt trong HJ. Cha Lombardi cũng nhân dịp này trả lời một số lời chỉ trích cho rằng Đức Giáo Hoàng chỉ nhắc đến “hàng triệu” chứ không hẳn “sáu triệu” người Do Thái và không nói ǵ tới gốc gác Đức của ḿnh. Theo cha, trong bài diễn văn tại Yad Vashem, Đức Giáo Hoàng chọn chủ đề tưởng niệm và khai triển ư niệm tên tuổi. Bài diễn văn ấy không phải là một khảo luận về nạn Diệt Chủng và cha cho hay: trong các diễn văn khác, Đức Giáo Hoàng có nhắc đến nước Đức và quá khứ của ngài cũng như chủ nghiă Quốc Xă. Cha nhận định: “Ngài không thể nhắc đến mọi điều mỗi lần phát biểu. Mặt khác, sáng nay (12/5), ngài đă nhắc đến sáu triệu người Do Thái chết rồi, điều ấy chúng ta không nên quên”, cha có ư nói tới bài diễn văn đầu tiên của Đức GH khi mới đặt chân xuống phi trường quốc tế Tel Aviv, chỉ cách bài diễn văn ở Yad Vashem có vài giờ đồng hồ. Theo Cha Lombardi, Đức Bênêđictô XVI không hề mích ḷng khi báo chí thay đổi hay tạo vấn đề với lời lẽ của ngài. “Ngài không phản ứng một cách hời hợt hay ngay tức khắc. Ngài rất nhẫn nại và sẵn sàng lắng nghe người khác, mọi người đều có thế gióng lên các ư nghĩ của ḿnh. Quả thực, ngài cảm thấy không được người ta hiểu đúng, và tôi cũng thấy thế, nhưng chúng tôi biết rơ thế gian như thế nào và thái độ người ta ra sao. Không phải lúc nào người ta cũng muốn hiểu đúng; đôi khi có những thiên kiến và không phải ai cũng cởi mở với thái độ sẵn sàng biết lắng nghe”. Thăm địa điểm được cả ba tôn giáo độc thần tôn kính Hôm nay 12 tháng Năm, tại Giêrusalem, Đức Giáo Hoàng tới thăm Núi Đền Thờ (Temple Mount). Suy nghĩ về ư nghĩa thiêng liêng của địa điểm này, ngài nói rằng: “tại đây, các nẻo đường của ba tôn giáo độc thần vĩ đại của thế giới đă gặp nhau, nhắc chúng ta nhớ tới điều chúng ta đang chung chia. Mỗi tôn giáo đều tin vào Thiên Chúa Độc Nhất, Đấng tạo dựng và thống trị mọi loài. Mỗi tôn giáo đều nh́n nhận Abraham là tổ phụ của ḿnh, một con người của đức tin được Thiên Chúa ban cho hồng ân đặc biệt. Mỗi tôn giáo đều có số tín đồ lớn lao trong nhiều thế kỷ và từng linh hứng cả một gia tài thiêng liêng, trí thức và văn hóa phong phú”. Khu vực Núi Đền Thờ rất quan trọng đối với Kitô Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo. Tại đây, Vua Salômôn đă xây đền thờ đầu tiên và được Vua Hêrôđê tái thiết. Nó là địa điểm của 2 đền thờ Hồi Giáo, và được người Hồi Giáo coi là địa điểm hành hhương thứ ba, sau Mecca và Medina, và là nơi tiên tri Mohammed về trời. Các Kitô hữu nhận nó là nơi Chúa Kitô nói tới việc Đền Thờ bị hủy diệt. Mái ṿm vàng ánh và h́nh bát giác của Đền Núi Đá (the Rock) là ṭa kiến trúc cổ xưa nhất c̣n tồn tại đến nay của Hồi Giáo tại Đất Thánh. Tại đây, Đức Giáo Hoàng được đại giáo sĩ Muhammad Ahmad Hussein của Giêrusalem nghênh đón. Đức GH phát biểu tại đây rằng địa điểm này khuyến khích mọi người có thiện chí làm việc với nhau để vượt thắng các hiểu lầm và tranh chấp của quá khứ và để cùng nhau lên đường đối thoại một cách chân thành ḥng xây dựng cho được một thế giới công lư và ḥa b́nh cho các thế hệ tương lai”. Điểm tựa của đ̣n bẩy Đức Thánh Cha nh́n nhận rằng hiện đang có sự cám dỗ muốn nói xuôi ngược về khả năng thành công trong cuộc đối thoại liên tôn. Nhưng theo ngài, “chúng ta có thể bắt đầu bằng cách tin rằng Thiên Chúa Độc Nhất chính là nguồn vô tận của công lư và nhân lành, v́ nơi Người, cả hai điều này đều hiện diện một cách gắn bó như một. Những ai tuyên xưng danh Người đều được ủy thác cho nhiệm vụ phải không mệt mỏi cố gắng đạt tới sự chính trực trong khi không quên mô phỏng ḷng hay tha thứ của Người, bởi hai đức tính ấy đều nội tại hướng tới sự chung sống ḥa b́nh và hoà hợp của toàn thể gia đ́nh nhân loại”. Đức Giáo Hoàng cho rằng chính v́ lư do trên, những ai “thờ lạy Thiên Chúa Độc Nhất phải chứng tỏ ḿnh vừa đặt cơ sở bên trong, vừa qui hướng về tính hợp nhất của toàn bộ gia đ́nh nhân loại”. Ngài giải thích thêm: “Nói cách khác, trung tín với Thiên Chúa Độc Nhất, Đấng Hóa Công, Đấng Tối Cao, sẽ dẫn tới việc nh́n nhận rằng các hữu thể nhân bản, xét trong căn bản, đều có liên hệ với nhau, v́ sự hiện hữu của mọi người đều do một nguồn gốc duy nhất mà có và được qui chiếu về cùng một đích điểm chung. Được in dấu bằng h́nh ảnh không bao giờ phai mờ của Thiên Chúa, họ được kêu gọi đóng một vai tṛ tích cực vào việc hàn gắn các chia rẽ và cổ vũ t́nh liên đới nhân bản”. Đức GH quả quyết rằng: “như thế, t́nh yêu đối với Thiên Chúa Độc Nhất và t́nh yêu đối với người lân cận của ḿnh đă trở nên điểm tựa của đ̣n bẩy, quanh đó mọi sự phải xoay vần. V́ người Hồi Giáo và người Kitô Giáo vốn đang đẩy mạnh cuộc đối thoại đáng kính mà họ đă khởi đầu, nên tôi cầu xin để họ biết thăm ḍ việc Thiên Chúa gắn bó chặt chẽ xiết bao đối với tính hợp nhất của gia đ́nh nhân loại. Bằng cách tuân thủ kế hoạch đầy yêu thương dành cho công cuộc sáng tạo, bằng cách học hỏi lề luật đă được ghi khắc trong vũ trụ và được vun trồng trong trái tim con người, bằng cách suy niệm hồng phúc mầu nhiệm trong việc Thiên Chúa tự mạc khải ḿnh ra, ước mong mọi người theo Người tiếp tục nh́n ngắm sự tốt lành tuyệt đối của Người, không bao giờ che mắt khỏi đường lối của Người như đă được phản ảnh trên khuôn mặt người khác”. Xem sét cơ sở chung với người Do Thái Giáo Trong cuộc gặp gỡ với hai vị trưởng giáo sĩ của Israel vào ngày 12 tháng Năm hôm nay tại Ṭa Đại Giáo Trưởng, Đức Thánh Cha nhận định rằng người Do Thái Giáo và người Kitô Giáo có chung một quan tâm đối với việc lan tràn chủ nghĩa tương đối về luân lư. Trong một bài diễn văn nhấn mạnh nhiều lần tới các mối liên hệ đang gia tăng giữa Do Thái Giáo và Giáo Hội, Đức Thánh Cha tuyên bố: “Hôm nay, tôi được dịp nhắc lại rằng Giáo Hội Công Giáo tuyệt đối dấn thân vào con đường ḿnh đă chọn tại Công Đồng Vatican II nhằm việc ḥa giải chân thực và lâu dài giữa người Kitô hữu và người Do Thái Giáo”. Xây dựng hợp nhất Đức GH nhắc tới cuộc đối thoại đang diễn tiến giữa Phái Đoàn của Ủy Ban Liên Lạc Tôn Giáo với Người Do Thái của Ṭa Thánh và Phái Đoàn Liên Lạc với Giáo Hội Công Giáo của Ṭa Đại Giáo Trưởng Do Thái. Ngài cám ơn các công việc của họ. Nhân dịp này, ngài đề cập tới một số vấn đề hai bên cùng có chung: “Người Do Thái Giáo và người Kitô Giáo đều quan tâm đến việc duy tŕ ḷng tôn trọng đối với tính thánh thiêng của sự sống con người, tính trung tâm của gia đ́nh, một nền giáo dục lành mạnh cho thanh thiếu niên và tự do tôn giáo cũng như tự do lương tâm cho một xă hội lành mạnh”. Ngoài ra, sự quan tâm chung đối với chủ nghĩa tương đối về luân lư và những xúc phạm của nó tới phẩm giá nhân vị cũng mỗi ngày một gia tăng. Đức Giáo Hoàng cũng kêu gọi phải dùng lư trí như dụng cụ xây dựng sự hợp nhất. Ngài nói rằng muốn tiếp cận các vấn đề đạo đức học có tính khẩn thiết nhất thời ta, hai cộng đồng cần phải khuyến khích giáo dân ḿnh dấn thân vào b́nh diện lư trí, nhưng đồng thời phải chỉ cho họ thấy: nền tảng tôn giáo mới duy tŕ lâu bền các giá trị