ĐHY Phaolô Giuse Phạm Đ́nh Tụng đă về nhà Cha trên trời



Đức Hồng Y Phaolô-Giuse
PHẠM Đ̀NH TỤNG

20-05-1919    -    22-02-2009


Cáo Phó

Trong niềm tín thác vào Chúa Kitô Tử nạn và Phục sinh,
Ṭa Tổng Giám mục Hà nội kính báo:
Đức Hồng Y Phaolô-Giuse
PHẠM Đ̀NH TỤNG

nguyên Tổng Giám mục Hà nội

đă được Chúa gọi về vào lúc 10giờ 10 phút ngày 22-02-2009.
Hưởng thọ 90 tuổi.

Đức Hồng Y Phaolô-Giuse
Sinh ngày 20-05-1919 tại Cầu Mễ, Yên mô, Ninh b́nh
Nhập Tràng Tập Hà nội: 1929
Học Tiểu chủng viện Hoàng nguyên: 1933 - 1939
Học Đại chủng viện Xuân bích: 1940 – 1945
Học tại Ḍng Chúa Cứu Thế: 1945 - 1949
Thụ phong Linh mục: 06-06-1949
Chính xứ Hàm Long: 1950 – 1955
Giám đốc Chủng viện Gioan: 1955
Được tấn phong Giám mục Bắc ninh: 15-08-1963
Nhận chức Tổng Giám mục Hà nội: 23-04-1994
Nhận mũ Hồng Y: 26-11-1994
Giám quản Lạng sơn: 1998
Bệnh nặng: 03-2006
Về Nhà Cha: 22-02-2009

CHƯƠNG TR̀NH TANG LỄ

Chúa nhật 22-02-2009: Các nhà thờ đồng lọat đổ chuông sầu lúc 17g
Thứ Hai 23-02-2009
07:00: Nghi thức tẩm liệm
08:00: Lễ Phát tang tại Nhà thờ Chính ṭa
Sau lễ Phát tang, bắt đầu các lễ viếng.
Thứ Năm 26-02-2009
08:00: Di quan ra lễ trường
09:00: Thánh lễ An táng

Xin hiệp ư cầu nguyện cho linh hồn Đức Cố Hồng Y Phaolô Giuse kính mến được mau chóng về hưởng Tôn Nhan Chúa.

Kính báo
Văn pḥng Ṭa Tổng Giám mục

VP Ṭa TGM Hà Nội



Tóm tắt cuộc đời ĐHY Phaolô-Giuse Phạm Đ́nh Tụng

Đức Hồng Y Phaolô-Giuse Phạm Đ́nh Tụng, sinh ngày 20.05.1919, trong một gia đ́nh Công giáo đạo đức tại thôn B́nh Hoà, xă Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh B́nh, thuộc giáo họ Cầu Mễ, giáo xứ Quảng Nạp, giáo phận Phát Diệm.

Năm 1925 ngài đi học tại trường làng. Năm 1927 ngài được cha nghĩa phụ Phêrô Phạm Bá Trực đưa ra Hà Nội học tại ngôi trường do cha vừa thành lập ở giáo xứ Kẻ Sét.

Thấy ngài ngoan ngoăn, hiền lành, có tư chất thông minh lại ẩn giấu một nghị lực khác người, cha Phạm Bá Trực đă xin cho ngài đi tu và ngài đă trúng tuyển vào Tràng Tập Hà Nội năm 1929.

Năm 1933, ngài là học sinh đầu tiên của Trường Tập Hà Nội thi đậu bằng Certificat d’Étude Primaire và ngài được gọi vào Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, toạ lạc ở giáo xứ Hoàng Nguyên, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông.

Năm 1939, tốt nghiệp Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, ngài được cử đi phục vụ tại giáo xứ Xuy Xá, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông. Trong thời gian này, ngài đă đông viên một số học tṛ theo ơn gọi tu tŕ, trong số đó ngày nay có người đă làm linh mục.

Năm 1940, ngài được gọi vào Đại Chủng viện Liễu Giai, Hà Nội và ngài theo học chương tŕnh triết học tại đây cho đến năm 1942.

Năm 1942 ngài được Bề trên Địa phận cử đi giúp xứ Khoan Vĩ, thuộc huyện Lư Nhân, tỉnh Hà Nam, là nơi cha Phêrô Phạm Bá Trực nghĩa phụ của ngài đang làm Chính xứ.

