Chúng tôi vừa nhận được tin buồn ĐHY Phaolô Giuse Phạm Đ́nh Tụng, nguyên
Tổng giám mục Hà Nội đă qua đời vào lúc 10:10 sáng Chúa Nhật ngày
22.2.2009 tại Hà Nội. Hưởng thọ 90 tuổi.
Đây thực là một đại tang cho Giáo Hội Việt Nam, và riêng cho Giáo Hội tại
miền Bắc Việt Nam.
Đức Cố Hồng Y Phaolô là người đạo đức thánh thiện, sống cuộc sống khó
nghèo, đơn sơ, khiêm nhường, tính t́nh cương trực, nhưng rất ân cần và
luôn quan tâm tới nhu cầu của mọi người. Ngài là một nhà giáo gương mẫu,
một người cha nhân từ và là một người quản trị mẫu mực.
Trong suốt cuộc đời linh mục và giám mục, Ngài đă đảm trách nhiều công tác
khác nhau trong Giáo hội. Điểm nổi bật nhất trong đời giám mục của Ngài là
lo xây dựng nhân sự cho Giáo hội tại Miền Bắc Việt Nam và chủ trương một
đường hướng huấn luyện giáo sĩ trong kỉ luật chặt chẽ và nghiêm minh. Đối
với một số người nhận định rằng đường hướng tu đức và giáo dục của Ngài có
tính cách quá truyền thống và có thể không đáp ứng được với những thay đổi
của thế giới hiện đại. Tuy nhiên, nh́n lại trong bối cảnh lịch sử và chính
trị tại Việt Nam, nhờ chính vào một nếp sống khuôn phép và nghiêm ngặt như
vậy mà thành phần giáo sĩ cũng như giáo dân dưới sự hướng dẫn của Ngài đă
giữ vững được đức tin trung kiên trước bao thử thách và phong ba của diễn
biến chính trị tại Việt nam.
Trong thời ḱ chiến tranh Việt Minh vào thập niên 1950, bao nhiêu người
dân đă phải bỏ nhà cửa ruộng vườn ra đi không nơi nương tựa th́ chính vị
linh mục trẻ tuổi này đă thành lập nhà tế bần Bạch Mai nhằm cứu giúp các
nạn nhân chiến tranh nghèo khổ từ các vùng nông thôn trôi dạt về Hà Nội.
Điểm nổi bật của Ngài là không nhượng bộ áp lực chính trị bất ḱ từ đâu
đến dù phải trả một giá rất đắt. Điển h́nh là vào năm 1960, v́ muốn bảo vệ
sự độc lập của Giáo Hội trong lănh vực đào tạo giáo sĩ, v́ không muốn các
chủng sinh phải giao tiếp với các giáo viên đến từ bên ngoài và học những
môn nguy hiểm cho đức tin và cho đời tu mà nhà nước áp đặt trong chương
tŕnh, Ngài đă cùng các đấng hữu trách quyết định cho các chủng sinh về
lại các giáo phận của ḿnh, chấp nhận giải tán tiểu chủng viện.
Cùng chia buồn với Tổng giáo phận Hà nội nói riêng và Giáo hội Việt Nam,
chúng ta cùng nhau cầu nguyện cho linh hồn Đức cố Hồng Y Phaolô.
Sau đây chúng tôi xin mời qúi độc giả ôn lại bài viết của Thanh B́nh về
cuộc đời Đức Cố Hồng Y Phạm Đ́nh Tụng đăng trên
VietCatholic
VietCatholic News (Thứ Năm 24/01/2008 15:22) với nhan đề:
ĐHY Phạm Đ́nh
Tụng: chứng nhân lịch sử của thời đại chúng ta
Sơ Lược về Quá Tŕnh Hiện Diện và Phục Vụ của ĐHY Phaolô Tụng
(1919-2009)
Đức Hồng Y sinh ngày 20.05.1919 trong một gia đ́nh gia giáo và đạo đức tại
thôn Cầu Mễ, xă Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh B́nh, thuộc Giáo xứ
Quảng Nạp, Giáo phận Phát Diệm. Thân phụ của ngài cụ cố Phêrô Phạm Văn
Hiến, một người đạo đức và có học trong làng, c̣n thân mẫu của ngài là cụ
cố Anna Nguyễn Thị Bống vốn là một người hiền lành, giầu ḷng hy sinh và
bác ái.
ĐGH Gioan Phaolô II trao mũ cho ĐHY Phạm Đ́nh Tụng ngày 26.11.1994
Năm 1925 ngài bắt đầu đi học tiểu học tại trường làng và năm 1927 ngài
theo linh mục nghĩa phụ Phêrô Phạm Bá Trực lên học tại Hà Nội.
Năm 1929 ngài được gia nhập Trường thử Hà Nội. Năm 1931, ngài thi đậu bằng
sơ học yếu lược và được tuyển vào Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Tây.
Năm 1940, ngài được gọi vào Đại Chủng viện Liễu Giai, Hà Nội. Sau hai năm
học triết học, ngài đi thực tập mục vụ tại Giáo xứ Khoan Vĩ. Măn hạn thực
tập mục vụ, ngài trở lại Đại Chủng viện để tiếp tục chương tŕnh thần học.
Năm 1945 Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, đất nước loạn ly, Đại Chủng viện
Liễu Giai phải đóng cửa, ngài tạm thời phải dừng việc học tập và tu dưỡng.