luân lư. Cầu xin Thiên Chúa Trước khi tới thăm Ṭa Đại Giáo Trưởng, Đức Thánh Cha đă thăm Bức Tường Than Khóc. Đây là phần c̣n lại, dài khoảng 50 bộ Anh, thuộc bức tường nguyên thủy của Đền Thờ Giêrusalem xưa. Giống Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II năm 2000, Đức Bênêđíctô XVI cũng dừng lại đây mấy phút và lưu lại một lời cầu nguyện được viết sẵn trên một mảnh giấy và ghim vào một trong những khe hở trên tường. Nguyên văn lời cầu nguyện ấy như sau: “Lạy Thiên Chúa muôn đời, trong chuyến viếng thăm Giêrusalem, Thành Phố của Ḥa B́nh, quê hương thiêng liêng của người Do Thái Giáo, người Kitô Giáo và người Hồi Giáo, con xin tŕnh trước nhan thánh Chúa các niềm vui, niềm hy vọng và khát mong, các thử thách, đau đớn và khổ đau của toàn thể dân Người khắp nơi trên thế giới. Lạy Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac và Thiên Chúa Giacóp, xin hăy lắng nghe tiếng kêu của người buồn phiền, sợ sệt, và mất hết hy vọng; xin hăy ban ḥa b́nh cho Đất Thánh, cho Trung Đông, cho toàn thể gia đ́nh nhân loại; xin đánh động tâm hồn mọi người kêu cầu danh Chúa, để họ khiêm hạ bước theo nẻo đường công lư và xót thương” Kêu gọi chấm dứt việc ra đi khỏi Đất Thánh Trong thánh lễ chiều nay, 12 tháng Năm, cử hành bên ngoài tường thành Giêrusalem, Đức Thánh Cha ngỏ lời với các Kitô Hữu tại Đất Thánh. Ngài cho họ hay: toàn thể Giáo Hội hỗ trợ họ và kêu gọi các nhà cầm quyền t́m cách chấm dứt việc buộc họ phải ra đi. Đức GH quả quyết: “Cha muốn nh́n nhận các khó khăn, sự thất vọng, và nỗi đau, nỗi khổ mà nhiều người trong chúng con từng chịu đựng xưa nay do các tranh chấp từng giáng xuống mảnh đất này, và kinh nghiệm đắng đót phải rời cư mà rất nhiều gia đ́nh chúng con từng kinh qua”. Thánh Lễ này, chủ yếu cử hành bằng tiếng Latinh và tiếng Ả Rập, diễn ra tại Thung Lũng Giosaphát, đối diện với Vương Cung Thánh Đường Diệtsimani và Núi Cây Dầu, nơi Chúa Giêsu hấp hối trước khi chịu đóng đinh. Địa điểm này, được chuẩn bị đón khoảng 6,000 người, đánh dấu cuộc cử hành Thánh Thể ngoài trời đầu tiên của Đức Thánh Cha tại khu vực thành phố và là biến cố công cộng cuối cùng trong ngày của ngài. Lúc khởi đầu Thánh Lễ, thượng phụ Latinh của Giêrusalem là Đức TGM Fouad Twal, chào mừng Đức Giáo Hoàng. Ngài nhắc tới hoàn cảnh của người Công Giáo tại Đất Thánh mà ngài mô tả là “một đoàn chiên đang thưa dần v́ phải chịu cảnh tản cư”. Thượng phụ nói tiếp: “chung quanh chúng con, là nỗi thống khổ của nhân dân Palestine, những người vốn mộng ước được sống trong một Quốc Gia Palestine tự do và độc lập, nhưng chưa thấy điều ấy được thực hiện; là nỗi thống khổ của nhân dân Do Thái, những người vốn mộng ước một cuộc sống b́nh thường trong ḥa b́nh và an ninh, nhưng bất kể sự hùng mạnh của họ về quân sự và truyền thông, họ cũng vẫn chưa thấy mộng ước kia được thể hiện. Trong khi đó, cộng đồng quốc tế, giống hệt các môn đệ yêu dấu của Chúa Giêsu, đứng ở một bên, cụp đôi mắt dửng dưng, làm ngơ nỗi thống khổ của Đất Thánh, một thống khổ đă diễn tiến cả 61 năm nay, và không hề nghiêm chỉnh đánh động ḿnh trong việc t́m ra một giải pháp công chính”. Đức Tổng GM nói tiếp: trong cái “vũng nước mắt này, chúng con dâng lời cầu nguyện để Giêrusalem được cả hai dân tộc và ba tôn giáo cùng chia sẻ”. Không bị lăng quên Trong bài giảng Thánh Lễ, Đức Thánh Cha hy vọng: đối với các Kitô hữu tại Đất Thánh, sự hiện diện của ngài sẽ là một “dấu chỉ cho thấy các con không bị lăng quên và sự hiện diện cũng như làm chứng kiên tŕ của các con thật sự là qúy giá trước mặt Chúa và hết sức cốt yếu đối với tương lai của lănh thổ này”. Đức Thánh Cha nói thêm: chính nhờ nền văn hóa Kitô Giáo lâu đời và vững mạnh cũng như ḷng tin tưởng sắt đá vào các lời Chúa hứa của họ, họ được kêu gọi trở thành “ngọn hải đăng đức tin cho Giáo Hội hoàn vũ” và là “chất men của ḥa hợp, của khôn ngoan và quân b́nh” trong một xă hội “đa nguyên, đa sắc tộc và đa tôn giáo”. Đức GH ghi nhận “thực tế đau thương” của việc rất nhiều Kitô hữu đă phải bỏ xứ ra đi, một thực tế tuy hiểu được nhưng “đă làm cho thành phố này trở nên nghèo nàn xiết bao về văn hóa và tâm linh”. Cơ Quan Trông Coi Đất Thánh tường tŕnh rằng từ năm 1946, cộng đồng Kitô hữu tại Giêrusalem đă giảm từ 20% xuống c̣n 2% tổng số dân thành. Điều ấy khiến Đức Giáo Hoàng phải khẩn thiết kêu gọi: “Tại Đất Thánh, vẫn c̣n chỗ cho mọi người!”. Ngài yêu cầu các nhà cầm quyền hăy tôn trọng, nâng đỡ và trân quí sự hiện diện của các Kitô hữu tại đây. Với các Kitô hữu, Đức Thánh Cha bảo đảm với họ rằng toàn thể Giáo Hội và Ṭa Thánh vẫn liên đới, yêu thương và hỗ trợ họ.Sứ điệp của Đức Thánh Cha, được tín hữu vỗ tay chào đón ngay từ những chữ đầu tiên, chủ yếu nói về hy vọng dựa trên sự phục sinh của Chúa Kitô. Ngài nói rằng: “Tại Thành Thánh này, nơi sự sống đă chiến thắng sự chết, nơi Chúa Thánh Thần được tuôn đổ làm hoa trái đầu mùa của sáng thế mới, hy vọng vẫn tiếp tục đánh trả thất vọng, ngă ḷng và nản chí, trong khi ḥa b́nh vốn là ơn phúc và lời kêu gọi của Chúa tiếp tục bị đe dọa bởi ḷng vị kỷ, tranh chấp, chia rẽ và gánh nặng sai lầm dĩ văng”. Ngài thúc giục tín hữu ôm lấy niềm hy vọng của Phúc Âm mà “làm chứng cho sức mạnh của tha thứ, và cho người ta thấy rơ bản chất sâu sắc nhất của Giáo Hội vốn là dấu chỉ và là bí tích của một nhân loại ḥa giải, đổi mới và nên một trong Chúa Kitô” Tầm quan trọng sinh tử Trước đó, Đức Thánh Cha cho triệu tập các nhà lănh đạo Giáo Hội Công Giáo của Đất Thánh tại Pḥng Trên Lầu, nơi lịch sử của biến cố Hiện Xuống, để cùng đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng (Regina Caeli). Ngỏ lời với các vị bản quyền, trong đó có Thượng Phụ Latinh, các vị giám mục các Giáo Hội thuộc nhiều nghi lễ khác nhau nhưng hiệp thông với Ṭa Thánh, và vị trông coi Đất Thánh, Đức Thánh Cha nhấn mạnh tới sự “hiệp thông tâm trí” nhờ Phép Thánh Thể. Đức GH Bênêđíctô XVI quả quyết rằng: “các Giáo Hội Kitô Giáo khác nhau, đang có mặt ở đây, tượng trưng cho một gia tài phong phú và nhiều sắc thái tâm linh và là dấu chỉ của nhiều h́nh thức đa dạng trong việc hành động qua lại giữa Phúc Âm và các nền văn hóa dị biệt” cũng như nhắc ta nhớ tới sứ mệnh “rao giảng t́nh yêu phổ quát của Thiên Chúa” và qui tụ mọi người vào “một gia đ́nh duy nhất” của Người. Ngài nhận định rằng điều quan trọng có tính sinh tử là người Kitô hữu phải hiện diện tại Đất Thánh để phục vụ “ích lợi của toàn thể xă hội”. Sau khi rời Nhà Tiệc Ly, Đức GH tới nhà thờ đồng chánh ṭa có tên là Nhà Thờ Tên Cực Trọng Đức Chúa Giêsu, tại đó, ngài được khoảng 300 người nghênh đón, trong đó có nhiều tu sĩ chiêm niệm. Ngài đánh giá “việc tông đồ dấu mặt của các tu sĩ chiêm niệm” và xin các vị tiếp tục cầu nguyện cho sứ mệnh phúc âm hóa của Giáo Hội. Sau đó, Đức Thánh Cha trở lại Ṭa Sứ Thần Ṭa Thánh, nơi ngài gặp mặt các Tổng Lănh Sự của 9 quốc gia đang phục vụ tại Giêrusalem: Bỉ, Ư, Pháp, Hy Lạp, Anh, Tây Ban Nha, Mỹ, Thụy Điển và Thổ Nhĩ Kỳ.