Năm 1943, ngài được trở về Đại Chủng viện Liễu Giai, tiếp tục học thần học. Giữa năm 1945, v́ hoàn cảnh đất nước xáo trộn, Đại Chủng viện Liễu Giai phải ngưng hoạt động, các thầy chủng sinh phải tản mác mỗi người một nơi.

Tháng 9 năm 1946, Đại Chủng viện Liễu Giai tái mở cửa, ngài lại trở về Chủng viện. Ba tháng sau, ngày 19.12.1946 chiến tranh bùng nổ, Đại Chủng viện bị tấn công, bị xâm chiếm, việc học của ngài lại bị gián đoạn.

Năm 1948 ngài được Bề trên Giáo phận gửi đi học tiếp chương tŕnh thần học tại Học viện Ḍng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội.

Năm 1949 ngài được Bề trên chuyển về học tại Đại Chủng viện của Giáo phận mới mở ở số 40 Nhà Chung.

Ngày 06/06/1949 ngài được truyền chức linh mục tại nhà thờ Chính Toà Hà Nội.

Năm 1949 ngài được chỉ định làm tuyên úy Cô Nhi viện Têrêxa tại Quần Ngựa.

Năm 1950, ngài được bổ nhiệm làm Phó xứ rồi làm Chính xứ Hàm Long thay thế cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê đi làm giám mục Hà Nội. Tại đây, ngoài các việc mục vụ thông thường, ngài c̣n giúp đỡ các học sinh nghèo tại trường Trần Văn Thưởng và Nhà Bác ái Thánh Vinh Sơn, là hai cơ sở giáo dục và từ thiện của giáo xứ Hàm Long thời bấy giờ.

Năm 1953, ngài thành lập Trung tâm Bái ái-Xă hội Bạch Mai, trên khu đất khoảng 4000 m2, nhằm trợ giúp những người khốn khổ trôi dạt về từ các vùng nông thôn bị đang bị chiến tranh tàn phá.

Năm 1955, ngài được bổ nhiệm làm Giám đốc Tiểu Chủng viện Thánh Gioan Hà Nội- Một Liên Tiểu Chủng viện bao gồm khoảng 200 tiểu chủng sinh của các giáo phận Hà Nội, Bùi Chu, Hải Pḥng, Bắc Ninh, Phát Diệm, Thái B́nh, Thanh Hoá. Trong số này về sau có hơn 60 người làm linh mục, trong đó có 3 vị làm giám mục.

Năm 1960, khi Tiểu Chủng viện này phải giải tán, trong hoàn cảnh khó khăn, ngài được giao trọng trách kín đáo đào tạo quư thầy Đại Chủng sinh của Tổng Giáo phận Hà Nội-những người lúc này, v́ hoàn cảnh xă hội, đang phải sống tản mác tại gia đ́nh.

Năm 1963, ngài đựơc Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Bắc Ninh, một địa phận rộng lớn, trống toà từ năm 1954 và có phần lớn diện tích vốn nằm trong vùng kháng chiến của Việt Minh. Giữa những khó khăn trùng trùng điệp điệp, ngài đă chọn cho ḿnh khẩu hiệu: “Chúng con tin ở t́nh yêu Thiên Chúa” làm hành trang lên đường thi hành sứ vụ.

Năm 1963, ngài đă sáng lập Tu hội Đức Mẹ Hiệp Nhất Bắc Ninh nhằm giúp các chị em tận hiến có điều kiện làm tông đồ tại các xứ đạo và tại các môi trường khác nhau. Ngài cũng kín đáo đào tạo các chủng sinh cho Giáo phận. Năm 1974, ngài đă âm thầm truyền chức linh mục cho 7 thầy bất chấp những nguy hiểm mà chính quyền có thể gây ra cho các tân chức và cho bản thân ngài. Ngài c̣n trao ban chức thánh cho một số ứng viên của các giáo phận khác ở Miền Bắc, trong đó có cả việc truyền chức giám mục kín đáo cho Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, Giám mục Lạng Sơn vào năm 1979.