Năm 1948, t́nh h́nh chính trị xă hội ở Hà Nội tạm ổn định, ngài được gọi
về Đại Chủng viện Hà Nội mới được thành lập ở số 40 Nhà Chung để hoàn tất
chương tŕnh đào tạo. Hằng ngày ngài cũng các chủng sinh khác sang học
thần học tại Học viện Ḍng Chúa Cứu Thế ở tu viện Thái Hà Ấp, Hà Nội.
Ngày 06.06.1949, ngài được thụ phong linh mục tại Nhà thờ Chính Toà Hà Nội
và được Bản quyền Giáo phận Hà Nội bổ nhiệm về phục vụ tại Cô Nhi viện
Têrêxa do Đức cha Paul Seitz - khi ấy hăy c̣n là linh mục-làm giám đốc.
Năm 1950, ngài được bổ nhiệm làm Phó xứ Hàm Long, Hà Nội. Trong thời gian
này ngài thành lập nhà tế bần Bạch Mai nhằm cứu giúp các nạn nhân chiến
tranh nghèo khổ từ các vùng nông thôn trôi dạt về Hà Nội.
Năm 1955, ngài được bổ nhiệm làm Giám đốc Tiểu Chủng viện Thánh Gioan
Hà Nội- Một tiểu chủng viện liên giáo phận với khoảng hơn 200 chủng sinh
thuộc hầu hết các giáo phận ở Miền Bắc lúc bấy giờ.
Năm 1960, v́ muốn bảo vệ sự độc lập của Giáo Hội trong lănh vực đào tạo
giáo sĩ, v́ không muốn các chủng sinh phải giao tiếp với các giáo viên đến
từ bên ngoài và học những môn nguy hiểm cho đức tin và cho đời tu mà nhà
nước áp đặt trong chương tŕnh, ngài đă cùng các đấng hữu trách quyết định
cho các chủng sinh về lại các giáo phận của ḿnh, chấp nhận giải tán tiểu
chủng viện.
Năm 1963, ngài được Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Tông toà Giáo phận Bắc
Ninh và ngài đă thụ phong giám mục tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội ngày
15.08.1963. Khẩu hiệu giám mục của ngài là “Tôi tin vào t́nh yêu Thiên
Chúa”. Tại giáo phận đă bị tan nát v́ chiến tranh này, trong thiếu thốn,
khổ đau, cấm cách và bắt bớ, ngài đă có nhiều sáng kiến độc đáo trong lănh
vực mục vụ để giữ vững đức tin, chăm sóc các tín hữu, bảo vệ và xây dựng
Giáo Hội. Ngài cũng đă âm thầm và kín đáo đào tạo và phong chức linh mục
cho một số ứng viên mà ngài xét là xứng đáng đồng thời thành lập Nữ Tu hội
Đức Mẹ Hiệp Nhất Bắc Ninh.
Năm 1990 ngài c̣n được bổ nhiệm làm Giám quản Tông Toà Giáo phận Hà Nội.
Đến ngày 13.04.1994, ngài chính thức được Toà Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám
Mục Hà Nội và ngày 26.11.1994, ngài được phong Hồng Y. Trong thời gian này
ngài c̣n kiêm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như: Giám đốc Chủng viện Hà
Nội (1990-2003), Giám quản Tông Toà Giáo phận Lạng Sơn (1998-1999), Chủ
tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (1995-2001).
Ngoài những việc mục vụ thông thường, trong vị thế của ḿnh, ngài đă ra
sức tái thiết Đại Chủng viện Hà Nội, t́m cách đối thoại với chính quyền để
Giáo hội được độc lập và tự chủ hơn trong việc tuyển chọn chủng sinh, t́m
cách cho các linh mục thụ phong âm thầm được ra làm mục vụ công khai, xúc
tiến mối liên hệ giữa Toà Thánh và chính quyền Việt Nam, tổ chức và xây
dựng nhân sự lănh đạo cho các giáo phận ở Miền Bắc. Ngài c̣n sáng lập Nam
Tu đoàn Truyền tin và Nữ Tu đoàn Truyền giáo Truyền tin tại Tổng Giáo phận
Hà Nội.
Năm 2003, ngài được Toà Thánh chấp thuận cho nghỉ hưu ở tuổi 84 sau khi đă
lo liệu cho Tổng Giáo Phận Hà Nội được có người kế vị là Đức cha Giuse Ngô
Quang Kiệt. Mặc dù tuổi cao, sức yếu, ngài vẫn sẵn sàng tiếp đón và giúp
đỡ mọi người đến với ngài ở Toà Giám Mục trong mức độ có thể được. Ngài
cũng tiếp tục quan tâm tới các vấn đề của Giáo hội và xă hội, cầu nguyện
và chúc lành cho mọi người.
Ngài là một trong những gương mặt vĩ đại của Giáo Hội Việt Nam, là chứng
nhân lịch sử của Giáo Hội ở Miền Bắc trong hơn 70 năm qua. Ngài đă góp
phần to lớn và quan trọng trong việc xây dựng Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt
là trong các lănh vực tông đồ, đào tạo, tổ chức nhân sự và quan hệ ngoại
giao. Cuộc đời phục vụ của ngài c̣n để lại cho chúng ta nhiều bài học quư
giá trong công cuộc xây dựng Giáo Hội hôm nay.