Quê hương độc lập cho người Palestine
Hôm nay, 13 tháng Năm, nhân tới thăm các Lănh Thổ Palestine, Đức Giáo Hoàng nói lên sự yểm trợ đối với mục tiêu một quê hương độc lập cho người Palestine. Nhân dịp này, ngài công bố việc Ṭa Thánh sẽ thành lập một ủy ban song phương với Thẩm Quyền Palestine. Về việc này, ngài nói như sau: Ṭa Thánh đang mong đợi thiết lập thật nhanh “Ủy Ban Song Phương Làm Việc Thường Xuyên đă được dự liệu trong Thỏa Hiệp Căn Bản” kư ngày 15 tháng Giêng năm 2000 giữa Ṭa Thánh và Tổ Chức Giải Phóng Palestine. Cuộc thăm viếng của Đức GH bắt đầu sáng hôm nay khi ngài du hành từ Giêrusalem, nơi ngài c̣n ở tới Thứ Sáu này, và vượt qua biên giới giữa Do Thái và các Lănh Thổ Palestine ở ngay cửa ngơ dẫn tới Mộ Rachel. Ngừng tại dinh chủ tịch ở Bêlem, nơi ngài được chủ tịch Thẩm Quyền Palestine, Mahmoud Abbas, nghênh đón. Tại đây, Đức Thánh Cha phát biểu rằng: “Tôi khẩn khoản xin Đấng Toàn Năng ban ḥa b́nh, một nền ḥa b́nh công chính và bền vững, cho các Lănh Thổ Palestine và toàn vùng”. Ngài bảo đảm với ông chủ tịch rằng: “Ṭa Thánh ủng hộ quyền của dân tộc ngài có một quê hương Palestine độc lập ngay tại mảnh đất tổ tiên, sống an toàn và hoà b́nh với các lân bang, trong các biên giới được quốc tế công nhận”. Đức GH khích lệ quần chúng đang tụ tập để nhânh đón ngài hăy “giữ cho ngọn lửa hy vọng luôn bừng cháy” để t́m ra một giải pháp có thể thoả măn “các nguyện vọng chính đáng về hoà b́nh và ổn định cho cả người Do Thái lẫn người Palestine”. Ngài đặc biệt kêu gọi cộng đồng quốc tế hăy dùng ảnh hưởng của ḿnh mà đem lại một giải pháp. Nh́n nhận cuộc tranh chấp gần đây tại Gaza đă mang lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, Đức GH hy vọng: khu vực ấy sẽ mau chóng được tái thiết với sự trợ giúp của quốc tế. Không nhà Sau đó, ngài tới thăm trại tị nạn Aida, phía bắc Bêlem, nơi khoảng 5,000 người Palestine theo Kitô Giáo và theo Hồi Giáo đang sinh sống. Trên một khán đài dựng gần bức tường xi-măng đánh dấu biên giới Do Thái, cuộc đón tiếp Đức Giáo Hoàng đă diễn ra. Trẻ em tŕnh diễn một điệu vũ với những chiếc ch́a khóa mầu đen, muốn nói lên ước nguyện của các em được trở về “nhà” tại các làng mạc ở Do Thái, và đọc các bài thơ than cho cảnh mất quê hương của các em. Chủ tịch Abbas đọc diễn văn nghênh đón Đức Giáo Hoàng. Ông kêu gọi việc giải quyết các tranh chấp và gửi một sứ điệp ḥa b́nh cho Do Thái với lời kêu gọi hăy rút lại các biện pháp an ninh ngặt nghèo quanh các lănh thổ Palestine. Đức Giáo Hoàng được trao tặng một khăn choàng có thêu Ngôi Sao Đavít của Do Thái Giáo, Mái Ṿm Đền Thờ Đá của Hồi Giáo và vương cung thánh đường Giáng Sinh của Công Giáo, tượng trưng cho ư nguyện hợp nhất giữa ba tôn giáo. Ngỏ lời với đám đông, Đức Giáo Hoàng bày tỏ t́nh liên đới với “những người Palestine không nhà, những người luôn mong mỏi được trở về sinh quán, được sống thường trực tại chính quê hương của ḿnh”. Ngài quả quyết: “Nguyện vọng chính đáng của các bạn có được mái nhà thường trực, có được một Nhà Nước Palestine độc lập, hiện vẫn chưa được thực hiện. Thay vào đó, giống như nhiều người khác trong vùng và ở khắp nơi trên thế giới, các bạn hiện vẫn c̣n bị giam hăm trong ṿng xoáy của bạo lực, tấn công, phản công, trả thù và liên tục hủy diệt”. Ngài nói thêm: “toàn thế giới đang mong đợi cho ṿng xoáy ấy bị phá tan”. Ngài kêu gọi “các sáng kiến táo bạo và giầu tưởng tượng cho việc ḥa giải” nhằm chấm dứt thế bế tắc từng phát sinh do việc bên nào cũng chỉ biết nhấn mạnh tới việc bên kia phải nhượng bộ. Theo ngài, giải pháp lâu dài cho “một cuộc tranh chấp giống như cuộc tranh chấp này chỉ có thể là giải pháp chính trị… Không ai hy vọng nhân dân Palestine và nhân dân Do Thái có thể đạt được giải pháp ấy một ḿnh. Sự yểm trợ của cộng đồng quốc tế hết sức cần thiết”. Do đó, ngài kêu gọi mọi người liên hệ hăy dùng ảnh hưởng của ḿnh để đem lại một giải pháp công chính và lâu dài. Tuy nhiên, ngài nhận định rằng: “các cố gắng ngoại giao chỉ có thể thành công nếu người Palestine và người Do Thái có ư chí phá vỡ chu kỳ gây hấn”. Rời trại tị nạn, Đức Giáo Hoàng lại trở lại dinh chủ tịch một lần nữa để tham dự nghi lễ tiễn chân. Ngài gặp riêng ông chủ tịch và sau đó lại công khai ngỏ lời với đám đông. Đức GH nh́n nhận rằng “thật cảm động sâu xa” được lắng nghe nhiều câu truyện kể về “các điều kiện sống tại đây, tại West Bank và tại Gaza. Ngài cho hay ngài rất buồn khi thấy hoàn cảnh của người tị nạn và quan sát bức tường trông xuống thành phố, bức tường “chia cách người hàng xóm, chia rẽ các gia đ́nh”. Khi sắp rời Bêlem, Ngài bảo đảm với họ: “Tôi sẽ tiếp tục vận dụng mọi dịp may để thúc giục những ai có liên hệ tới những cuộc thương thảo ḥa b́nh hăy cố gắng làm việc nhằm một giải pháp công chính, biết tôn trọng các nguyện vọng chính đáng của cả người Do Thái lẫn người Palestine”. Chỉ trích các Bức Tường Trung Đông Tại Bêlem, Đức GH Bênêđíctô XVI cho hay phải phá sập các bức tường hiện nay ở Trung Đông. Nhưng trước hết, phải phá sập các rào cản đang xây quanh trái tim con người. Sáng nay, 13 tháng Năm, Đức Thánh Cha đă đi thăm các lănh thổ Palestine. Tại đây, ngài đă đọc bốn bài diễn văn công khai, liên tục nhắc đi nhắc lại t́nh liên đới của ngài với nhân dân Palestine. Nhưng lời kêu gọi hoán cải tâm hồn là một chủ đề khác, khá hiển hiện trong các bài diễn văn trên, một hóan cải, theo ngài, phải làm nền cho bất cứ giải pháp nào đối với hàng chục năm đầy bạo lực tại ngay quê hương của Chúa Giêsu. Vừa bước chân tới nơi, ngài đă chào thăm ông Mahmoud Abbas, Chủ Tịch Thẩm Quyền Quốc Gia Palestine. Trong lời chào thăm, ngài trích dẫn Đức GH Gioan Phaolô II để nói với cử tọa rằng “không thể có ḥa b́nh nếu không có công lư, không thể có công lư nếu không có tha thứ”. Ngài xin mọi người “hăy để qua một bên bất cứ bất b́nh và chia rẽ nào vẫn c̣n đang ngăn cản con đường ḥa giải và hăy vươn tay ra một cách đại lượng và đầy cảm thương chào đón mọi người như nhau, không phân biệt” Đặc biệt đối với giới trẻ, tương lai của Trung Đông, ngài nhắn nhủ họ “đừng để những mất mát nhân mạng và những tàn phá mà chúng con từng chứng kiến phát sinh ra cay đắng hay hận thù trong ḷng chúng con. Chúng con hăy can đảm chống trả lại bất cứ cơn cám dỗ nào muốn dùng tới bạo lực hay khủng bố. Thay vào đó, hăy để những ǵ chúng con cảm nghiệm đổi mới quyết tâm của các con trong việc xây đắp ḥa b́nh. Hăy để chúng đổ đầy trái tim chúng con nguyện ước sâu xa đóng góp lâu dài cho tương lai Palestine, để Palestine chiếm được chỗ đứng đúng đắn của nó trong diễn đàn thế giới. Hăy để chúng linh hứng nơi các con các cảm t́nh biết xót thương đối với mọi người đau khổ, biết tha thiết ḥa giải, và vững tin vào khả thể một tương lai huy hoàng”. Tiếp tục tiến lên Tại Công Trường Máng Cỏ, trong Thánh Lễ công cộng, Đức GH cho hay: hoán cải là một phần trong sứ điệp của Bêlem. Ngài khẳng định rằng sứ điệp nơi Chúa Giêsu sinh ra mời gọi người ta “làm chứng nhân cho cuộc chiến thắng của t́nh yêu Thiên Chúa trên hận thù, vị kỷ, sợ sệt và ghét bỏ từng làm què quặt các mối liên hệ nhân bản và tạo ra chia rẽ ngay tại những nơi anh em nên sống ḥa hợp, tạo hủy hoại tại những nơi đáng lư người ta nên xây dựng, tạo thất vọng tại những nơi đáng lư ra hy vọng phải nở rộ!”. Ngài nói thêm: những người sống trong hy vọng cần “không ngừng trở về với Chúa Kitô, một cuộc trở về không phải chỉ được phản ảnh trong hành động mà c̣n trong cả tư duy của ta nữa: phải can đảm từ bỏ những lối suy nghĩ, hành động và phản ứng vô bổ và khô cằn”. Họ cần phải “vun sới một năo trạng ḥa b́nh dựa trên công lư, trên việc tôn trọng các quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người, và dấn thân hợp tác v́ ích chung. Đồng thời phải kiên tâm, kiên tâm trong điều thiện, trong việc bác bỏ tội ác”. Theo ngài, các Lănh Thổ Palestine không phải chỉ cần “những cấu trúc kinh tế và cộng đồng mới. Điều quan trọng hơn cả là một hạ tầng thiêng liêng mới, có khả năng vận dụng được năng lực của mọi người thiện chí, cả đàn ông lẫn đàn bà, để phục vụ giáo dục, phát triển và cổ vũ ích chung. Các bạn có đủ tài nguyên nhân bản để xây dựng tương lai ḥa b́nh và tôn trọng lẫn nhau, là những điều bảo đảm cho một tương lai tốt đẹp hơn cho con cái các bạn. Công tŕnh cao thượng ấy đang chờ đợi các bạn. Đừng sợ!”. Tự giải thoát Buổi chiều cùng ngày, tại trại tị nạn Aida, Đức GH lại nhắc lại một lần nữa nhu cầu phải hóan cải trước khi đạt được ḥa b́nh. Ngài nói: “Cả hai bên bức tường đều cần thật nhiều can đảm nếu muốn thắng vượt sợ sệt và bất tín, nếu muốn chống trả ư muốn trả đũa cho mất mát hay thương tổn. Cần một ḷng hào hiệp để kiếm t́m ḥa giải sau nhiều năm tranh chấp. Ấy thế nhưng lịch sử từng chứng tỏ rằng ḥa b́nh chỉ đến khi hai bên tranh chấp sẵn ḷng vuợt lên trên các bất b́nh của ḿnh và cùng nhau làm việc cho các mục tiêu chung, mỗi bên phải nghiêm chỉnh tiếp nhận các quan tâm và nỗi sợ của bên kia, và cố gắng xây dựng cho được một bầu khí tin tưởng lẫn nhau. Cần phải sẵn ḷng đưa ra các sáng kiến táo bạo và giầu tưởng tượng hướng tới ḥa giải: nếu bên nào cũng nằng nặc đ̣i bên kia phải nhượng bộ, th́ hậu quả chỉ có thể là bế tắc”. Đức Thánh Cha thúc giục cộng đồng quốc tế giúp đem lại giải pháp nhưng nếu người Do Thái và người Palestine không sẵn ḷng tự giải thoát ḿnh ra khỏi cái ṿng luẩn quẩn của gây hấn, th́ các cố gắng quốc tế cũng chỉ vô ích mà thôi. Kitô hữu Palestine xây dựng Giáo Hội Tại Bêlem, hơn 10,000 người đă chen chúc nhau tại Công Trường Máng Cỏ và các đường phố lân cận để lắng nghe Đức Giáo Hoàng khuyên nhủ họ làm chứng nhân cho t́nh yêu Thiên Chúa. Ngài bảo họ “đừng sợ” và khích lệ họ đem mọi sáng kiến cụ thể ra làm việc để củng cố sự hiện diện của họ và đem lại các khả thể mới cho những ai đang bị cám dỗ lên đường ra đi. Đài phát thanh Vatican hôm nay tường tŕnh rằng con số Kitô hữu tại Bêlem gần đây đă giảm từ 80% xuống c̣n 15% dân số và nhiều người t́m đường di cư v́ sự bất ổn của thị trường lao động, bất an chính trị và các đe dọa của một số nhóm quá khích Hồi Giáo. Thượng Phụ Latinh của Giêrusalem, Đức Tổng GM Fouad Twal cũng tường tŕnh cho Đức GH hay “Đức Thánh Cha đang đứng trước một bày chiên đang thưa dần v́ buộc phải rời cư, phần lớn do hậu quả của việc chiếm đóng bất công và mọi tủi nhục, bạo động và hận thù do sự chiếm đóng ấy gây ra”. Đức GH khuyên nhủ họ xây dựng các Giáo Hội địa phương, biến chúng thành những trường thực tập đối thoại, khoan dung và hy vọng, cũng như liên đới và bác ái thực tiễn. Ngài nhấn mạnh nhu cầu không những phải có các cấu trúc mới cho kinh tế và cộng đồng, nhưng quan trọng nhất là hạ tầng cơ sở thiêng liêng. Đáp ứng của Kitô hữu Trong Thánh Lễ tại Bêlem, Thị trưởng Công Giáo là Victor Batarseh nói với hăng tin Zenit rằng sứ điệp của Đức GH khích lệ người Kitô hữu Palestine kiên vững trên mảnh đất quê hương và khuyến khích họ tiếp tục ở lại. Trước đây vốn là một y sĩ, Batarseh phát biểu thêm rằng: “trong tư cách anh chị em của Bêlem, chúng tôi hy vọng việc ngài tới đây sẽ đem lại ḥa b́nh và yêu thương cho mọi người. Sau đó, tại dinh chủ tịch, viên thị trưởng này đă nhân danh mọi Kitô hữu của West Banks chào mừng Đức Thánh Cha. Ông quả quyết: “Tất cả chúng con đều cảm kích về chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha”. Ông mô tả chuyến viếng thăm này là “một biểu tượng vĩ đại của hy vọng, một biểu tượng sẽ linh hứng cho chúng con biết quyết tâm bám trụ vào Đất Thánh như những viên đá sống động”. Một Kitô hữu khác, hiện là một bộ trưởng trong Thẩm Quyền Palestine và là hậu duệ của một gia tộc vốn sinh sống tại Bêlem từ ngày Chúa Giêsu sinh ra, cũng đă thưa chuyện với Đức Thánh Cha. Ông khẳng định mục tiêu ở lại quê hương và góp phần xây dựng một xă hội biết đặt cơ sở trên các giá trị ḥa b́nh và tha thứ. Gaza Dù một số người Công Giáo Palestine từ Gaza tới tham dự Thánh Lễ trên và một số biến cố khác, chỉ có 48 người được nhà cầm quyền Do Thái cấp giấy phép chính thức để tới Bêlem, vượt qua các rào cản an ninh. Đức Thánh Cha không quên ngỏ lời với họ trong Thánh Lễ tại Công Trường Máng Cỏ. Ngài bảo họ: “trái tim cha chào đón anh chị em hành hương từ Gaza đang bị xâu xé v́ chiến tranh”. Nhân dịp này, ngài gửi một sứ điệp cho 1.5 triệu người đang sinh sống tại Giải Gaza, trong đó có 300 người Công Giáo: “Cha xin chúng con đem về các gia đ́nh và các cộng đồng của chúng con ṿng tay nồng nhiệt của cha, và cả nỗi buồn phiền của cha đối với những mất mát, những khó khăn và đau khổ chúng con đang phải chịu đựng”. Ngài cam đoan với họ rằng ngài luôn liên đới với họ trong công tŕnh tái thiết vĩ đại tiếp theo cuộc tranh chấp gần đây với người Do Thái, một tranh chấp đă chấm dứt ngày 18 tháng Giêng vừa rồi, để lại 1,300 người chết. Ngài cũng cho biết: ngài sẽ cầu nguyện để việc cấm vận do người Do Thái áp đặt sau khi phong trào Hamas kiểm soát được Giải Gaza vào năm 2007 được băi bỏ. Trước đó, Đức GH đă bày tỏ hy vọng sẽ có nhiều tự do đi lại hơn, nhất là trong lănh vực liên lạc gia đ́nh và việc lui tới các nơi thánh thiêng. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đă đi bộ tới viếng hang đá Sinh Nhật, nơi Chúa Giêsu sinh ra. Sau đó, ngài tới Bệnh Viện Bác Ái Hài Đồng. Tại đây ngài nói với các bệnh nhân tí hon và gia đ́nh các em rằng: “Đức Giáo Hoàng đang ở cùng các con!” Ngôi sao hy vọng Theo nhận định của Cha Caesar Atuie, thuộc cơ quan Opera Romana Pellegrinaggi, mục tiêu duy nhất của Đức GH khi tới Bêlem là đem hy vọng lại cho một cộng đồng nhiều đau khổ. Theo cha, Bêlem trong mấy ngày qua giống như ngày lễ Giáng Sinh vậy. Mà quả đúng như thế, ngay trong Thánh Lễ tại Công Trường Máng Cỏ, người ta vẫn thoáng nghe được các bài thánh ca Giáng Sinh. Cha Atuire nhận xét: “Thấy dân chúng ở đây, nghe họ ca hát, chúng tôi hiểu ra rằng hôm nay Đức Giáo Hoàng quả đă mang đến mảnh đất này một sứ điệp ḥa b́nh, một sứ điệp hân hoan, để khích lệ nhóm dân vốn sống trong quá nhiều tranh chấp”. Nhân dịp này, Đức Thánh Cha đă nhắc lại điều Phúc Âm Thánh Luca từng đề cập tới, tức việc Chúa Giêsu là dấu chỉ mâu thuẫn. Ngày nay, thực tại tại Bêlem cũng là một dấu chỉ mâu thuẫn, nhưng theo Đức Thánh Cha, nó là một dấu chỉ mâu thuẫn mang theo hy vọng. Bởi sứ điệp của Chúa Giêsu vốn là sứ điệp đem lại hy vọng cho ḥa b́nh, cho tương lai tốt đẹp của dân tộc này. Sứ điệp ấy cũng được Đức Thánh Cha nhắn gửi các nạn nhân của cuộc tranh chấp mới đây tại Giải Gaza cũng như toàn thể dân chúng của vùng ấy, và những người hiện c̣n đang sinh sống trong trại tị nạn Aida của người Palestine. Niềm hy vọng mà Đức GH nhắn gửi bao hàm việc nh́n nhận các quyền lợi của nhân dân Palestine, trong đó có quyền độc lập trên chính mảnh đất cha ông của họ. Với quyền độc lập ấy, họ có khả năng hoàn tất các dự án phát triển, công lư và ḥa b́nh cho toàn dân. Tha thứ đôi khi có nghĩa phải quên Cha Thomas D. Williams, LC, tiếp tục nhận định về chuyến đi của Đức GH trên hệ thống CBS. Theo cha, cha rất biết ơn thái độ hiền ḥa của vị Giáo Hoàng người Đức này và cha hiểu được tính độc đáo trong sứ mệnh của ngài tại một vùng đất bị xâu xé v́ phe phái, lúc nào cũng căi cọ về đủ mọi chuyện từ lănh thổ tới những chi tiết vụn vặt về học lư. Sự thực là Đức Thánh Cha không đến Đất Thánh để chơi tṛ chính trị đảng phái, dù là cho chính “đảng phái” của ngài.Thực vậy, Ngài không tới đây chỉ như đại diện cho Giáo Hội Công Giáo, mà thực ra nhân danh mọi người liên hệ, nhân danh chính nhân loại. Ngài lên tiếng nhân danh người Do Thái, ca ngợi gia tài tôn giáo của họ và bênh vực quyền an ninh và tự trị của họ. Ngài lên tiếng nhân danh người Palestine và quyền tự chủ và quyền tự do của họ. Ngài lên tiếng nhân danh người Hồi Giáo, kêu gọi họ hăy xứng đáng nhất đối với truyền thống tôn giáo của họ qua các xác tín tôn giáo thâm hậu và việc thờ phượng tận trái tim đối với Thiên Chúa Độc Nhất. Ngài lên tiếng cho người Kitô Giáo đang sống trong thân phận thiểu số đầy khó khăn, đau khổ. Nói tóm, ngài lên tiếng với mọi người và cho mọi người. Đó chính là tính độc đáo trong tiếng nói và sứ điệp của Đức Giáo Hoàng. Một cách nghịch lư, giữa các thao túng đối với sứ điệp của ngài và đủ mọi thứ than phiền về việc ngài không về phe đủ với họ, ta vẫn thấy nét vĩ đại và độc đáo qua việc ngài hiện diện tại đây. Không một nhà lănh đạo thế giới nào đă có thể lên tiếng với cùng một thế giá tinh thần hay cùng một tính vô tư chân thật như ngài. Chính việc ngài từ khước không chơi tṛ chính trị phe phái đă là lư do tại sao đôi khi sứ điệp của ngài bị từ khước hay lư do tại sao sứ điệp ấy lại quan trọng đến thế. Trong khi đó, một trong những người cay cú nhất về việc cho rằng Đức Giáo Hoàng không ân hận đủ đối với Nạn Diệt Chủng chính là Giáo Sĩ Ysrael Meir Lau, chủ tịch đài tưởng niệm Yad Vashem. Ông chỉ trích, cho rằng bài diễn văn của Đức GH “thiếu ḷng cảm thương, hối hận, đau đớn đối với thảm kịch khủng khiếp của sáu triệu nạn nhân”. Cha Williams nhận xét tiếp: theo dơi chương tŕnh truyền h́nh, người ta sẽ thấy Giáo Sĩ Lau ngồi phía bên phải Đức Giáo Hoàng, trông như thể vừa ăn phải món ǵ rất khó chịu đối với dạ dầy. Hóa ra, ông ta đâu phải là người xa lạ ǵ với việc chỉ trích ngôi vị giáo hoàng. Ông ta cũng là người chẳng tiếc lời hạ giá Đức GH Piô XII, ngay cả để bóp méo sự thật. Trong buổi lễ năm 1998 tại Bá Linh để tưởng niệm năm thứ 60 biến cố Bể Kiếng (Kristallnacht) xẩy ra ngày 9 tháng Mười Một năm1938, biến cố làm phát sinh ra cả một thời kỳ bách hại người Do Thái, ông Lau, lúc đó là trưởng giáo sĩ của Do Thái, đă được mời nói truyện. Trong bài diễn văn này, ông đặt câu hỏi: “Hỡi Piô XII, lúc đó ngài đang ở đâu? Tại sao ngài lại im hơi lặng tiếng trong biến cố Bể Kiếng?”. Chỉ có điều Đức Piô XII chỉ được bầu làm giáo hoàng năm 1939, 4 tháng sau ngày Bể Kiếng. Ấy thế mà không ai thấy ông Lau nhúc nhích hối tiếc ǵ về việc hạ nhục Đức Piô XII. Trên chuyến bay tới Do Thái, cha Williams may mắn có dịp đọc lại cuốn tự thuật “Muối Đất” hết sức thẳng thắn của Đức Bênêđíctô XVI. Nên cha mới hiểu tuổi trẻ của Đức Thánh Cha đă bị cản trở tai hại như thế nào do việc Quốc Xă nắm quyền và nhiều người Đức tốt lành đă bị bôi bẩn cách bất công ra sao do cái bút lông Quốc Xă. Nếu người ta phải tin các nhà chỉ trích Đức Bênêđíctô, th́ bất cứ ai sống tại Đức trong các thập niên 1930 và 1940 đều nhất thiết mang tội v́ liên hệ. Rất may, một vài giọng nói quan trọng đang bắt đầu gióng lên tại Giêrusalem yêu cầu những người chỉ trích như trên hăy ngưng đừng làm phiền Đức Giáo Hoàng nữa. Như Noah Frug chẳng hạn. Ông hiện đứng đầu Tổ Hợp Các Tổ Chức Người Sống Sót Nạn Diệt Chủng Ở Do Thái. Theo ông, người ta đă cường điệu các chỉ trích nhằm vào Đức Bênêđíctô XVI. Ông bảo: “Ngài đến đây để đem Giáo Hội và Do Thái Giáo gần lại với nhau, nên ta phải coi chuyến viếng thăm của ngài là tích cực và quan trọng”. Hôm nay, 13 tháng Năm, chú ư đă được chuyển về Bêlem, Thành Vua Đavít và là nơi sinh hạ của Chúa Giêsu Kitô, nhưng đồng thời cũng là một phần thuộc Lănh Thổ Palestine. Vừa tới Bêlem, Đức Bênêđíctô XVI đă không để mất th́ giờ, nên đă bày tỏ lập tức t́nh liên đới tận t́nh của ngài đối với nhân dân Palestine đau khổ và khẳng định quan điểm của Ṭa Thánh liên quan tới quyền tự chủ của họ. Trên lư thuyết, điều ấy không gây ra bất cứ bất đồng nào, v́ quan điểm chính thức của Nhà Nước Do Thái trùng hợp với quan điểm của Ṭa Thánh. V́ cả Do Thái nữa cũng khẳng nhận việc người Palestine có quyền có quê hương tự chủ, miễn là việc ấy không gây hại tới an ninh của Do Thái. Dĩ nhiên, điều tḥng sau mới là vấn đề, Cha Williams kết luận: ở đây, tại Đất Thánh này, người ta có thể thuộc nhiều hậu cảnh khác nhau, có nhiều cảm nghiệm khác nhau, nhưng ai cũng có chung cảm nghiệm này: mọi người đều đau khổ. Ai cũng sẵn sàng kể cho bạn nghe nỗi cay cực hay bất công, hoặc có tính bản thân hoặc có tính lịch sử. Ít ai nhận ḿnh đă gây ra bất công, nhưng ai cũng cho là ḿnh chịu bất công. Điều ấy khiến một quan sát viên như cha Williams thắc mắc: phải chăng tại vùng đất có quá nhiều đau thương tiếc nhớ này, một vùng đất mà người dân hết sức tự hào với “tưởng niệm” này, đôi khi quên đi lại không phải là một nhân đức c̣n cần thiết hơn đấy ư? Hôm nay tại Bêlem, Đức Bênêđíctô XVI thúc giục các thính giả Kitô Giáo hăy “là cây cầu đối thoại và hợp tác trong việc xây dựng một nền văn hóa ḥa b́nh, thay thế cho t́nh trạng bế tắc hiện nay, đầy sợ sệt, gây hấn và chán chường”. Đó cũng là điều chính ngài đang cố gắng trở thành, bằng sự hiện diện, bằng lời nói và bằng quyết tâm kiên nhẫn rao giảng Tin Mừng “hết mùa này qua mùa nọ” (2 Tm 4:2).