Theo tinh thần của Vatican II, tại giáo phận Bắc Ninh, ngài đă đào tạo tông đồ giáo dân, củng cố các Ban Hành giáo, tổ chức các hội đoàn, quảng bá ḷng sùng kính Thánh Tâm và ḷng tôn kính Đức Mẹ, canh tân và thích nghi các kinh sách trong Giáo phận. Trong khung cảnh Giáo hội bị cấm cản về phương diện xuất bản và truyền thông, ngài đă soạn thảo Kinh thánh và giáo lư dưới h́nh thức thơ ca ḥ vè nhằm phổ biến lời Chúa và giáo lư cách dễ dàng, rộng răi và hiệu quả cho đông đảo giáo dân.

Trong hơn 30 năm làm Giám mục Bắc Ninh, bằng các sáng kiến mục vụ độc đáo, ngài đă biến Toà Giám Mục trở thành một mái ấm gia đ́nh, nơi chủ chăn và đoàn chiên gặp nhau, cùng nhau chia vui sẻ buồn. Toà Giám Mục cũng trở thành một trung tâm mục vụ, nơi đoàn chiên liên tục được đào tạo và bồi dưỡng đức tin, bất chấp những cấm cản trăm đường của nhà cầm quyền đương thời. Nhờ vậy, qua những thập niên chuyên chính vô sản cách cực đoan, dù thiếu thốn linh mục, giáo dân Bắc Ninh ngày nay vẫn là những người có ḷng tin kiên vững, sống đạo đức, nhiệt thành và hết ḷng yêu mến Giáo Hội.

Ngày 04.07.1990 Toà Thánh đặt ngài làm Giám quản Tổng Giáo phận Hà Nội, kiêm Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội. Ngày 23.04.1994, vào tuổi 75, thay v́ được nghỉ hưu theo Giáo luật, th́ Toà Thánh lại đă bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám Mục Hà Nội. Đến ngày 26/11/2004 ngài được ĐGH Gioan Phaolô II phong tước Hồng Y tại Rôma. Ngoài ra, ngài sẽ c̣n nắm các chức vụ quan trọng khác như Chủ tịch HĐGM Việt Nam (1995-2001), Giám quản GP Hưng Hóa (1995), Lạng Sơn (1998), Hải Pḥng (1999).

Cùng với việc liên tục thăm viếng, gặp gỡ các thành phần dân Chúa trong Tổng Giáo Phận Hà Nội, ngay khi về làm chủ chăn ở đây, đứng trước t́nh trạng thiếu thốn nhân sự nghiêm trọng, ngài đă t́m cách gia tăng con số linh mục tu sĩ bằng nhiều cách khác nhau. Ngài đă thu xếp để quư thầy lớn tuổi ở Hà Nội cũng như các giáo phận khác ở Miền Bắc, được theo học các khóa bổ túc, ngắn hạn tại Đại Chủng viện rồi sớm truyền chức linh mục cho quư thầy có điều kiện phục vụ đoàn chiên đông đảo đang đói khát ơn thánh.

Ngài cũng đă nỗ lực cải cách và tái thiết Đại Chủng viện Hà Nội cả về cơ sở vật chất, lẫn về h́nh thức, nội dung và quy mô đào tạo. Từ đầu những năm 1990, nhờ sự thu xếp của ngài, một số linh mục có khả năng chuyên môn đă có thể từ Miền Nam ra làm giáo sư thỉnh giảng, hoặc giáo sư thường trực tại Đại Chủng viện Hà Nội. Đi xa hơn, trong tư cách Chủ tịch HĐGM Việt Nam, ngài đă đấu tranh để từ năm 1995, các Đại Chủng viện trên cả nước được tuyển sinh 2 năm/ khóa thay v́ 6 năm/khóa như trước đó.

Ngài c̣n nâng đỡ ơn gọi tu tŕ để đảm bảo nhân sự phục vụ, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong Tổng Giáo phận Hà Nội. Nhờ sự hướng dẫn của ngài, từ đầu những năm 1990, Ḍng Mến Thánh Giá Hà Nội hằng năm liên tục tuyển sinh, mở tập viện và khấn ḍng. Ngài c̣n lập ra Tu đoàn Nữ Truyền Tin và Tu đoàn Nam Truyền Tin (1996) nhằm mục đích truyền giáo. Hơn nữa, bất chấp ư muốn của chính quyền, ngài c̣n duy tŕ được sự hiện diện của DCCT ở Thái Hà và mở đường cho sự hiện diện của trong Ḍng Salesien Don Bosco ở Hà Nội.