Khuyến khích ở lại Nơi Nhập Thể
Hôm nay 14 tháng Năm, Đức Thánh Cha tới thăm Nadarét, tỏ t́nh liên đới với các Kitô hữu của thành phố này. Năm ngoái, Trung Tâm Truyền Thông Công Giáo tại Đất Thánh cho biết Kitô hữu chỉ chiếm 2% dân số của Do Thái và các Lănh Thổ Palestine. Dù con số có cao hơn tại Nadarét, nơi có đến 30% dân là người Kitô Giáo, song con số này cũng đă thay đổi đáng kể từ năm 1946, lúc Kitô hữu chiếm tới 60%, theo số liệu của Viện Amnon Ramon tại Giêrusalem chuyên nghiên cứu về Do Thái Học. Đức Thánh Cha ghi nhận việc nhiều Kitô hữu phải bỏ xứ ra đi v́ hy vọng sẽ kiếm được sự an ổn lớn hơn và một viễn ảnh tươi đẹp hơn. Nhưng ngài khuyên các Kitô hữu c̣n lại hăy noi gương Đức Mẹ “sống ẩn dật tại Nadarét, dù chẳng có bao nhiêu so với sự giầu có hay ảnh hưởng của thế gian”. Ngài thúc giục họ “tin tưởng vào ḷng trung thành với Chúa Kitô và ở lại đây, tại lănh thổ mà Người đă thánh hóa bằng chính sự hiện diện của Người. Điều thiết yếu là chúng con phải nên một với nhau, để Giáo Hội tại Đất Thánh được người ta nh́n nhận một cách rơ ràng như là dấu chỉ và dụng cụ cho sự hiệp thông với Thiên Chúa và cho việc hợp nhất của toàn thể nhân loại”. Nhập thể Việc cử hành Kinh Chiều (Vespers) là biến cố công cộng sau cùng trong ngày Đức Giáo Hoàng có mặt tại Nadarét. Các biến cố trước đó là Thánh Lễ ngoài trời tại Đồi Vực Thẳm (Mount of Precipice), cuộc gặp gỡ với Thủ Tướng Do Thái Benjamin Netanyahu và cuộc gặp gỡ liên tôn tại hội trường đền thờ Truyền Tin. Đền thờ này gồm một hang đá, nguyên thủy vốn là một phần của nhà Đức Mẹ, nơi Thiên Thần Gabriel hiện ra yêu cầu ngài trở thành mẹ Chúa Giêsu. Đức Giáo Hoàng cầu nguyện trước một bàn thờ có bảng đá ghi hàng chữ: "Verbum caro hic carnum est" [và Ngôi Lời thành nhục thân tại đây]. Ngài phát biểu: “quả hết sức cảm động đối với tôi” được hiện diện tại nơi Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Đức Thánh Cha quả quyết: “Sự diệu kỳ của Nhập Thể tiếp tục thách thức ta mở rộng tầm hiểu đối với các khả thể bất tận của quyền năng Thiên Chúa, của t́nh yêu Người dành cho ta, của ư nguyện Người muốn kếp hợp với ta”. Ngài nói thêm: “Mọi ca đoàn thiên thần đều chú mục vào địa điểm này” chờ đợi sự thuận t́nh của Đức Mẹ, một sự thuận t́nh sẽ “phát khởi một chương mới và dứt khoát trong lịch sử thế giới”. Đức GH cho hay: suy nghĩ về điều đó đem lại cho ta hy vọng, hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ tiếp tục đi vào lịch sử của ta, và với một quyền lực sáng tạo, sẽ hành động để hoàn thành được các mục tiêu mà theo tính toán của con người không tài nào có thể thực hiện được. Đức GH khuyên mọi người “đón mời Ngôi Lời Thiên Chúa vào trái tim ta, giúp ta biết đền đáp t́nh yêu của Người và biết dùng t́nh yêu vươn tới người khác”. Sau Kinh Chiều, Đức GH trở lại Giêrusalem, nơi ngài sẽ kết thúc chuyến tông du vào ngày Thứ Sáu. Nền tảng xă hội Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI gợi ư rằng ḥa b́nh tại Trung Đông sẽ được bàn tay các trẻ em mang lại, v́ các em khi noi gương Chúa Giêsu Hài Đồng sẽ dạy cha mẹ biết yêu thương. Đó là lời Đức Giáo Hoàng phát biểu khi cử hành Thánh Lễ lớn nhất trong thời gian tông du tại Nadarét. Khoảng 50,000 tín hữu đă tham dự Thánh Lễ tại Đồi Vực Thẳm, nơi, theo truyền thuyết, những người dân đầy giận dữ của Nadarét định liệng Chúa Giêsu xuống vực thẳm (Xem Lc 4:29). V́ giáo hội địa phương tại Đất Thánh đang mừng năm gia đ́nh, nên Đức Giáo Hoàng đă tập chú sứ điệp của ngài vào gia đ́nh và vai tṛ chủ chốt của gia đ́nh trong xă hội. Ngài khởi đầu bài giảng bằng cách nhắc mọi người nhớ rằng gia đ́nh “trong kế hoạch của Thiên Chúa, vốn đặt căn bản trên ḷng trung thành suốt đời của một người đàn ông và một người đàn bà, được giao ước hôn nhân thánh hiến và chấp nhận hồng phúc chuyển giao sự sống mới của Thiên Chúa”. Theo Đức Thánh Cha, con người thời ta cần phải tái biến chân lư căn bản trên thành của ḿnh biết là chừng nào, một chân lư vốn làm nền cho xă hội, và chứng tá của các cặp vợ chồng quan yếu biết bao nhiêu đối với việc đào tạo lương tâm lành mạnh và xây dựng văn minh t́nh yêu. Những người kiến tạo ḥa b́nh Nhắc đến Chúa Giêsu Hài Đồng và trích dẫn hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, Đức Bênêđíctô XVI tiếp tục xem sét sứ mệnh đặc thù đang thách thức các trẻ em tại Trung Đông. Ngài gợi ư rằng các em có thể đóng một vai tṛ chủ yếu trong vùng. Ngài bảo: “Công Đồng Vatican II dạy rằng trẻ em có một vai ṛ đặc biệt trong việc lớn mạnh về đàng thánh thiện của cha mẹ chúng. Cha xin các con suy nghĩ về điều ấy, và hăy để gương sáng của Chúa Giêsu hướng dẫn các con, không những trong việc trọng kính cha mẹ các con, mà c̣n phải giúp các ngài khám phá đầy đủ hơn mối t́nh yêu từng đem lại cho đời sống ta ư nghĩa thâm sâu nhất của nó”. Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh: “Trong Gia Đ́nh Thánh Gia tại Nadarét, chính Chúa Giêsu dạy Đức Mẹ và Thánh Giuse về sự vĩ đại của t́nh yêu Thiên Chúa, vốn là Cha trên trời của Người, và là nguồn tối hậu của mọi t́nh yêu, là vị Cha mà từ Người mọi gia đ́nh trên trời và dưới đất nhận tên”. Đức Giáo Hoàng mời gọi mọi người: “Các bạn thân mến, trong Lời Nguyện Mở Đầu Thánh Lễ hôm nay, chúng ta cầu xin Chúa Cha ‘giúp chúng ta sống như Thánh Gia, kết hợp nên một trong trọng kính và thương yêu’. Tại đây, chúng ta hăy tái khẳng định cam kết của ta làm chất men khởi động ḷng trọng kính và t́nh yêu trên khắp thế giới”. Phụ nữ Và đây là lần thứ hai trong chuyến tông du Đất Thánh, Đức GH dành chủ đề trong bài nói của ngài để bênh vực phụ nữ. Lần đầu nói tới chủ đề đó là trong Thánh Lễ ngoài trời ở Amman, thủ đô Giođăng. Nhắc đến Đức Maria, người mẹ của Thánh Gia, Đức GH cho hay: “Nadarét nhắc ta nhớ đến nhu cầu phải nh́n nhận và tôn trọng phẩm giá Chúa ban và vai tṛ thích đáng của phụ nữ, cũng như các đặc sủng và tài năng của họ. Bất kể là bà mẹ trong gia đ́nh, là sự hiện diện chủ yếu trong lực lượng lao động, hay trong ơn gọi đặc thù theo chân Chúa trong ba lời khuyên phúc âm tức lời khuyên khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời, người phụ nữ đều có một vai tṛ không thể miễn chước trong việc tạo ra ‘cái sinh thái nhân bản’ mà thế giới chúng ta, mà mảnh đất này, hết sức cần đến một cách khẩn thiết: một môi trường trong đó trẻ em học biết yêu thương và trân quí người khác, biết trung thực và tôn trọng mọi người, biết thực hành các nhân đức xót thương và tha thứ”. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng cũng có một sứ điệp đặc thù gửi các đấng mày râu. Ngài nói: “Ở đây nữa, chúng ta cũng nghĩ tới Thánh Giuse, người công chính mà Thiên Chúa đă muốn đặt đứng đầu gia hộ của Người. Noi gương mạnh mẽ và đầy t́nh cha con của Thánh Giuse, Chúa Giêsu đă học được các nhân đức nam nhi về ḷng đạo đức, ḷng trung tín với lời ḿnh nói, sự liêm chính và cần mẫn làm ăn. Nơi người thợ mộc Nadarét, Người thấy rơ uy quyền, một khi đem ra phục vụ t́nh yêu, th́ vô cùng hữu hiệu xiết bao so với thứ quyền lực chỉ t́m cách thống trị. Thế giới chúng ta cần xiết bao gương sáng, sự hướng dẫn và sức mạnh thầm lặng của những người đàn ông như Thánh Giuse!”. Hợp phẩm giá Chú giải bài đọc sách Sirach trong Thánh Lễ, Đức GH cho rằng bài đọc này tŕnh bày gia đ́nh như một trường học, một trường học “huấn luyện cho các học viên của ḿnh biết thực hành các nhân đức dành cho sự hạnh phúc chân chính và thành đạt lâu bền”. Đức Giáo hoàng nói hêm: “Trong gia đ́nh, mỗi người, bất luận là người trẻ nhất hay là người già nhất, đều được trân qúy v́ chính họ, chứ không bị coi chỉ là phương tiện đạt một mục tiêu khác”. Theo Đức Giáo Hoàng, đó chính là “vai tṛ chủ yếu” của gia đ́nh trong xă hội. Và về phương diện này, “nhà nước có bổn phận hỗ trợ gia đ́nh trong sứ mệnh giáo dục của họ, bảo vệ định chế gia đ́nh và các quyền cố hữu của định chế ấy, và bảo đảm để các gia đ́nh có thể sống và triển nở trong các điều kiện hợp phẩm giá”. Đức Giáo Hoàng cùng các nhà lănh đạo tôn giáo kêu gọi ḥa b́nh Đức GH Bênêđíctô XVI, hôm 14 tháng Năm, nhân tới Galilê, đă gặp gỡ các nhà lănh đạo tôn giáo thuộc nhiều truyền thống, cam đoan với họ: Giáo Hội Công Giáo nhất quyết cổ vũ ḥa b́nh và cùng nhau thăng tiến xă hội. Cuộc gặp gỡ này xẩy ra tại Đền Thờ Truyền Tin, với sự hiện diện của các nhà lănh đạo Kitô Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Druze, để đối thoại và cầu nguyện. Trong bài nói truyện, Đức Giáo Hoàng quả quyết với các nhà lănh đạo này rằng mọi truyền thống tôn giáo đều có chung xác tín này: “Ḥa b́nh là hồng ân của Thiên Chúa”. Tuy nhiên, ngài nói thêm: “không thể đạt được nền ḥa b́nh ấy, nếu không có cố gắng của con người”. Ngài cho biết: “ḥa b́nh lâu bền phát sinh từ việc thừa nhận rằng thế giới tựu chung không phải của riêng chúng ta, nhưng đúng hơn là một chân trời, nơi ta được mời gọi tham dự vào t́nh yêu của Thiên Chúa và hợp tác vào việc hướng dẫn thế giới và lịch sử dưới sự linh hứng của Người”. Theo ngài, “ta không thể làm bất cứ điều ǵ ḿnh muốn với thế giới, nhưng được mời gọi đồng dạng các chọn lựa của ta với lề luật mà Đấng Tạo Hóa đă khắc ghi vào vũ trụ, và mô phỏng các hành động của ta theo sự tốt lành của Thiên Chúa, sự tốt lành từng thấm nhiễm trọn bộ lănh vực tạo dựng”. Đức Bênêđíctô XVI nói rằng Galilê là vùng đất “nổi tiếng về tính đa phức tôn giáo và sắc tộc” và là quê hương của một dân tộc “biết rơ các cố gắng cần phải có để sống một cuộc chung sống ḥa hợp”. Ngài nói với các nhà lănh đạo tôn giáo rằng: “các truyền thống tôn giáo dị biệt của chúng ta có một tiềm năng mạnh mẽ trong việc cổ vũ một nền văn hóa hoà b́nh, nhất là qua việc giảng dạy các giá trị thiêng liêng sâu sắc hơn của nhân tính chung của chúng ta”. Một trách vụ cao qúi Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng tương lai nhân loại sẽ được khuôn định bằng việc “lên khuôn trái tim người trẻ”. Ngài quả quyết: “Các Kitô hữu sẵn sàng tham gia với người Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Druze, và người thuộc các tôn giáo khác trong ước nguyện bảo vệ trẻ em khỏi chủ nghĩa cuồng tín và bạo lực trong khi chuẩn bị cho chúng trở thành người kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn”. Đức Giáo Hoàng khuyến khích các thính giả của ngài “tiếp tục thể hiện việc tôn trọng lẫn nhau trong khi cố gắng làm dịu các căng thẳng liên quan tới các nơi thờ phượng, nhờ thế đảm bảo được một môi trường thanh thản cho việc cầu nguyện và suy niệm tại đây và khắp vùng Galilê”. Ngài bảo đảm việc Giáo Hội Công Giáo cương quyết dấn thân tham gia với các truyền thống khác trong “trách vụ cao qúi” làm đẹp xă hội hơn, và nhờ thế làm chứng nhân “cho các giá trị tôn giáo và tâm linh vốn nâng đỡ cuộc sống công cộng’. Ngài cam đoan: Giáo Hội Công Giáo sẽ “t́m cách đảm bảo rằng ánh sáng chân lư, ḥa b́nh và sự thiện sẽ tiếp tục tỏa chiếu rạng rỡ từ Galilê và sẽ hướng dẫn người khắp mặt địa cầu t́m kiếm tất cả những ǵ cổ vũ cho sự hợp nhất của gia đ́nh nhân loại”. Cùng nhau cầu nguyện Sau bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng, môt đại biểu Do Thái đă hướng dẫn một buổi cầu nguyện được mọi đại biểu các tôn giáo bạn tham gia, trong đó ông hát to: “Shalom! Salaam! Lạy Chúa, xin ban b́nh an cho chúng con. Dona Nobis Pacem!”. Các nhà lănh đạo trên khán đài nắm tay nhau giữa tiếng vỗ tay của cử tọa. Trước đó, trong thánh lễ tại Đồi Vực Thẳm, Đức Giáo Hoàng nh́n nhận có những căng thẳng trong mấy năm gần đây tại khu vực này, từng gây thiệt hại cho các mối liên hệ giữa các cộng đồng Kitô Giáo và Hồi Giáo. Ngài kêu gọi hai cộng đồng “sửa chữa lại sự thiệt hại đă xẩy ra và cố gắng xây những cây cầu để t́m ra đường dẫn tới việc chung sống ḥa b́nh”. Ngài tuyên bố rằng “mọi người hăy từ khước sức mạnh tàn phá của thù hận và thiên kiến, từng giết chết bao linh hồn người ta trước khi giết thân xác họ”. Đức Giáo Hoàng và Thủ Tướng Do Thái nói truyện ḥa b́nh Dù chính sách của Ṭa Thánh về Trung Đông khác với chính sách của Thủ Tướng Do Thái, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI vẫn đă gặp nhà lănh đạo này ngày hôm nay, 14 tháng Năm, để thảo luận cách làm thế nào đẩy mạnh diễn tŕnh ḥa b́nh. Ông Benjamin Netanyahu đă gặp Đức Giáo Hoàng để nói truyện riêng trong ṿng 15 phút tại tu viện Phanxicô ở Nadarét. Cha Federico Lombardi, giám đốc văn pḥng báo chí Ṭa Thánh, tường tŕnh rằng cuộc thảo luận “tập trung vào việc làm thế nào để diễn tŕnh ḥa b́nh được đẩy mạnh”. Ông Netanyahu vốn không ủng hộ ư niệm về một nhà nước Palestine độc lập tại Trung Đông. Về phần ḿnh, Đức Bênêđíctô XVI từng tuyên bố với Chủ Tịch Thẩm Quyền Quốc Gia Palestine, Mahmoud Abbas, vào hôm Thứ Tư rằng “Ṭa Thánh ủng hộ quyền của nhân dân ngài có một quê hương Palestine tự chủ trên mảnh đất tổ tiên, sống an toàn và hoà b́nh với các lân bang, bên trong các biên giới được quốc tế công nhận”. Tuy nhiên, trên đài truyền h́nh Do Thái, ông Netanyahu cho biết ông hài ḷng với cuộc thăm viếng. Ông cho biết ông có yêu cầu Đức Giáo Hoàng ủng hộ t́nh thế với Iran. Tổng thống Iran là Mahmoud Ahmadinejad vốn kêu gọi phải kết liễu Nhà Nước Do Thái. Ủy Ban Song Phương Làm Việc Thường Trực giữa Ṭa Thánh và Do Thái cũng gặp nhau vào khoảng 20 phút để tiếp nối các cuộc thảo luận của họ về Hiệp Ước Căn Bản năm 1993.
Trên đường rời Do Thái, rộng tay với người chỉ trích
Hôm nay, 15 tháng Năm, trên đường rời Do Thái trở lại Rôma, sau tám ngày tại Đất Thánh, Đức Giáo Hoàng một lần nữa đă mạnh mẽ lên án Nạn Diệt Chủng, để phần nào minh xác với những người cho rằng ngài không phản đối đủ thảm kịch kia lúc đến viếng Đài Tưởng Niệm Yad Vashem. Phần lớn những lời chỉ trích tập chú vào việc ngài không chịu dùng từ ngữ “sát nhân” trong bài diễn từ đọc ở đó, và không minh nhiên đích danh nhắc tới Chủ Nghĩa Quốc Xă. Tại buổi lễ tiễn chân tại Phi Trường Quốc Tế Ben Gurion tại Tel Aviv, Đức Giáo Hoàng dành ít phút để nhắc lại toàn bộ chuyến hành hương của ngài, trong đó, ngài đặc biệt nhắc đến lúc thăm đài tưởng niệm, và gọi nó là “một trong những giờ phút long trọng nhất của thời gian tôi lưu lại Do Thái”. Nói rồi Ngài nhắc khéo những ai chỉ trích ngài rằng: “Những giây phút hết sức cảm động ấy khiến tôi nhớ lại cuộc thăm viếng của tôi cách nay ba năm tại tử trại Auschwitz, nơi quá nhiều người Do Thái, vốn là những người mẹ, người cha, người chồng, người vợ, con trai con gái, anh em, chị em, bằng hữu, đă bị tru diệt một cách dă man dưới một chế độ vô thần từng gieo rắc một ư thức hệ bài Do Thái và hận thù”. Đức Thánh Cha nói tiếp: “cái chương lịch sử khiếp đảm ấy không bao giờ được lăng quên hay bác bỏ. Trái lại, các kư ức đen tối ấy phải tăng cường quyết tâm xích lại gần nhau của chúng ta như những chiếc cành của cùng một cây ô-liu, vốn được cùng một rễ nuôi sống và vốn hợp nhất trong cùng một t́nh đệ huynh”. Ở đây, Đức Giáo Hoàng nhắc tới việc ngài cùng Tổng Thống Simon Peres trồng một cây ô-liu tại dinh tổng thống hôm đầu tiên của chuyến viếng thăm Do Thái. Ngài cho hay: cây ô-liu là h́nh ảnh được Thánh Phaolô dùng để mô tả các liên hệ gần gũi giữa người Kitô hữu và người Do Thái Giáo. Trong thư gửi tín hữu Rôma, Thánh Phaolô nói rằng: Giáo Hội của Dân Ngoại giống như nhánh ôliu dại được tháp vào cây ôliu được vun trồng đàng hoàng, tức Dân Giao Ước (cf. 11:17-24). Một số đại diện Do Thái vốn chỉ trích rằng Đức GH không nhắc ǵ tới gốc gác Đức của ngài trong bài diễn văn tại đài tưởng niệm. Đức GH trả lời họ một cách mặc nhiên bằng cách nhắc lại bài diễn văn ngài đọc hồi tháng Năm năm 2006 lúc tới thăm Auschwitz, trong đó, ngài minh nhiên nhắc tới gốc gác ấy. Thực vậy, trong bài diễn văn này, ngài nói rằng: ngài đến thăm Auschwitz trong tư cách “một người con của nhân dân Đức”. Chính v́ thế, ngài có bổn phận phải tới “v́ sự thật và món nợ công chính đối với những người chịu thống khổ tại đây, một bổn phận đối với Thiên Chúa”. Nhân dịp ấy, ngài lên án tội ác của “Chế độ Quốc Xă hung bạo” Bằng hữu Trong bài diễn từ chia tay, đọc trước sự hiện diện của Tổng Thống Simon Peres và Thủ Tướng Benjamin Netanyahu, Đức Giáo Hoàng tỏ bày thiện chí đối với mọi dân tộc. Ngài khẳng định: “Tôi đến thăm xứ sở này như một bằng hữu của người Do Thái, giống hệt như tôi là bằng hữu của nhân dân Palestine”. Theo ngài, bằng hữu phải đau cái đau của nhau. “Không bằng hữu của người Do Thái và của người Palestine nào lại không buồn v́ sự căng thẳng liên tục đang xẩy ra giữa hai dân tộc. Không bằng hữu nào lại không khóc khi thấy những đau thương và mất mát sinh mạng mà cả hai dân tộc này phải kinh qua trong suốt hơn sáu thập niên qua”. Cho nên, ngài lớn tiếng kêu gọi: "Đừng đổ máu nữa! Đừng đánh nhau nữa! Đừng khủng bố nữa! Đứng có chiến tranh nữa!”. Cụ thể hơn, nhân lúc tạm biệt hai người bạn thân yêu này, Đức Giáo Hoàng nói rơ: “Mọi người hăy phổ quát nh́n nhận rằng Nhà Nước Do Thái có quyền hiện hữu, và được hưởng hoà b́nh và an ninh trong các biên giới được quốc tế nh́n nhận. Cũng vậy, mọi người hăy thừa nhận rằng nhân dân Palestine có quyền có một quê hương tự chủ độc lập, được sống hợp phẩm giá và tự do đi lại”. Và sợ có thể bị hiểu lầm, ngài nói thêm: “Hăy biến giải pháp hai nhà nước thành thực tế, chứ không phải là một giấc mơ nữa”. Ngài c̣n cụ thể hơn bằng cách đề cập thẳng tới bức tường phân cách: “một trong các cảnh tượng đau buồn nhất đối với tôi trong chuyến viếng thăm này là bức tường”. Theo ngài, các dân tộc Đất Thánh có thể sống với nhau trong ḥa b́nh và ḥa hợp mà không cần tới những “dụng cụ an ninh và phân cách” như thế. Ngài nói với ông Peres rằng mục tiêu ấy khó đối với cả Do Thái lẫn Palestine. Nên ngài và Giáo Hội Công Giáo khắp thế giới sẽ cầu nguyện để hai dân tộc tiếp tục các cố gắng nhằm xây dựng được một nền ḥa b́nh công chính và lâu bền. Vùng đất màu mỡ Ngài ngỏ lời cám ơn đối với chuyến viếng thăm và hy vọng vào một “nền ḥa b́nh lâu dài dựa trên công lư” và việc “hoà giải cũng như hàn gắn chân chính” tại Đất Thánh. Theo ngài, “vùng đất này quả là một mảnh đất màu mỡ cho cuộc đối thoại đại kết và liên tôn và tôi cầu xin cho các chứng tá tôn giáo phong phú trong vùng này mang lại nhiều hoa trái trong việc hiểu biết và kính trọng lẫn nhau mỗi ngày một thăng tiến hơn”. Ngài nói thêm: “Chúng ta gặp nhau như anh em, những anh em, đôi khi trong lịch sử, có căng thẳng trong liên hệ, nhưng nay cương quyết dấn thân vào việc xây dựng những chiếc cầu tạo t́nh huynh đệ lâu dài”. Không phải chỉ là tạm biệt cho có lệ Đối với cha Thomas D. Williams, LC, việc tiễn chân Đức Giáo Hoàng tại phi trường quốc tế Ben Gurion không phải chỉ là một nghi thức tạm biệt cho có lệ. Thực vậy, Đức GH đă lợi dụng cuộc gặp gỡ cuối cùng với Tổng Thống Sion Peres để nhắc lại các sứ điệp chủ yếu trong chuyến tông du của ngài. Vị giáo hoàng mà nhiều người nghĩ không có khả năng thốt ra lời nào lành mạnh, đă cô đọng trọn mọi sứ điệp của ḿnh trong bài diễn văn chỉ có 859 chữ và chỉ kéo dài không quá 3 phút đồng hồ. Dù sao, trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, ngài cũng đă tóm lược được cốt lơi 29 cuộc gặp gỡ khác nhau trong suốt tuần lễ thăm viếng. Xem ra ngài đă trở lại lớp học đại học một lần nữa để tóm lược bài giảng trong ngày giúp các sinh viên đăng trí nắm vững bài học. Từ h́nh ảnh cây ôliu mà ngài và ông Peres cùng trồng trong dinh tổng thống Do Thái, h́nh ảnh được ngài dựa vào thư Rôma của Thánh Phaolô để nói lên mối liên hệ gần gũi giữa Kitô Giáo và Do Thái Giáo, ngài nhắc đến cuộc gặp gỡ tại Yad Vashem, để ngầm cho những ai chỉ trích ngài thiếu xúc cảm ở đấy hay: ngài “xúc động một cách sâu xa” giống như lúc thăm tử trại Auschwitz cách nay 3 năm, nơi ngài đích danh nói tới gốc gác Đức của ḿnh và minh nhiên nêu danh kẻ tạo ra Nạn Diệt Chủng. Rồi, như để đóng chiếc đinh cuối cùng vào cỗ quan tài, nhất là sau những chỉ trích bất công nhân dịp ngài tha vạ tuyệt thông cho người bác bỏ Nạn Diệt Chủng là GM Richard Williamson, Đức Giáo Hoàng nói: “Cái chương lịch sử khiếp đảm ấy không bao giờ được lăng quên hay bác bỏ”. Chưa hết, bằng một ngôn từ không chút hàm hồ, ngài xác định ngài là bạn của cả Do Thái lẫn Palestine, đau buồn v́ đau đớn và mất mát của cả hai trong suốt hơn 6 thập niên qua. Rồi với một giọng tha thiết chưa từng có trong suốt chuyến viếng thăm này, ngài thống thiết xin hai người bạn hăy ngưng đổ máu để xây dựng ḥa b́nh dựa trên công lư. Để cụ thể hóa điều vừa nói, ngài minh nhiên kêu gọi quyền sống như một quốc gia hay như một nhà nước tự chủ, độc lập, an toàn cho cả người Do Thái lẫn người Palestine, với những biên giới được quốc tế công nhận. Không biết thủ tướng Do Thái, ông Benjamin Netanyahu, có hài ḷng hay không, nhưng hôm trước há ông đă chẳng yêu cầu Đức Giáo Hoàng lên tiếng về việc Iran bác bỏ quyền hiện hữu của Do Thái như một quốc gia đó sao? Tuy ngài không đích danh nêu tên Iran, nhưng há đó không phải là một đáp ứng đầy thiện chí hay sao? Như trên đă nói, điều hết sức cụ thể thứ hai trong bài diễn văn tạm biệt Do Thái (và Đất Thánh nói chung) là bức tường phân cách. Ngài gọi nó là một trong những cảnh tượng đau buồn nhất trong suốt chuyến viếng thăm Đất Thánh. Phá bỏ nó là điều không dễ, nên ngài hứa cầu nguyện để mục tiêu ấy mau thành thực tại. Với bài diễn văn tạm biệt, không ai c̣n mơ hồ về thiện chí và ư định của Đức Giáo Hoàng trong chuyến đi này. Chỉ c̣n phải chờ xem thính giả của ngài phản ứng ra sao trong trái tim họ. Thành công hay không? Trước ngày Đức Giáo Hoàng lên đường trở lại Rôma, Cha Thomas D. Williams, LC, đặt câu hỏi: chuyến đi của ngài có thành công hay không? Như đă thấy, cuộc tông du Đất Thánh chủ yếu không có tính chính trị, mà có tính tâm linh. Ngay từ đầu, Đức Bênêđíctô XVI vẫn nhấn mạnh rằng đây là một chuyến “hành hương” chứ không phải là cuộc du hành hay thăm viếng thông thường. Và mặc dù khía cạnh công khai của nó, cuộc hành hương bao giờ cũng có chiều kích bản thân một cách sâu sắc. Trước hết và đầu hết, Đức Giáo Hoàng là một tín hữu Kitô Giáo, một môn đệ của Chúa Giêsu. Hăy nghĩ việc này có ư nghĩa ǵ đối với Đức Bênêđíctô XVI khi ngài thăm Galilê lần đầu và có lẽ là lần cuối trong tư cách giáo hoàng. Galilê, nơi Thánh Phêrô gặp Chúa Giêsu lần đầu, được Người kêu gọi, rồi bỏ mọi sự mà theo Người, không bao giờ biết ḿnh sẽ trở thành vị giáo hoàng đầu tiên của Giáo Hội Chúa Kitô và là một trong những tử đạo đầu tiên của Giáo Hội ấy. Hăy nghĩ việc này có ư nghĩa ǵ đối với ngài khi ngài lưu lại Giêrusalem và thăm viếng các nơi thánh của nó. Giêrusalem, nơi Chúa Giêsu bị Phêrô chối bỏ, bị Giuđa phản bội, lập Phép Thánh Thể, và hiến mạng sống cho chúng ta trên thánh giá. Giêrusalem, nơi Chúa Giêsu trỗi dậy từ cơi chết và lên trời. Đức Giáo Hoàng là người tâm linh sâu sắc, vốn mong ước được thực hiện chuyến hành hương này. Đây là cuộc hành tŕnh mà ngài mong ước hơn bất cứ cuộc hành tŕnh nào khác. Và rồi lúc này đây, ngài đang ở đây. Bên dưới những cơn sóng bạc đầu của hoạt động và chống đối, vẫn có những chỗ thanh thản như đáy biển nơi Đức Giáo Hoàng lui về không bị ai quấy rầy, nơi ngài hiện diện một ḿnh với Thiên Chúa. Giống như Đức Maria, ngài giữ mọi sự ấy ở trong ḷng và suy đi nghĩ lại (xem Lc 2:19). Trong bối cảnh ấy, ta hiểu rơ câu nói đầy ư vị của Thánh Augustinô với tín hữu Hippo: “Với anh chị em, tôi là một Kitô hữu; v́ anh em chị em, tôi là một giám mục”. Ở đây, tại Đất Thánh này, Đức Bênêđíctô là cả hai. V́ chúng ta, thực ra v́ mọi quốc gia và mọi dân tộc, ngài là giám mục Rôma và là Đại Diện Chúa Giêsu Kitô. Ngài là một nhà lănh đạo, một tiên tri ḥa b́nh, một người rao giảng Phúc Âm và một thày dạy muôn nước. V́ chúng ta, ngài chăm sóc đoàn chiên của Chúa Kitô và củng cố anh chị em ḿnh trong đức tin. Ấy thế nhưng, với chúng ta, Đức Bênêđíctô XVI chỉ là một Kitô hữu đơn giản, một khách hành hương đi thăm viếng các nơi thánh và rút tỉa được sức mạnh từ ơn thánh đang hiện diện ở đấy. Với chúng ta, ngài đứng thán phục trước mầu nhiệm của quan pḥng Thiên Chúa và sự uy nghi của việc Người làm. Cuộc tông du của Đức Giáo Hoàng Bênêđíxctô XVI thành công, không phải v́ những lư do nhiều người vốn nghĩ. V́ theo Đức Giáo Hoàng, sự thay đổi thực sự và lâu dài, mà chỉ có sự thay đổi này mới đáng kể, không phải là kết quả của các chương tŕnh chính trị, biện luận hay ho, hay vận dụng được sự ủng hộ của quần chúng. Nó chính là công tŕnh của Chúa trong trái tim con người. Đức Bênêđíctô tới trong tư cách một dụng cụ của ơn thánh đó và, như lời Thánh Phanxicô, một máng chuyến ḥa b́nh của Thiên Chúa. Đó là điều ngài được mời gọi thực hiện, và trong tư cách người phục dịch tốt và trung thành, ngài đang thực hiện việc ấy.
|