Nhằm tính chuyện xây dựng Tổng Giáo Phận Hà Nội lâu dài trong tương lai, từ giữa những năm 1990, ĐHY cũng đă gửi một số linh mục đi du học ngọai quốc. Một số vị đă trở về và đă nắm các trọng trách trong Đại Chủng viện như Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Lạng Sơn, nguyên Tổng Đại diện và nguyên Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội; Đức cha Lorenxô Chu Văn Minh, Giám mục Phụ tá Tổng Giáo Phận Hà Nội kiêm Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội.

Ngài đặc biệt lưu tâm đến viện trau dồi đời sống đạo đức cho giáo dân, giáo dục thế hệ trẻ và làm việc bác ái xă hội. Trong chiều hướng này, bên cạnh những lời kêu gọi, hướng dẫn giáo dân, ngài c̣n phục hồi hay thành lập một số đoàn thể trong Tổng Giáo Phận như Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội Ḍng ba Phan Sinh, Hội Legio Mariae, Hội Thánh Tâm (1995), Hội Gia đ́nh cùng theo Chúa (2000), Gia đ́nh Thánh Tâm (2003), Hội Sinh viên Công giáo TGP Hà Nội (1998).

Năm 2003, khi Tổng Giáo Phận Hà Nội bắt đầu phục hồi và khi sức khoẻ không c̣n cho phép ngài phục vụ ở tuổi 84, ngài đă gửi đơn lên Toà Thánh xin nghỉ hưu và được Ṭa Thánh chấp thuận vào tháng 4 năm 2003 cùng lúc với việc bổ nhiệm Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt làm Giám quản Tổng Giáo Phận Hà Nội. Trong 6 năm nghỉ hưu tại Toà Tổng Giám Mục Hà Nội, ngài luôn luôn quan tâm theo dơi hiện t́nh Giáo Hội Việt Nam và âm thầm cầu nguyện cho mọi người.

Ngày chúa nhật ngày 22.02.2009, lúc 10 h 10’, ngài đă được Chúa gọi về trong t́nh yêu thương chăm sóc và lời nguyện cầu của Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt, của quư cha quư thầy quư soeurs phục vụ tại Toà Tổng Giám Mục, hưởng thọ 90 tuổi, trong đó có 80 năm tu hành, 60 năm linh mục, 46 năm giám mục và 15 năm hồng y.

Trong 90 năm làm con chúa, đặc biệt trong tư cách là mục tử, Đức Hồng Y là một nhà tu hành mẫu mực, là một lănh tụ tôn giáo khôn ngoan, là một tông đồ nhiệt thành và được đồng nghiệp kính trọng, là một nhà giáo dục đào tạo kiên nhẫn, là một chủ chăn hiền hoà và can đảm luôn tận tâm hy sinh phục vụ đoàn chiên, được đoàn chiên thương mến.

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt viết về ngài nhân dịp mừng thượng thọ cửu tuần của ngài vào năm 2008 rằng: “ Trong những năm tháng qua, Đức Hồng Y đă cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho Chúa, cho Hội Thánh và đă để lại biết bao thành quả mà ngày nay chúng ta được hưởng nhờ.

Ngài là tấm gương sáng cho chúng tá về đời sống thánh thiện đạo đức, về sự tận tuỵ phục vụ Chúa và Hội Thánh, về tầm nh́n xa trông rộng trong việc đào tạo nhân sự, về sự vui ḷng chấp nhận thánh ư Chúa và về sự khiêm nhường quên ḿnh sâu xa.

Ngài là món quà quư giá Chúa tặng ban cho chúng ta. Qua ngài, biết bao ơn phúc của Chúa đổ tràn trên Tổng Giáo Phận Hà Nội, trên mỗi người chúng ta
”.

Đức Hồng Y đă góp phần quan trọng trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển Giáo hội Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo, quản trị và tông đồ mục vụ. Ngài là cây đại thụ cuối cùng của Giáo hội Miền Bắc đă được Chúa đưa về Trời. Trong tâm t́nh kính yêu và tri ân ngài sâu xa, chúng ta hiệp ḷng hiệp ư dâng lời tạ ơn với ngài và cầu nguyện cho ngài.

Hà Nội, ngày 22.02.2009
Lm Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT