|
ĐÔI D̉NG
TIỂU SỬ ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tên thật là Karol
JoseF
Wojtyla chào đời ngày
18/05/1920 tại Wadowice, Ba Lan (Poland), trong một gia đ́nh đạo hạnh.
- Chịu Phép rửa tội ngày 20/6/1920. Ngài lớn lên với cha mẹ ngài ở Rynek.
Sau đó gia đ́nh dọn tới Krak Via Tyniecka.
- Ngài rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi và lănh phép Thêm Sức lúc 18 tuổi.
- Thụ phong linh mục năm 1946 tại Krakow lúc 26 tuổi.
- Làm Giám mục năm 1958 tại nhà thờ chính ṭa Wavel lúc 38 tuổi.
- Làm Tổng Giám mục Krakow năm 1964, lúc 46 tuổi
- Được phong làm Hồng Y do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vào năm 1967, lúc 47
tuổi.
- Được bầu làm vị Giáo hoàng thứ 246 ngày 16/10/1978 lúc 5:15 chiều là vị
thứ 263 kế vị Thánh Phêrô ở tuổi 58.
Gia đ́nh:
- Cha
là Karol Wojtyla là đại uư trong quân đội Ba lan, qua đời năm 1941
- Mẹ là Emilia Kaczorowska, qua đời năm 1929 lúc Ngài mới 9 tuổi
- Anh là Edmund qua đời năm 1932 lúc Ngài được 12 tuổi
Năm
1926, Ngài vào tiểu học và rồi lên trung học Marcin Wadowita, trong những
năm tại đây Ngài đă đoạt điểm rất cao và làm chủ tịch Hội tông đồ Đức Mẹ.
Năm
1934, Ngài đă bước vào sự nghiệp sân khấu với diễn xuất lần đầu ở Wadowice,
và vào năm 1939, Ngài làm việc cho "Pḥng thâu 38", một nhóm sân khấu điện
ảnh khảo nghiệm của Tadeusz Kudlinski trong lúc theo học tại Đại học
Jagellonian. Người thanh niên trẻ Karol tận hiến đời cho Mẹ Maria khi Ngài
muốn trở thành một minh tinh màn ảnh. Sau khi vừa tận hiến, th́ một tư
tưởng đến trong đầu Karol: "Tôi muốn là một linh mục"... nhưng suy nghĩ
Ngài lại không muốn là một linh mục mà muốn trở thành một minh tinh màn
ảnh, thế nhưng ư tưởng trở thành linh mục cứ hiện lên trong trí và rồi sau
này, Ngài đă trở thành một linh mục thật!
Khi
thế chiến thứ hai lan tràn Âu Châu, thanh niên tuấn tú Karol Wojtyla đang
"dùi mài kinh sử" tại Đại Chủng viện ở Kraków vào năm 1942, được lén lút
tổ chức dưới hầm ṭa Giám mục. Ban ngày các chủng sinh bị xung công đi "lao
động là vinh quang" trong một hầm đá; tối về học dưới ngọn đèn cháy leo
lét, mù mờ.
Một hôm
vào tháng 2 năm 1944, sau giờ "đục đá" trở về, Karol bị một chiếc xe nhà
binh Đức đụng phải, rồi bỏ chạy. Karol ngă lăn ra, bất tỉnh bên vệ đường.
Một phụ nữ, không biết từ đâu chạy đến, đă làm công việc người Samaritan
nhân hậu: Karol được bà đỡ dậy và d́u vào nhà thương cấp cứu. Nhờ đó,
Karol được cứu sống.
Khi ra
khỏi bệnh viện, Karol đă cố gắng đi t́m ân nhân ấy để cám ơn, nhưng không
gặp được bà. Các bác sĩ cho biết người đàn bà đó có những nét phụ nữ Do
Thái. Phải chăng rồi, bà đă bị hốt đi và đưa vào ḷ thiêu sinh cùng với
trên 6 triệu người Do Thái đồng hương? Sau này lên ngôi Giáo Hoàng, chính
ngài đă kể lại câu chuyện hi hữu và tuyên bố: "Tôi mong được gặp lại người
đàn bà đă cứu sống tôi và hôn tay bà để tri ân". Nhân câu chuyện "lịch sử"
ấy, hồi đầu, một tờ báo thiên tả của Ư đă xuyên tạc cho rằng, Tân Giáo
Hoàng đă có "bồ"!
Năm
1945 Quân đội Nga giải phóng Krakow khỏi ách thống trị của Đức Quốc xă và
rồi Balan trở thành một quốc gia cộng sản.
Karol
Wojtyla lănh nhận thừa tác vụ linh mục năm 1946, và rồi đậu tiến sĩ Thần
học tại Đại học Angelicum ở Rôma với đề tài luận án tiến sĩ "Những trở
ngại của đức tin trong những việc làm của thánh Gioan Thánh giá".
Sau đó,
từ 1948 đến 1951, ngài đă phục vụ như một linh mục xứ ở Kraków; đoạn trải
qua một năm tu nghiệp Triết tại Đại học Jagiellonian. Từ 1952 đến 1958,
Karol Wojtyla được bổ nhiệm làm giáo sư Luân lư tại Đại học CG Lublin và
làm tuyên úy sinh viên.
Năm
1958 linh mục "trẻ tuổi tài cao" đă được tấn phong Giám mục phụ tá, rồi
Tổng Giám mục Giáo phận Cracovie, và năm 1967, được cố Giáo Hoàng Phaolô
VI vinh thăng Hồng y (Cardinal). Ngài đă tham dự Công đồng Vatican II năm
1963 và đă đóng góp vào nhiều tài liệu, một trong những tài liệu sau này
trở thành Tuyên ngôn Tự do tôn giáo.
Cùng
với hàng Giám mục Ba Lan, nhất là với Hồng y Wyszynski, ngài phải đương
đầu với chế độ cộng sản áp đặt trên hơn 85% người Công giáo Ba Lan, để
bênh vực đức tin và quyền tự do của con người. Hai mục tiêu ấy, ngài càng
mạnh mẽ tiếp tục sau khi lên bậc Giáo Hoàng.
Ngày
22-10-1978, lần đầu tiên ra mắt với công chúng trước tiền đường Thánh
Phêrô, tân Giáo Hoàng đă xác quyết tuyên bố (Mt 14:27): "Đừng sợ!"
"Duc in altum" - "Vâng lời Thầy, con sẽ
thả lưới".
Đức
Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đă thổi vào Giáo
hội một nguồn sinh lực mới theo tinh thần Công đồng Vaticanô II. Chỉ vài
tháng sau khi nhậm chức, ngài đă lên đường "đi t́m anh em" trong các đoàn
chiên khắp thế giới. Đức Giáo Hoàng đă thực hiện tất cả trên 100 chuyến
tông du đến 129 quốc gia trên thế giới. Ngài được xem là một trong những
vị Giáo hoàng tông du nhiều nhất, phong thánh nhiều nhất. Đến đâu, Giáo
Hoàng cũng "củng cố đức tin của anh em", lôi kéo rất nhiều người, khởi
động sự chú ư đặc biệt của quần chúng đến sự hữu h́nh và vai tṛ của Giáo
hội.
MƯU SÁT
BIẾN
CỐ FATIMA VÀ ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II
Ngày 13/5/1981, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bị một thanh niên người Thổ
Nhĩ Kỳ tên là Mehmet Ali Agca 23 tuổi ám sát hụt tại Quảng Trường Thánh
Phêrô.
Mehmet Ali Agca đă bắn 4 phát súng 9mm về phía
Đức Thánh Cha lúc đó đang đứng chào dân chúng và Ngài đă ngă ra phía sau.
Viên đạn thứ nhất trúng bụng, viên thứ 2 trúng tay trái, viên thứ 3 trúng
ngực một bà Mỹ 60 tuổi, và viên thứ 4 trúng tay người phụ nữ Jamaica 21
tuổi. Lư do tại sao Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô II bị ám sát vẫn c̣n nằm trong ṿng bí mật.
Mehmet Ali Agca, sinh ngày 9 tháng 1 năm 1958, đă bị kết án tù chung thân
về tội mưu sát ĐTC Gioan Phaolô II.
Trong Đại
Năm Thánh 2000, ĐTC đă xin tổng thống Ư tha cho người sát hại Ngài, và Ali
Agca sau 20 năm trong tù đă được Ư trao trả cho Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2001,
và tiếp tục ở tù ở quốc gia của ḿnh v́ tội sát hại một vị giám đốc nhật
báo vào năm 1979. Ngài đă vào tù thăm người đă bắn Ngài và đă tha thứ cho
anh. Ali Agca có lẽ đă cảm kích cử chỉ của Đức Thánh Cha nên đă quỳ xuống
hôn tay Ngài cách trân trọng.
Chính
anh Ali Agca người đă bắn những cú chí tử vào Đức
Gioan Phaolô II, đă hết sức ngạc nhiên, tại sao bị thương như vậy, mà ĐTC
đă không chết. Việc ĐTC không chết, là v́ có bàn tay Đức Mẹ Fatima. Chính
ĐTC đă công nhận như vậy và ngày 12-13/05/1982, ngài đă đến Fatima hành
hương, để tạ ơn Đức Mẹ và tuyên bố rơ ràng: "Đức Mẹ Maria đă cứu sống
tôi".
Để ghi nhớ muôn đời, một trong các viên đạn được lấy ra
lúc giải phẫu cho ĐTC, tại Bệnh viện Bách Khoa Gemelli ở Roma, đă được
ghép vào triều thiên của Đức Mẹ tại Đền Thánh Fatima trong dịp ĐTC đến
hành hương tạ ơn 13/05/1982. Trong cuộc hành hương Năm Thánh 2000, ĐTC c̣n
để lại một kỷ niệm khác nữa: đặt dưới chân Mẹ chiếc nhẫn Giám mục quí giá,
do Đức Cố Hồng Y Stefan Wyszynski, Giáo chủ Ba lan và TGM Varsovie, tặng
cho ngài khi được bầu làm Giáo Hoàng (16/10/1978). C̣n chiếc giây lưng
trắng bị đẩm máu trong vụ mưu sát tại Quảng trường Thánh Phêrô lúc 17giờ
10 phút ngày 13/05/1981, đă được để lại làm kỷ niệm tại Czestochowa, Đền
Thánh quốc gia Ba lan, nơi ĐTC đă đến hành hương nhiều lần trong những năm
sinh sống tại Ba lan và cả sau khi đă làm Giáo Hoàng.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
cũng đă cho phổ biến chuỗi Mân Côi thứ 4, tức Chuỗi Sự Sáng thêm vào 3
chuỗi Mân Côi đă có từ lâu, có lẽ cũng xuất phát từ ḷng tri ân Mẹ.
Cuộc
điều tra sau đó cho thấy kẻ sát nhân đă "ra tay" do một đường dây mật vụ
cộng sản, v́ ảnh hưởng của nhà lănh đạo tinh thần [cho hơn một tỉ tín hữu
trên toàn cầu] quá lớn lao, trong công cuộc giải phóng quốc gia Ba Lan và
Đông Âu nói chung. V́ thương yêu dân tộc ḿnh, ngài đă từng tuyên bố: "Tôi
sẽ từ chức, về nước để đồng cam cùng khổ với dân chúng Ba Lan". (Carl
Bernstein, TIME, số đề ngày 24-2-1992).
Mới đây, Nhật báo Corriere
della Sera xuất bản ở Ư cho biết chính quyền Đức hiện nay đă t́m thấy hồ
sơ ám sát ĐGH tại sở mật vụ của cộng sản Đông Đức ngày xưa. Và nội dung hồ
sơ cho thấy mật vụ KGB của cộng sản Nga đă ra lệnh lệnh cho nhân viên t́nh
báo của Bulgaria thi hành âm mưu ám sát ĐGH.
Cũng theo tờ Corriere della Sera, sở mật vụ Đông Đức có tên là Stasi được
Nga trao cho trách nhiệm phối hợp công tác và sau khi thi hành thủ đoạn,
mật vụ Đông Đức có nhiệm vụ phi tang tất cả những âm mưu cộng sản Nga đă
dàn dựng để ám sát ĐGH.
Tài liệu cho thấy, sở mật vụ Bulgaria nhận lệnh từ KGB nhưng muốn phủi tay,
nên trao nhiệm vụ ám sát ĐGH cho những kẻ quá khích ở Thổ Nhĩ Kỳ, trong đó
có Mehmet Ali Agca là người đă bắn Đức Giáo Hoàng tại quảng trường Thánh
Phê rô vào ngày 13/05/1981. Hung thủ bắn ĐGH là Ali Agca, hiện giờ c̣n
đang bị tù ở Thổ Nhĩ Kỳ, đă khai ngay sau khi bị bắt với chính quyền Ư
rằng y đă thi hành âm mưu này dưới sự điều khiển của ṭa đại sứ Bulgaria
tại Rome.
Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa
đă cho Giáo hội có một vị Giáo Hoàng đáng kính và đầy ḷng yêu thương,
nhân từ.
Sưu tầm và chuyển
dịch 020/4/2005
Những nét chính
trong cuộc đời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
(LM Anphong Trần Đức Phương sưu tầm và tổng lược)
(Vietcatholic.net)
- Quê Hương Ba Lan:
Thời Niên thiếu - Đời Linh Mục, Giám Mục và Hồng Y.
- Vatican, Thành Đô Giáo Hội:
Viêc bầu chọn lên Ngôi Vị Giáo Hoàng - Trên
‘Ngai Ṭa Thánh Phêrô’ - 25 Năm chăn dắt đ̣an Chiên Chúa - Những lời
Chúc Mừng và Cảm tạ tri ân.
- Phụ đề:
Bổn phận cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng - Đức Giáo Hoàng
có thể từ chức không? - Các quốc gia Đức Đương Kim Giáo Hoàng Gioan
Phalô II đă thăm viếng Mục Vụ trong 25 năm trên Ngôi Vị Giáo Hoàng.
QUÊ HƯƠNG BA LAN
Thời Niên Thiếu:
Đă có rất nhiều sách vỡ, báo chí, truyền thanh, truyền h́nh, mạng lưới
điện toán toàn cầu... bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, đề cập đến cuộc đời
của Đức Đương Kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nhất là trong dịp Mừng 25
Trên Ngôi Giáo Hoàng của Ngài. Sau đây chúng tôi xin gửi đến quư vị và các
bạn một số điểm chính để dể nhớ và tra cứu:
- Đức Đương Kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
sinh ngày 18-5-1920 tại Wadowice, Tổng Giáo phận Cracovie, miền Nam
Balan.
- Tên là Karol-Joseph Woityla. Tên thân
mật (nick name) trong gia đ́nh: Lolek hay Lolus (Lolek là từ Karol;
Lolus có nghiă là “Dịu Dàng”). Bút hiệu khi làm thơ, viết báo, hay kịch
nghệ lúc c̣n trẻ là: Andrzef Jawien hay Andrzef Gruda.
- Thánh Bổn Mạng là Charles Borromeo mừng
lễ vào ngày 04 tháng 11 hằng năm.
- Tên Cha: Karol Woityla (Sĩ quan quân đội;
mất năm 1941, lúc Ngài 21 tuổi).
- Tên Mẹ: Emilia Kaczorowska (Nội
trợ, mất năm 1929 lúc Ngài 9 tuổi).
Lúc c̣n nhỏ Ngài có tham gia vào Hội
Giúp lễ và Hội Thanh Niên Công Giáo. Lớn lên trong tuổi thanh niên giữa
lúc Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ và Đức Quốc Xă chiếm đóng và tàn phá Balan;
lại cha mẹ đă mất, nên Karol Joseph phải tự lập, vừa đi làm việc tại xưởng
thợ, vừa đi học; có lúc viết báo, làm thơ, kịch nghệ; có thời gian tham
gia các tổ chức kháng chiến chống Đức Quốc Xă. Các Chủng Viện huấn luyện
linh mục lúc đó phải đóng cửa, nên phải lén tu học. Trong một dịp gặp gở
các chủng sinh tại Rôma, vào Mùa Chay năm 2003, Đức Giáo Hoàng đă kể lại
kinh nghiệm “tu chui” của Ngài dưới thời Đức Quốc Xă đang chiếm đóng tại
Balan cách nay đă hơn 60 năm (lúc đó Ngài 20 tuổi). Các Chủng viện đều
phải đóng cửa, dù lúc đó các chủng sinh đang tu rất đông. V́ thế Ngài vừa
phải đi làm như công nhân, vừa học. Khi làm “ca” ngày hay khi làm “ca” đêm
Ngài đều mang sách vỡ học thêm. Thông cảm hoàn cảnh của Ngài, các bạn làm
cùng xưởng hoá chất với Ngài, thường phụ giúp công việc cho Ngài để Ngài
có thời giờ học bài của chủng viện, và Ngài nói: “Thật là ơn lạ của Chúa
mà một thanh niên Balan sống trong thời chiến tranh, vừa đi học, vừa đi
làm, một chủng sinh “tu chui” mà bây giờ trở nên một Giáo Hoàng! “.
Đời Linh Mục, Giám Mục và Hồng Y:
Được Chịu Chức Linh Mục ngày 01 tháng 11 năm 1946 (lúc đó Ngài mới 26 tuổi),
sau đó được gửi đi học thần học tại Học Viện Angelicum (Rôma). Năm 1948
xong luận án Tiến sĩ Luân lư Thần học, và trở về quê hương phục vụ. Làm
Cha Phó, Giáo sư Đại Học và hoạt động rất mạnh cho giới trẻ, cho sinh viên
và ảnh hưởng nhiều đến giới trí thức thời đó.
Giám Mục Phụ tá (1958); Giám quản (1962); rồi Tổng Giám mục (1963) Tổng
Giáo phận Cracovie, cũng là giáo phận quê hương của Ngài lúc c̣n nhỏ.
Trong thời gian này Ngài đă tham dự và đóng góp rất nhiều cho các tài liệu
của Cộng Đồng Vatican II. Năm 1967, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ban cho Ngài
chức Hồng Y (lúc đó Ngài mới 47 tuổi). Trong suốt 15 năm làm Tổng Giám Mục
Cracovie, Ngài đă tỏ ra là một Mục Tử rất đạo đức và nhiệt thành. Ngài
cũng đem áp dụng những chỉ thị của Cộng Đồng Vatican II choTổng Giáo phận
của Ngài. Ngài cũng có nhiều dịp xuất ngọai để quan sát các sinh hoạt của
các nước trong thế giới tự do và cùng với Đức Hồng Y rất nổi tiếng thời đó
là Wyszynki, Tổng Giám mục Varsovie (Thủ Đô Balan), tranh đấu chống lại
chính sách độc tài áp bức của Chính phủ Cộng Sản Balan thời đó.
VATICAN, THÀNH ĐÔ GIÁO HỘi
Việc bầu chọn lên Ngôi Giáo Hoàng:
Ngày 20-8-1978, Ngài về Rôma dự lễ An Táng Đức Giáo Hoàng Phaolô VI rồi
tiếp theo dự cuộc bầu cử Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô I (26-8-1978). Hơn một
tháng sau lại trở lại Rôma dự lễ An Táng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (mất
ngày 28/9/1978) và cuộc bầu cử Đức Giáo Hoàng mới. Chính trong cuộc bầu cử
này, một cách thật bất ngờ cho chính Ngài và cho cả thế giới: Ngài đă được
các Đức Hồng Y bầu chọn lên ngôi vị Giáo Hoàng vào ngày 16-9-1978. Ngài
lấy tên là Gioan Phaolô II để tưởng nhớ đến Đức Giáo Hoàng Tiền Nhiệm
Gioan Phaolô I (Vị Giáo Hoàng có ‘tên kép’ đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội).
Lúc đó Ngài mới 58 tuổi; là vị Giáo Hoàng đầu tiên từ quốc gia Balan; vị
Giáo Hoàng không phải là người Ư sau hơn 400 năm; vị Giáo Hoàng xuất thân
từ một nước lúc đó đang bị Cộng Sản cai trị khắc nghiệt. Ngài là vị Giáo
Hoàng thứ 263 kế vị Thánh Phêrô và là vị Chủ Chăn, đại diện Chúa Kytô nơi
trần gian, để điều hành Giáo Hội toàn cầu trong giai đoạn đầy khó khăn và
căng thẳng trong “Chiến tranh lạnh” giữa Thế Giới Tự Do và Cộng Sản; lại
là lúc Cộng Sản đang tràn lan mạnh sang Vùng Đông Nam Á qua các nước Đông
Dương: Việt, Miên, Lào vừa bị Cộng Sản xâm chiếm.
Thật nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn, các Đức Hồng Y đă chọn “đúng người”
và “đúng chỗ” “đúng lúc”. Một vị Giáo Hoàng xuất thân từ một gia đ́nh có
truyền thống đức hạnh, trưởng thành giữa chiến tranh và phải sống trong
chế độ Cộng Sản khắc nghiệt, lại phải sống vất vả cơ cực ngay từ khi c̣n
trẻ, nên có một bản lảnh và ư chí kiên cường, một đức tin mạnh mẽ nơi
Thiên Chúa Toàn Năng. Ngài lại đặc biệt có ḷng Sùng Kính Chúa Giêsu Thánh
Thể và Mẹ Maria. Điều này tỏ hiện rơ qua các thông điệp của Ngài về việc
tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria trong Giáo Hội Công Giáo. Trong
các bài giảng, Ngài luôn kết thúc bằng những lời nhắc nhở đến Mẹ Maria.
Khẩu hiệu của Ngài là: “Toàn thân con thuộc về Mẹ”. Tháng 10 năm 2002,
Ngài đă ra tông thư về “Kinh Mân Côi Kính Mẹ Maria và mở “Năm Mân Côi” (Tháng
10/2002 - Tháng 10/2003) và lập năm “Mầu Nhiệm Ánh Sáng”; đồng thời kêu
gọi mọi tín hữu hăy siêng năng lần chuỗi Mân Côi Kính Đức Mẹ, chính Ngài
cũng lần chuỗi Mân Côi hàng ngày. Ngài thường tặng chuỗi Mân Côi cho các
khách hành hương được gặp Ngài.
Ngoài ra, Chúa cũng ban cho Ngài có trí thông minh và trí nhớ đặc biệt,
nên dù từ thời tuổi trẻ phải lao động vất vả và việc học trong thời chiến
tranh thật bất thường, nhưng Ngài đă tự đọc sách và học hỏi thêm nên khi
vừa chịu Chức Linh Mục xong (Tháng 11/1946, ngay sau Thế Chiến Thứ II chấm
dứt) Ngài đă được gởi đi Rôma du học và chỉ sau hai năm Ngài đă xong luận
án Tiến Sĩ Thần Học tại Đại học nổi tiếng Angelicum (Rôma) và trở về quê
hương phục vụ. Hơn nữa dù không đi du học lâu năm và cũng không đi du học
nhiều quốc gia, nhưng Ngài biết được nhiều ngọai ngữ như tiếng Nga (và các
thứ tiếng trong nhóm ngôn ngữ “Slovaque” như tiếng Balan của Ngài), tiếng
Anh, Pháp, Ư, Tây Ban Nha, Đức và các cổ ngữ Hy Lạp, Latinh. Ngài cũng có
tài “phát âm” ngoại ngữ, nên có những cuộc Đại lễ có nhiều sắc dân khác
nhau, Ngài có thể phát âm lời “Chào Mừng”, “Chúc Năm Mới”, “Chúc Giáng
Sinh” bằng các thứ tiếng khác nhau kể cả tiếng vùng Á Châu như tiếng Việt
Nam. Trong Lễ Giáng Sinh năm nay 2003, Ngài đă gởi lời chúc Giáng Sinh
bằng 62 ngôn ngữ khác nhau (theo tường thuật của các đài truyền thanh,
truyền h́nh và báo chí).
Khi đă lên chức Tổng Giám Mục, và Hồng Y, Ngài có dịp xuất ngoại nhiều và
tham dự Cộng Đồng Vatican II, Ngài đă có dịp gặp các Đức Giám Mục các nơi
trên “thế giới tự do” trở về Rôma để họp, nhờ đó Ngài đă có thể học hỏi và
đă thông hiểu nhiều những trào lưu và sự tiến bộ trong thế giới tự do.
Như vậy, khi lên ngôi Giáo Hoàng, Ngài đă có thể nắm vững t́nh h́nh tôn
giáo, chính trị. .. trong thế giới tự do. C̣n về những kinh nghiệm và cách
đối phó với Cộng sản, th́ tất nhiên Ngài đă quá già dặn v́ đă sinh ra, lớn
lên và sống hơn nửa cuộc đời phải đối phó với chế độ Cộng sản. V́ thế,
trong Lễ Đăng Quang trọng thể vào ngày Chúa Nhật 22-10-1978, câu đầu tiên
trong bài giảng của Ngài là: “Anh chị em đừng sợ. .. “. Chữ “đừng sợ” đă
được Sứ Thần Gabriel nói với Đức Maria vào giờ phút truyền tin (Phúc Âm
Luca 1:30). Chúa Giêsu cũng đă nói với các Thánh Tông đồ: “Chúng con đừng
sợ... “ trong các trường hợp khi các “cảnh báo” xăy đến. (Xin xem PÂ Math
24:6; 10:28; Luca 12:7; 21:9; MC 13:7; Gio 14:1). Trong Sách Cựu Ước cũng
ghi lời của các tiên tri nói trấn an Dân Chúa: “Hỡi Dân ta đừng sợ...” (Is
40:9; Ze 9:9). Trước đó trong cuộc xuất hành ra khỏi Ai Cập, khi bị đoàn
quân Ai Cập đuổi theo, dân Do Thái rất sợ, Maisen cũng nói vớI họ ‘Anh em
đừng sợ.. . ’ (Sách XH 14:13).
Trên Ngai Toà Thánh Phêrô:
Sau khi lên Ngôi Vị Giáo Hoàng, Ngài đă hăng hái bắt tay khởi sự chương
tŕnh lớn lao của Ngài: Thúc đẩy và khuyến khích phong trào canh tân qua
việc áp dụng các huấn thị của Cộng Đồng Vaticanô II cho toàn thể Giáo hội
. . . và chương tŕnh mở rộng cánh cửa để đón nhận và thánh hóa mọi nền
văn hóa và tư tưởng. . . đồng thời thúc đẩy các vị Chủ chăn và mọi thành
phần trong Giáo hội hăy “đến với” và “đem Chúa Kytô” đến với từng người
thuộc mọi sắc dân và quốc gia. . . Chính Ngài đă là “chiến sĩ xung phong
đầu tiên” : dù vô cùng bận rộn sắp xếp các công việc lúc đầu, Ngài đă dành
chương tŕnh đi thăm các nơi quan trọng ở Rôma và sau đó khởi sự ngay
chương tŕnh “đến với các dân tộc” bằng các cuộc Thánh du đến các quốc gia.
Chỉ sau hơn bốn tháng lên Ngôi Vị Giáo Hoàng, Ngài thực hiện chuyến đi đầu
tiên viếng thăm Mục vụ Mexico và Republic Dominican (25/01 - 01/02/1979)
rồi tiếp theo các quốc gia, các hải đảo thuộc Năm Châu, bốn biển (chúng
tôi sẽ ghi lại danh sách các nước thăm viếng vào cuối bài này).
Những hoạt động và ảnh hưởng mạnh mẽ của Ngài, “một người từ một nước Cộng
sản đi ra”, đă làm cho nhiều thế lực thù nghịch với Giáo Hội lo ngại, nhất
là khối Cộng sản. Ngày 13-5-1981 (gần hai năm rưởi lên Ngôi vị Giáo Hoàng),
Ngài đă bị một thanh niên Hồi giáo qúa khích người Thổ Nhỉ Kỳ tên Mohamet
Ali Agrea bắn trọng thương vào lúc gần trưa, khi Ngài đang di chuyển tại
Quảng Trường Đại Thánh Đường Thánh Phêrô (Rôma) chào đón giáo dân trong
cuộc “triều yết chung” vào buổi trưa thứ tư hàng tuần như thường lệ. Ngay
sau đó, Ngài đă được đưa vào bệnh viện Gamelli (Rôma) để giải phẩu lấy
viên đạn ra. Cuộc giải phẩu kéo dào hơn sáu tiếng đồng hồ. Máu ra nhiều và
ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của Đức Giáo Hoàng. Sau này, nhiều nguồn tin
chắc chắn đă tiết lộ: đó là âm mưu ám sát Đức Giáo Hoàng do Cộng Sản Liên
Sô và nhóm các nước Cộng Sản Đông Âu chủ trương và thuê Ali Agrea thực
hiện. Có điều nên lưu ư là ngày 13 tháng 5 (ngày Đức Giáo Hoàng bị ám sát)
là ngày Đức Maria hiện ra lần đầu tại Fatima (tiếp theo là các ngày 13/6;
13/7; 13/8; 13/9; 13/10/1917). Sau khi được b́nh phục, một năm sau, vào
ngày 13/5/1982, Đức Giáo Hoàng đă đến hành hương tại Fatima để tạ ơn Đức
Mẹ.
Sau này những tổ chức quá khích cũng có mấy lần toan tính ám sát Đức Giáo
Hoàng nhưng lại thất bại. Đặc biệt là lần Đức Giáo Hoàng thăm viếng Phi
Luật Tân lần thứ hai (tháng 12/1995) một tổ chức Hồi Giáo cực đoan cũng
gửi người đến để định ám hại Đức Giáo Hoàng nhưng bị ngăn chặn kịp thời.
Ông Samuel Berger một thành viên trong Ủy ban duyệt xét về chính sách
chống khủng bố của Hoa Kỳ trước biến cố 9/11, trong bài điều trần vào ngày
24/3/2004, Ông cũng đă nhắc đến tổ chức al-Qualda đă mưu toan ám sát Đức
Giáo Hoàng vào thập niên 90’ nhưng bị khám phá và ngăn chặn ngay.
Hơn 25 Năm Chăn Dắt Đoàn Chiên Chúa:
Trong hon 25 năm trên Ngôi vị Chủ Chăn Giáo Hội Toàn Cầu, đại diện Chúa
Kytô nơi trần gian, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (ngoài những chuyến công
du mục vụ đến các quốc gia) đă làm việc rất nhiều tại Toà Thánh: tiếp hàng
triệu khách hành hương đến Rôma, cũng như gặp gở riêng các Chính Khách
Quốc tế, Ngoại giao đoàn, các nhân vật nổi tiếng thế giới, các Tổng Thống,
Thủ Tướng. . . Theo truyền thông, báo chí ước lượng : có khoảng 400 triệu
người đă được gặp gỡ Đức Giáo Hoàng qua các buổi Triều Yết Chung hay Riêng
tại Ṭa Thánh Vatican hay trong 102 chuyến công du Mục vụ tính đến nay.
Các buổi “triều yết riêng” là khi Đức Giáo Hoàng gặp riêng các vị lănh đạo,
các nhân vật, hay một phái đoàn nào đó trong điện Vatican. C̣n các buổi
“triều yết chung” là khi Đức Giáo Hoàng xuống Công trường Thánh Phêrô vào
khoảng gần trưa ngày thứ tư (hàng tuần khi Ngài có mặt tại Toà Thánh) để
gặp gở chung các phái đoàn hành hương đến thăm và tụ tập tại Công trường
trước Đại Thánh Đường Thánh Phêrô (ngay dưới cửa sổ văn pḥng làm việc của
Đức Giáo Hoàng). Trong suốt 25 năm trên Ngôi Giáo Hoàng, Ngài đă tiếp xúc
với trên 17 triệu khách hành hương trong 1112 buổi tiếp kiến chung ( Theo
Hăng Tin Zenit 17/12/03).
Ngoài ra Ngài c̣n viết rất nhiều Bài Giảng và các bài Huấn dụ cho các buổi
Triều Yết Chung, cho các Hội Nghị Giám Mục. . . hay các bài diễn thuyết
tại các Hội Nghị quốc tế, hay hai lần tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc để
cổ vơ Hoà B́nh Thế Giới (vào các năm 1979 và 1995), tại Trụ Sở Liên Hiệp
Âu Châu (EU) để ngỏ lời với các nhà Lănh Đạo Âu Châu (1988), tại Quốc Hội
Ư (14/11/2002). Đức Giáo Hoàng c̣n viết 14 “Thông Điệp” (Encyclicals), 15
“Tông Huấn” (Apostolic Exhortations); 14 “Tông Thư” (Apostolic Letters)
tính cho đến nay. Thông Điệp là các văn thư quan trọng gửi đến toàn thể
các Đức Giám Mục toàn cầu đề cập đến những “Tín Điều” quan trọng như Thông
Điệp “Đấng Cứu Chuộc Nhân Loại” (Redemptoris Hominis) hay Thông Điệp về
“Bí Tích Ḿnh, Máu Thánh Chúa” (Eclesia de Eucharistia). Tông Huấn là các
văn thư có tính cách chỉ dẫn mục vụ gia đ́nh, xă hội, giới trẻ, công tác
xây dựng ḥa b́nh. v. v.. . Tông Thư là các sứ điệp đề cập đến các đề tài
quan trọng về các sinh hoạt trong Giáo Hội (mới nhất vào tháng 10/2002 về
“Kinh Mân Côi Kính Đức Trinh Nữ Maria” “Rosarium Virginis Mariae” để khai
mạc Năm Mân Côi từ tháng 10/2002 đến tháng 10/2003 và lập thêm Ngắm “Năm
Sự Sáng”). Ngoài ra, Ngài đă hoàn tất và ban hành “Bộ Giáo Luật Mới”
(1983) sửa đổi Bộ Giáo Luật Củ theo Tinh Thần Cộng Đồng Vaticanô II và
cuốn “Giáo Lư Công Giáo” mới (1992).
Ngài cũng làm thơ và viết những cuốn sách có giá trị như cuốn “Bước Qua
ngưỡng Cửa Hy Vọng” để chuẩn bị nhân loại bước qua Năm 2001, qua một Thế
Kỷ Mới và một Thiên Niên Kỷ Mới.. .
Ngài đă suy tôn nhiều Vị Thánh và Chân Phước nhất trong lịch sử Giáo Hội:
476 Vị Thánh, 1314 Vị Chân Phước, trước Ngài chỉ có 300 Vị Thánh và 1310
Vị Chân Phước các Đức Giáo Hoàng Tiền Nhiệm đă suy tôn.
Ngài đă phong 201 Vị Hồng Y. Hiện nay Hồng Y Đoàn có 164 vị c̣n sống trong
đó có 144 vị do Ngài tấn phong (thêm nhiều các vị Hồng Y thuộc các dân tộc
khác nhau). Việt Nam hiện nay đă có 2 Đức Hồng Y (sau khi Đức Hồng Y
Nguyễn Văn Thuận đă qua đời) Phạm Đ́nh Tụng và Phạm Minh Mẫn.
Bảo vệ giá trị và nền tảng gia đ́nh
Một trong các vấn đề Cộng Đồng Vaticanô II quan tâm là bảo vệ giá trị và
nền tảng gia đ́nh, và vai tṛ của giới trẻ trong thế giới và xă hội đương
thời đang bị ảnh hưởng xấu của các trào lưu Vô Thần, trọng vật chất. V́
thế Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, qua các bài giảng và Thơ Mục Vụ, đă
mời gọi mọi người, nhất là các bậc cha mẹ, các thủ lănh quốc gia và các cơ
quan xă hội phải lưu tâm giúp đở các trẻ em, các gia đ́nh nghèo khó và
tiếp tay nhau bảo vệ giá trị gia đ́nh. Chính Ngài, qua các chuyến công du
mục vụ đi các nước, Ngài đă cổ vơ điều đó.
Qua Sắc lệnh ngày 09/05/1981, Ngài đă thành lập “Hội Đồng Giáo Hoàng Về
Gia Đ́nh” để các vị có trách nhiệm nghiên cứu và đưa ra các phương thế cứu
văn giá trị gia đ́nh chống lại các trào lưu làm băng hoại gia đ́nh, như
luyến ái tự do, ly dị, phá thai, đồng tính luyến ái, hôn phối đồng phái (nam
lấy nam, nữ lấy nữ) đang được một số nhà lănh đạo và quan ṭa chấp nhận .
. . Từ năm 1994 Ngài đă thành lập “Hội Nghị Thế Giới Về Gia Đ́nh” (World
Meeting of The Families) được tổ chức 3 năm một lần tại các nước khác nhau
trong các lục địa khác nhau: năm 1994 tại Rôma (Italy); năm 1997 tại Rio
de Janeiro (Brazil); năm 2000 tại Rôma (Italy); năm 2003 (tháng Giêng) tại
Manila (Phi Luật Tân), (Hội nghị tại Manila đă quy tụ được hơn 5.000 đại
biểu các gia đ́nh từ các quốc gia khắp Năm Châu về hội thảo, trong đó có
sự tham dự của 39 Hồng Y, 25 Giám Mục, 500 Linh Mục và một số chức sắc các
tôn giáo bạn).
Dặc biệt lưu tâm đến giới trẻ.
Đức Đương Kim Giáo Hoàng cũng đặc biệt lưu tâm đến giới trẻ. Ngay từ khi
c̣n làm Cha Phó Xứ và giáo sư đại học vào các năm tại quê hương Balan,
Ngài đă sinh hoạt rất gần gủi với giới trẻ và sinh viên và được họ rất quư
mến. Trên Ngôi vị Giáo Hoàng, vào năm 1985 (Năm Liên Hiệp Quốc tuyên bố là
“Năm Giới Trẻ”), trước hàng ngàn giới trẻ họp mặt tại Rôma, Ngài đă tuyên
bố thành lập “Ngày Giới Trẻ Thế Giới”, thường cứ hai năm một lần giới trẻ
thế giới họp mặt tại một nơi nào đó để cùng nhau gặp gỡ, chia sẻ, cầu
nguyện, vui chơi, hội thảo để trao đổi với nhau các kinh nghiệm từ các
nước khác nhau, để chung tay xây dựng gia đ́nh và tương lai. Đức Giáo
Hoàng thường thân hành đến Chủ tọa. Đại Hội Giới Trẻ lần đầu tại Rôma; lần
thứ hai tại Buenos Aires (Argentina, 1987); tiếp theo là Santiago de
Compostella (Spain, 1989); Czestochova (Balan, 1991); Colorado (Hoa Kỳ,
1993); Manila (Phi Luật Tân, 1995); Paris (Pháp, 1997); Rôma (Italy, Năm
Thánh 2000); Toronto (Gia Nă Đại, 2002). Lần tới là tại Cologne (Đức,từ
ngày 16/8 đến ngà 18/8/ 2005; đặc biệt lần nầy cách 3 năm).
Ngoài các điểm hoạt động của Đức Giáo Hoàng trên đây, các sách vở, báo chí,
các cơ quan truyền thanh, truyền h́nh, mạng lưới toàn cầu. . . c̣n đưa ra
rất nhiều hoạt động của Đức Giáo Hoàng, có thể ghi tóm lại các điểm sau
đây:
Về giới Lao-Động:
Đức Giáo Hoàng lúc c̣n trẻ đă sống đời sống lao động vất vả bằng hai bàn
tay và mồ hôi nước mắt của Ngài, nên Ngài rất hiểu rỏ t́nh trạng đời sống
của dân lao động chân tay. Ngài đă có ảnh hưởng nhiều trong các phong trào
cải tổ lao động trên thế giới. Ảnh hưởng đó cũng có một tác dụng mạnh mẽ
để nâng đở tinh thần ông Lech Walesa (sinh năm 1943) sáng lập và lănh đạo
phong trào “Công Đoàn Đoàn Kết” (1980) quy tụ các công nhân từ Gdank và
khắp nước Balan để thành lập phong trào lao động mạnh và đấu tranh cam go
trực diện với Đảng Cộng Sản thời đó, và sau cùng giúp phần lớn lao làm sụp
đổ chế độ Cộng Sản Balan cùng với sự sụp đổ các chế độ Cộng Sản tại Liên
Bang Sô Viết và Đông Âu, cũng như làm suy sụp ảnh hưởng của phong trào
Cộng Sản ở các nước trên thế giới.
Về Hoạt động cho
Nhân Quyền, tự do, và Hoà B́nh trên Thế Giới:
Từ hoạt động cho giới lao động cũng như qua nhiều năm liên tục hoạt động
đối kháng với chủ nghĩa Cộng sản ngay từ khi c̣n là linh mục, và góp phần
quan trọng làm sụp đổ chế độ Cộng sản, Ngài đă và đang hoạt đng cho Nhân
quyền, Tự do và Hoà b́nh cho toàn thể thế giới qua các cuộc đi thăm mục vụ
các nơi trên thế giới, nhất là qua hai lần thăm viếng cổ vơ nhân quyền
trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc (vào các năm 1979 và 1995), lần thăm viếng và
đọc thông điệp tại Trụ sở Liên Hiệp Âu Châu (EU) năm 1988 và dịp thăm và
đọc diễn văn tại Quốc Hội Ư (2002), cũng như qua hoạt động của Quan Sát
Viên thường trực của Ṭa Thánh tại liên Hiệp Quốc và qua các hoạt động
tích cực của Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lư và Hoà B́nh mà Đức Hồng Y
Nguyễn Văn Thuận đă có thời làm Phó Chủ Tịch (1993) rồi Chủ Tịch (2000).
Qua các hoạt động trên đây, và qua các hoạt động liên tục của Hội Đồng
Giáo Hoàng về Di Dân và Du Mục của Toà Thánh, Đức Giáo Hoàng cũng giúp đỡ
cách riêng cho việc cổ vơ Liên Hiệp Quốc và các nhà lănh đạo các quốc gia
đón nhận và giúp đỡ các đợt người phải di cư đến các nước v́ lư do chiến
tranh hay bị đàn áp, nhất là các di dân khỏi các nước Cộng sản như người
Việt Nam chúng ta.
Về Hoạt động Liên Tôn:
Trong khi đó Ngài cũng đẩy mạnh hoạt động đối thoại với các tôn giáo bạn
và t́m cách nối kết sự thông hiệp với các Giáo Hội Kytô Giáo khác như:
Chính Thống Giáo, Anh Giáo.. . Ngài đă đến thăm viếng Hội Đường Do Thái
Giáo ở Rôma ngày 13-4-1986 và khi Hành Hương Năm Thánh 2000 đến Đất Thánh
(Holy Land, Do Thái) Ngài đă đến cầu nguyện ở Bức Tường Khóc là nơi Thánh
Thiêng của Do Thái Giáo. . . trong nổ lực “Đối thoại Liên Tôn”, Ngài đă
cho tổ chức ngày cầu nguyện cho Hoà B́nh Thế Giới và sự cảm thông giữa các
Dân Tộc và Tôn Giáo, tại Assisi (Ư, quê hương Thánh Phanxicô Khó Khăn, tác
giả bài “Kinh Hoà B́nh” đă nổi tiếng cả thế giới qua bao thế kỷ). Chính
Ngài đă thân hành đến cùng cầu nguyện với các nhà lănh đạo các tôn giáo
khác (vào các năm 1986, 1993, 2002).
Về Họat động Canh Tân:
Trong sinh hoạt nội bộ Giáo Hội, Ngài là vị Giáo Hoàng có tinh thần canh
tân, mở rộng giáo triều. (Ngài đă phong thêm nhiều các vị Hồng Y từ các
quốc gia khác nhau trên thế giới, đặt nhiều vị thuộc các sắc tộc làm việc
tại giáo triều như Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận Chủ Tịch Hội Đồng Công Lư
và Hoà B́nh; Đức Hồng Y Francis Arinze (Nigeria, Phi Châu) Tổng Trưởng
Thánh Bộ Phượng Tự và Kỷ Luật Bí Tích. Ngài cũng nhấn mạnh đến vai tṛ
tông đồ của người giáo dân (Tông Đồ Giáo Dân).
Đối với Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam:
Riêng đối với Quê Hương và Giáo HộI Việt Nam, Đức Đương Kim Giáo Ḥang rất
thông cảm hoàn cảnh của ngưới Việt Nam chúng ta. V́ chính Ngài cũng đă
sống và gặp bao nhiêu đau khổ, khó khăn trong chế độ Cộng Sản Balan. Ngài
lên Ngôi Vị Giáo Hoàng sau vài ba năm Cộng Sản lấn chiếm Miền Nam,
Campuchia và Ai Lao. Sau đó cuộc vượt biên lớn lao và đầy dũng cảm của
người Việt Nam đă làm cho thế giới phải cảm động. Lúc đó Đức Giáo Hàng đă
kêu gọi các chính phủ và các giáo hội các nơi rộng tay đón tiếp người tị
nạn Cộng Sản của chúng ta, nhất là tại Hoa Kỳ. Cùng lúc đó, để tỏ ḷng yêu
mến và nâng đỡ tinh thần Giáo hộI Việt Nam, Đức Giáo Hoàng đă chọn một
Linh Mục Việt Nam làm bí thư cho Ngài; đó là Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc
Thụ. Rồi Ngài đặt Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Phó Chủ Tịch
(1993) rồi làm Chủ Tịch (2000) Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lư và Ḥa B́nh,
và ban tước Hồng Y sau đó. Mới đây Ngài lại ban tước Hồng Y cho Đức Tổng
Giám Mục Sài G̣n Phạm Minh Mẫn (21/10/2003). Đó là Vị Hồng Y Tổng Giám Mục
tiên khởi của Tổng Giáo Phận Sài G̣n. Như vậy là từ nay Giáo hộI Việt Nam
có hai Vị Hồng Y.
Những lờI chúc mừng
và cảm tạ tri ân
Tóm lại, Đức Đương Kim Giáo Hoàng là một “Người của Thời Đại” chẳng những
cho Giáo Hội Công Giáo mà c̣n cho cả thế giới chúng ta. Một người đă được
Thánh Linh Thiên Chúa chọn vào “đúng chỗ” “đúng lúc”. Một người ham hoạt
động, trí khôn minh mẫn, giỏi ngoại ngữ, giàu kinh ngiệm cần thiết: kinh
nghiệm về lao động (vất vả làm việc và học hành từ c̣n nhỏ); kinh nghiệm
về cảnh lầm than của con người trong chiến tranh (Thế Chiến II), về sự tàn
bạo của các chế độ độc tài (thời Đức Quốc Xă); kinh nghiệm về Cộng Sản Vô
Thần (thời Cộng sản); kinh nghiệm về các trào lưu xă hội đang đe dọa nền
tảng gia đ́nh và nhân phẩm của con người và nhu cầu Giáo Hội đang phải đối
diện và cấp thiết giải quyết cho chính Giáo Hội và Thế Giới (qua gặp gỡ và
học hỏi trong Cộng Đồng Vaticanô II). Ngài đúng là “Vị Giáo Ḥang để đưa
Giáo Hội vào Thiên Niên Kỷ Thứ Ba” như tiên đoán của Đức Hồng Y Wiszynski
(Tổng Giám Mục Thủ Đô Varsovie, Balan) khi tiển chân Ngài về Rôma bầu Giáo
Hoàng vào tháng 9/1978. Ngài là vị Giáo Hoàng biết “nh́n xa, trông rộng”
và như Thủ Tướng Đức Gerhard Sehroeder trong điện văn chúc mừng Ngài nhân
dịp Mừng 25 Năm trên ngôi Giáo Hoàng đă ca ngợi: “... Ngài đă mở ra một
chân trời mới và gia tăng đối thoại để góp phần vàoviệc giảm bớt những
xung đột và tạo nên niềm thông cảm hơn trên thế giới . . . “ Tổng Thống
Hoa Kỳ George Bush, Nữ Hoàng nước Anh, Thủ Tướng Anh (Tony Blair) và nhiều
vị lănh đạo các quốc gia, các tôn giáo cũng đă viếng thăm Đức Giáo Hoàng
tại Vatican và ca ngợi cũng như cám ơn Đức Giáo Hoàng về những đóng góp
của Ngài cho nền Hoà b́nh thế giới, cho công lư và nhân quyền ở các quốc
gia. . . Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton trước đây vào tháng 8/1993 khi đón
tiếp Đức Giáo Hoàng sang thăm Hoa Kỳ (nhân dịp Đại Hội Giới Trẻ Công giáo
Thế Giới tại Denver, Colorado) đă ca ngợi Đức Giáo Hoàng “là Nhà lănh đạo
tinh thần có đời sống thật thánh thiện. . . và là người điều hành nền ḥa
b́nh và công lư giữa các dân tộc, trong đó có Hoa Kỳ” và cám ơn Đức Giáo
Hoàng về những việc Ngài đă làm để nâng cao đời sống tinh thần của thế
giới và đất nước Hoa Kỳ. Đặc biệt Cựu Chủ tịch Liên Bang Sô Viết trước đây,
một “Cựu lănh tụ Cộng sản biết “hồi tâm”, Mikhail Gorbachev đă đến thăm
viếng Đức Giáo Ḥang nhiều lần tại Vatican và ca ngợi Đức Giáo Hoàng là
“Khuôn mặt lớn nhất của Thời đại” và thú nhận “những ǵ đă xảy ra tại Đông
Âu (sự xụp đổ của chế độ Cộng sản tại Liên Bang Sô Viết và Đông Âu) đă
không thể xảy ra nếu không có sự đóng góp lớn lao và ảnh hưởng tinh thần
của Đức Giáo Hoàng” (đăng trong New York Times March 9, 1993). Tuy nhiên
theo tạp chí Life (Dec 1989) th́ Đức Giáo Hoàng không phải chỉ chống lại
chủ nghĩa “Cộng sản Vô Thần” ở Đông Âu và trên thế giới, nhưng Ngài cũng
đem cả tâm lực để chống lại những trào lưu và chủ nghĩa tư bản duy vật
chất của thế giới ngày nay, v́ cả chủ nghĩa Cộng sản và Tư bản đều bất
công, đi ngược lại giá trị nhân bản và phẩm giá con người.
Tờ Báo Time số cuối năm 1994 đă chọn Đức Giáo Hoàng là “Nhân Vật của Năm
1994”, đăng h́nh Ngài trên trang b́a và đăng nhiều bài của nhiều vị lănh
đạo quốc gia và tôn giáo ca tụng Đức Giáo Hoàng và coi Đức Giáo Hoàng
không phải chỉ là nhà lănh đạo tinh thần riêng cho hơn hai tĩ người Kitô
hữu (Công giáo và Tin lành) mà c̣n chung cho cả thế giới, v́ Ngài đóng góp
lớn lao vào sự phục hồi đời sống Tinh thần và Luân lư của thời đại chúng
ta đang bị suy vi v́ ảnh hưởng trần tục.
Họa sĩ Đại Hàn Han Jang Hyeun (1941-2002), người họa sĩ nổi danh vẽ chân
dung các nhân vật nổi tiếng như Winston Churchill (1957), Đức Giáo Hoàng
Phaolô VI (1965), vào năm 2000 đă họa ba bức chân dung Đức Đương Kim Giáo
Hoàng trên lụa diễn tả Ngài như một vị “Tông Đồ Hoà B́nh”. Ng̣ai ra c̣n
rất nhiều Tem Thơ tại Vatican và Ư mang các h́nh ảnh khác nhau của Đức
Giáo Hoàng. Tại Balan, quê hương của Ngài, đă có nhiều Quảng trường, đường
phố, trường học mang tên Đức Giáo Hoàng, cũng như các tượng đài để vinh
quang Ngài. Nhân dịp kỷ niệm 25 năm trên Ngôi Giáo Hoàng, Chính phủ Ư đă
truy tặng Đức Giáo Hoàng huy chương vàng để ghi công Ngài về những đóng
góp lớn lao của Ngài cho nền văn hóa Ư.
Tổng lược các hoạt động của Ngài sau 25 năm, B́nh Luận gia Tracy Wilkinson
viết trên tờ Los Angeles Times nhân dịp Ngân Khánh Giáo Hoàng của Ngài như
sau: “Phải tốn nhiều năm, các học giả mới có thể phân tích thấu đáo gia
sản của Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II. Ngài đă viết bao văn kiện và thông
điệp, đă du hành hơn 725.000 dặm, tương đương với 29 lần ṿng quanh trái
đất, đă phong hiển thánh cho hơn 400 vị, và như vậy quan niệm về sự thánh
thiện được mở rộng. Ngài thật sự là Vị Giáo Hoàng đă thay đổi thế giới
Ngài sống và thay đổi Giáo Hội Ngài dẫn dắt”. C̣n Ông George Weigel,
người viết nhiều về cuộc đời của Đức Giáo Hoàng, gọi Ngài là “Chứng nhân
tuyệt vời của Thời Đại Chúng Ta”. Tờ Wall Street Journal th́ gọI Ngài là
một “khuôn mặt siêu vời trong một thế giới hữu hạn” (Trancendent Figure in
a Finite World).
Phụ đề
Bổn phận cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng:
Bề ngoài chúng ta thấy các Đức Giáo Hoàng do Mật hội Hồng Y đoàn bầu lên (các
vị Hồng Y dưới 80 tuổi). Tuy nhiên, chính Thiên Chúa qua hoạt động của
Chuá Thánh Thần đă chọn các Ngài. Trong số 12 Tông đồ, chính Chúa Giêsu đă
chọn Thánh Phêrô, ngay cả trước khi Thánh Phêrô hiểu được chức vụ và bổn
phận thật lớn lao cao cả của ḿnh: ‘Phêrô Con là Đá, trên tảng đá này Thầy
sẽ Xây Giáo Hội của Thầy. ..’ (PÂ Mathêu 16:18. ..). Và Chúa chọn Phêrô
ngay cả khi Chúa biết và báo cho Phêrô biết Phêrô chỉ là một con người
‘yếu đuối’ sẽ chối Chúa tới cả ba lần; nhưng Chúa đă hứa với Thánh Phêrô
ngay trong lúc đó là Chúa sẽ cầu nguyện đặc biệt cho Thánh Phêrô ‘khỏi mất
đức tin’ và chu toàn bổn phận Chủ Chăn (PÂ Luca 22:31... ). Sau khi sống
lại và hiện ra với các Tông đồ, và trong lần hiện ra giúp các Ngài đánh
được mẻ lưới lạ lùng, Chúa Giêsu đă thực sự trao quyền Chủ Chăn (Giáo
Hoàng) cho Thánh Phêrô trước mặt các Tông đồ khác, ngay trên bờ Biển Hồ
Tibêria, trong một hoàn cảnh đơn sơ nhưng bằng những lời rất cảm động.
Ngày nay đọc lại những lời ấy, chúng ta, những tín hữu của Chúa, cũng vẫn
thấy xúc động. Ba lần trao quyền ‘Chăn dắt đoàn Chiên Con, Chiên Mẹ’ của
Chúa nơi thế gian cho Thánh Phêrô, Chúa Giêsu đă hỏi đi hỏi lại Thánh
Phêrô tới ba lần: ‘Phêrô, Con có yêu mến Thầy không?...’. Cả ba lần Thánh
Phêrô đều khẳng định: ‘Con yêu mến Thầy... Thầy biết hết mọi sự, Thầy biết
Con yêu mến Thầy...’ (PÂ Gioan 21:15...)
Chúa Giêsu đă muốn Thánh Phêrô nhắc đi nhắc lại tới ba lần ḷng mến yêu
của Thánh Phêrô đối với Chúa, song song với ba lần trao nhiệm vụ Chăn dắt
đoàn chiên Chúa cho Ngài. Đây có thể là để bù lại ba lần Phêrô đă chối
Chúa (cả bốn PÂ đều thuật lại điều này) ngay trong đêm Chúa Giêsu bị ‘trao
nộp’. Cũng có thể là lời thề ba lần ‘Trung tín’ trong Nghi thức ‘Trao
quyền’ thời xưa tại vùng Trung Đông. Nhưng dầu sao, điều đó cũng cho ta
thấy ḷng yêu mến Chúa trung kiên là điều rất quan trọng và cần thiết của
người được Chúa chọn và ban quyền Chăn dắt đoàn Chiên Chúa nơi trần
gain...Và ngay sau đó Chúa đă hé mở cho Thánh Phêrô biết ‘Thánh Giá’ mà vị
‘Chủ Chăn’ thay mặt Chúa nơi trần gian sẽ phải vác trong suốt cuộc đời
chăn dắt đoàn Chiên Chúa...nhưng ‘hăy theo Thầy’ (PÂ Gioan 21:18...). Cũng
chính v́ nhiệm vụ quan trọng và khó khăn như vậy, nên trước đó Chúa đă hứa
với Thánh Phêrô: ‘Thầy sẽ cầu nguyện cho Con để Con khỏi mất đức tin...và
sau đó hăy làm kiên vững đức tin của anh em Con...’ (PÂ Luca 23:31....).
Cầu nguyện cho các vị Chủ chăn, nhất là Đức Giáo Hoàng, vẫn là nhiệm vụ
của mỗi tín hữu chúng ta. Trong các Thánh Lễ, các giờ Kinh Phụng Vụ, các
giờ Chầu Ḿnh Thánh Chúa... vẫn có những lời cầu nguyện riêng cho Đức Giáo
Hoàng đang điều hành Giáo hội. Hằng ngày chúng ta hăy nhớ cầu nguyện cho
Đức Đương Kim Giáo Hoàng. Ngài nhận được biết bao nhiêu những lời vinh
danh, ca tụng; nhưng cũng phải âm thầm chịu đựng bao nhiêu những thử thách,
khổ đau, lo lắng cho toàn thể Giáo hội. Nhất là trong thời đại chúng ta,
có biết bao nhiêu những phong trào ‘tự do quá trớn’ đ̣i Giáo hội phải ‘Cởi
Mở’ chiều theo những thị hiếu của trần tục; như luyến ái tự do, ly dị, phá
thai, ‘kết hôn đồng tính’ (same sex marriages), ‘phụ nữ làm Linh Mục’
‘Linh Mục lập gia đ́nh’. .. Ngài là Vị Chủ Chăn Chính, đại diện Chúa Kytô
nơi trần gian, Ngài phải luôn ‘ Kiên Vững trong đức tin’ và ǵn giữ Giáo
hội luôn là ‘Giáo hội duy nhất, thánh thiện, Công giáo và tông truyền’ (Kinh
Tin Kính), luôn đi theo đường lối của Chúa... V́ thế Ngài cũng gặp biết
bao ‘áp lực’ từ nhiều phía khác nhau. Ngay trong Giáo hội cũng luôn luôn
có hai khuynh hướng khác nhau và ‘ngược nhau’: một khuynh hướng tạm gọi là
‘truyền thống’ (traditionalism) hay ‘bảo thủ’ và một khuynh hướng tạm gọi
là ‘tiến bộ’ (progressivism) hay ‘cởi mở’. Khuynh hướng ‘truyền thống’ th́
phê b́nh là Giáo hội sau Cộng Đồng Vaticanô II đă đi quá nhanh, quá vội vă,
‘cấp tiến’ và đánh mất dần tính cách ‘tông truyền’ tốt đẹp của Giáo hội về
Phụng vụ, về Giáo luật. v.v... Khuynh hướng ‘tiến bộ’ th́ kết án là Giáo
hội đi quá chậm, thiếu ‘cởi mở’, thiếu ‘thông cảm’, thiếu ‘sống động’ để
thu hút con người thời đại, nhất là giới trẻ. Đức Giáo Hoàng luôn phải ǵn
giữ Giáo hội luôn ‘Kiên Vững’ trong đường lối Chúa, không ‘bảo thủ’, cũng
chẳng ‘cấp tiến’ (nhưng đó là vấn đề lớn chúng ta sẽ bàn sau). Chúng tôi
chỉ nêu ra như vậy để chúng ta thấy rơ những ‘lo toan’ và ‘gánh nặng’ của
Đức Giáo Hoàng để hàng ngày nhớ dâng các hy sinh, hảm ḿnh cầu nguyện cho
Đức Giáo Hoàng; nhất là Đức Đương kim Giáo Hoàng sắp sang 85 tuổI
(18-5-2005) và sức khỏe giảm sút v́ bệnh tật.
Đức Giáo Hoàng có thể từ chức không?:
Đức Giáo Hoàng có nên từ chức không? Đó là câu hỏi nhiều người đặt ra. Bộ
Giáo Luật Mới (1983) dự trù điều Đức Giáo Hoàng có thể từ chức (Giáo Luật
3332). Tuổi có thể từ chức của các Đức Giám Mục là 75 (Giáo Luật số 401),
nhưng không xác định tuổi của Đức Giáo Hoàng. Nếu một Đức Giáo Hoàng quá
già yếu, Ngài không thể nào chu toàn nhiệm vụ rất khó khăn của Ngôi Vị
Giáo Hoàng; tuy nhiên nếu Ngài từ chức cũng có nhiều vấn đề đặt ra. Vào
năm 2000, một tổ chức lớn ở Ư, chuyên làm các cuộc thăm ḍ dư luận, đă làm
một cuộc thăm ḍ ở Ư xem Đức Giáo Hoàng có nên từ chức không. Kết qủa là
90% người Ư nói Đức Giáo Hoàng không nên từ chức. Trong lịch sử Giáo Hội,
vào năm 1294, Đức Giáo Hoàng Celestin (1215-1296) đă từ chức. Điều này đă
làm cho nhiều người không bằng ḷng; trong đó có Văn Hào người Ư rất nổi
tiếng Dante (Dante Alighieri 1265-1231). Ông đă thật sự bất b́nh; v́ thế
trong một tác phẩm của Ông về Thiên Đàng và Hỏa Ngục, Ông đă xếp Đức
Celestin vào số những người ở hỏa ngục! Tuy nhiên Giáo hội đă suy tôn Vị
Giáo Hoàng này (cũng là một tu sĩ rất thánh thiện) như một vị hiển thánh
vào năm 1313 (Phỏng theo Cha Paul Conry, C.SS.R).
Công Việc Thăm Viếng Mục Vụ của các Đức Giáo
Hoàng:
Trước khi kết thúc bài này bằng Bảng Liệt Kê các quốc gia và các hải đảo
mà Đức Đương Kim Giáo Hoàng đă thăm viếng mục vụ trong 25 năm trên ngôi vị
Giáo Hoàng, chúng tôi xin ghi lại một điều: Giáo Hội của Chúa luôn là Giáo
Hội “lữ hành”. Chúa Giêsu trong đời truyền giáo, Ngài đă luôn “trên đường
đi” để đến với mọi người: đến với các nhà lănh đạo tôn giáo Do Thái đương
thời (dù họ chống đối Ngài); đến với người nghèo khổ, bệnh tật, người tội
lỗi... đến với người Xứ Samaria, đến nói chuyện với người đàn bà Xứ
Samaria bên bờ giếng Giacob dù biết là bà đă có cả năm đời chồng. . . (xin
xem Phúc Âm Gioan, đoạn 4). Chúa Giêsu cũng đă sai các Tông đồ “ra đi” để
mang Tin Mừng Cứu rỗi cho mọi người, mọi nơi (PÂ Matcô 16:15) và các Ngài
đă ra đi từ Quê Hương Do Thái qua các ngă đường đến với các dân tộc. . .
và hai vị Tông đồ Phêrô và Phaolô đă đến tận Thủ Đô Đế Quốc Rôma rao giảng
và sẵn sàng tử đạo để làm chứng cho Chúa: Thân xác các Ngài đă được an
táng tại đó (Mộ Thánh Phêrô dưới nền Đại Thánh Đường Thánh Phêrô; Mộ Thánh
Phaolô dưới nền Đền Thờ Đại Thánh Đường Thánh Phaolô, Ngoại Thành Rôma).
Các Đức Giáo Hoàng tiếp theo đều đă sống và chết (nhiều vị đă tử đạo) tại
Thánh Đô này. . . Rôma đă trở nên “Thành Thánh” là “Trung Tâm Truyền Giáo”
của Giáo Hội Chúa. Trải qua bao thế kỷ bị “bách hại” một cách tàn bạo do
các Hoàng Đế Rôma như Néron (37-68), Chúa vẫn ǵn giữ Giáo Hội vượt qua
mọi sự bách hại tàn bạo đó và tồn tại, và phát triển. Trong khi Đế Quốc
Rôma dù có tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử Thế giới, nhưng cũng đă sụp
đổ và bây giờ chỉ c̣n là “vang bóng một thời”. Chúa Giêsu bảo đảm với
Thánh Phêrô, Vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội: “Con là Đá, trên tảng đá
này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và không sức mạnh nào có thể thắng được.
. . “ (PÂ Matthêu 16:18).
Sau khi Đế Quốc Rôma đă tan ră (476) và trải qua bao nhiêu thăng trầm của
lịch sử, nhiều quốc gia đă được thành lập. Sau này Rôma đă trở nên Thủ Đô
của nước Ư (1870) và ngày 11/02/1929 nước Ư đă nhường Khu vực Vatican
(Vatican City) cho Giáo Hội theo hiệp ước Latran, và được gọi là “Toà
Thánh Vatican” (L’Etat de la Cité du Vatican) hay c̣n gọi là “Nước Đức
Giáo Hoàng” (Papal State). Một “quốc gia” nhỏ nhất thế giới với lănh thổ
chỉ có 44 mẫu đất (hectares) (440.000 mét vuông), nhưng có ngoại giao đoàn
gồm các Đặc Sứ các nước bang giao với Toà Thánh. Cũng có các người lính
canh thường gọi “Lính Thụy Điển” (Swiss) v́ được tuyển mộ từ các thanh
niên Thụy Điển; cũng có Nhà Bưu Điện và Tem Thư riêng. Các vị làm việc
thường trực ở đây cũng là “Công dân Vatican”.
Tuy nhiên, đó chỉ là một “lănh thổ” đặc trưng cho trụ sở của Giáo Hội nơi
Trần Gian mà Đức Giáo Hoàng sinh sống và làm việc cùng với các “Cộng sự
viên” là các vị Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục làm việc tại các Thánh Bộ, Đền
Thờ Thánh Phêrô, Viện Bảo Tàng Vatican, các dinh thự tại Vatican. . .
Thực ra Đức Giáo Hoàng là “Giám Mục” của Giáo Phận Công Giáo Rôma và cũng
là Vị Chủ Chăn chính đại diện Chúa Kytô trên trần gian và Điều Hành Toàn
Thể Giáo Hội Chúa. V́ thế, việc Ngài phải đi thăm viếng mục vụ “đến với”
mọi người là cần thiết. Tuy nhiên, trong nhiều thế kỷ trước, các phương
tiện giao thông chưa có thể nhanh chóng như ngày nay, và Đức Giáo Hoàng
không thể vắng mặt lâu dài tại Toà Thánh. Hơn nữa những biến cố lịch sử
trong quá khứ, nhất là tại các nước Âu Châu vào thời trung cổ và cận đại,
đă là trở ngại lớn cho việc các Đức Giáo Hoàng di chuyển ra khỏi Rôma.
Ngay cả việc bầu các Đức Giáo Hoàng cũng phải họp trong “pḥng khóa kín” (theo
tiếng Latinh là “Cum Clave”) để khỏi bị ảnh hưởng từ bên ngoài do các vị
Hoàng Đế Âu Châu lúc đó luôn muốn vị Giáo Hoàng được chọn thuộc về quốc
gia của ḿnh. (Những sự kiện lịch sử đó chúng ta sẽ có dịp nói đến sau).
Sau Cộng Đồng Vaticanô II, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1975) thấy hoàn
cảnh đă thuận tiện, nên Ngài đă thực hiện các cuộc thăm viếng Mục Vụ ra
ngoài nước Ư được 6 lần, để mở lại nếp sống truyền giáo là “được sai đi để
đem Tin Mừng cứu dộ đến cho mọi người và mọi nơi”. Tiếp tục tinh thần đó,
Đức Đương Kim Giáo Ḥang đă công du Mục Vụ ra ngoài nước Ư được 102 lần,
trong 25 năm, như vị Mục Tử của toàn thể Giáo Hội và thế giới, để thăm
viếng 129 quốc gia khắp năm Châu khởi đầu từ chuyến công du Mexicô (năm
1979). Tính theo hành tŕnh th́ Ngài đă đi hơn hàng triệu dặm, bằng đi 29
lần ṿng quanh trái đất, hoặc 3 lần đi lên mặt trăng và đi về. Trong mỗi
cuộc viếng thăm như vậy, số người đến gặp gỡ hoặc tham dự thường hàng
nhiều trăm ngàn người. Cộng lại trong 102 chuyến viếng thăm, khoảng 200
triệu người đă đến tham dự các buổi lễ và hàng tỉ người tham dự qua truyền
h́nh. Nếu cộng chung với các cuộc lễ tại nước Ư và Rôma th́ khoảng 400
triệu người đă tham dự.
Các Quốc Gia Đức Giáo Hoàng Đă Thăm Viếng Mục Vụ
Trong 25 Năm Trên Ngôi Vị Giáo Hoàng:
Sau đây chúng tôi xin gửi đến quư vị và các bạn Bảng Danh Sách các quốc
gia, các quần đảo Đức Giáo Hoàng đă đến thăm viếng mục vụ trong 25 năm. Có
nhiều nơi Đức Giáo Hoàng đă viếng thăm nhiều lần (có khi chỉ là nơi dừng
chân). Những niên hiệu bên cạnh là lần thăm đầu. Chuyến công du đầu
tiên (ngoài nước Ư) là Mexico và Dominican Republic (từ ngày 25/01 đến
ngày 01/02/1979)(Chỉ hơn 4 tháng sau khi Ngài lên Ngôi Vị Giáo
Hoàng-16/9/1978).
MỸ CHÂU :
Mexico (1979) - Cộng Hoà Dominican (1979) - Bahamas (1979) - Hoa Kỳ (1979)
- Ba Tây (1980) - Argentina (1982) - Costa Rica (1983) - Nicaragua (1983)
- Panama (1983) - El Salvador (1983) - Guatemala (1983) - Belize (1983) -
Hondura (1983) -Haiti (1983) - Canada (1984) - Dominican Republic (1984) -
Puerto Rico (1984) -Venezuela (1985) - Ecuador (1985) - Peru (1985) -
Trinidad (1985) - Tobago (1985) -Uraguay (1987) - Chile (1987) - Bolovia
(1988) - Paraguay (1988) - Curacao (1990) -Jamaica (1993) - Cuba (1998).
Á CHÂU :
Phi Luật Tân (1981) - Guam (1981) - Nhật Bổn (1981) - Nam Hàn (1984) -
Papua New Guinea (1984) - Solomon Island (1984) - Thái Lan (1984) - Ấn Độ
(1986) - Colombia (1986) - Tân Gia Ba (1986) - Bangladesh (1986) - Quần
đảo Seychelles (1986) - Lebanon (1987) - Mandagasca (1989) - Nam Dương
(1989) - Đông Timor (1989) - Mauritius (1989) - Cape Verde (1990) -
Sri-Lanka (1995) - Jordan (2000) - Do Thái (2000) - Palestina (2000) -
Arabia (2000) - Syria (2001) - Kazakstan (2001) - Armenia (2001).
ÚC CHÂU :
Úc Đại Lợi (1986) - Tân Tây Lan (1986) - Fiji (1986).
PHI CHÂU :
Zaire (1980) - Repubic of Congo (1980) - Kennya (1980 - Gahna (1980 - Uppa
Volta (1980) - Ivory Coast (1980) - Nigeria (1982) - Benin (1982) - Gabon
(1982) - Equatorial Guinea (1982) - Togo (1985) - Kennya (1985) - Morocco
(1985) - Zimbabwee (1988) - Botsmana (1988) - Lesotho (1988) - Swaziland
(1988) - Mozambique (1988) - South Africa (1988) - Madagascar (1989) -
Reunion (1989) - Zambia (1989) - Malawi (1989) - Tanzania (1990) - Rwanda
(1990) - Burundi (1990) - I’vory Coast (Côte d’Ivoire) (1990) - Senegal
(1992) - Gambia (1992) - Guinea (1992) - Angola (1992) - Săo Tomé and
Pricipe (1992) - Uganda (1993) - Sudan (1993) - Cameroon (1995) - Kennya
(1995) - Tunisia (1996) - Egypt (2001) - Malta (2001).
ÂU CHÂU :
Balan (1979) - Pháp (1981) - Tây Đức (1981) - Bồ Đào Nha (1982 - Áo Quốc
(1983) - Bỉ Quốc (1985) - Ḥa Lan (1985) - Lexembourg (1985) -
Liechtenstien (1985) - Norway (1989) - Iceland (1989) - Finland (1989) -
Denmark (1989) - Czechoslovakia (1990) - Hungary (1991) - Albania (1993) -
Croatia (1994) - Czech Republic (1995) - Slovakia (1995) - Slovenia (1996)
- Bosnia and Hercegovenia (1997) - Romania (1999) - Georgia (1999) -
Ukraine (2001).
Sau đây chúng tôi xin gửi đến
quư vị một bài báo nói về những cái “nhất” của Đức Giáo Hoàng Phaolô II:
(Trích trong Việt Báo Miền Nam - Kỷ Yếu Xuân - Tết Giáp Thân 2004).
Nhân Vật Tuổi Thân: Vị Giáo Hoàng
Tuổi Thân Làm Đổi Thay Bộ Mặt Thế Giới
Nếu có một người có thể được coi là ‘nhân vật làm thay đổi bộ mặt thế giới’
trong thế kỷ 20, người đó không là Lenine, Hitler, Stalin, Mao Trạch Dông
mà là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Nhị (John Paul II). Ngài là người tuổi Thân,
sinh vào ngày 18 tháng 5 năm 1920, năm Canh Thân.
Nhân vật này là người mà tên tuổi và sự nghiệp được gắn liền với nhiều
chữ ‘nhất’ hơn hầu hết mọi danh nhân trên thế giới.
John Paul II là vị Giáo Hoàng duy nhất hiện hữu trong truyện h́nh hoạt
họa (năm 1983, Marvel Comic Bơks xuất bản một cuốn truyện họat họa về
Ngài) và cũng là nhân vật được quen biết nhiều nhất trên thế gới.
H́nh ảnh John Paul II xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thế giới, đă thăm
viếng hầu hết mọi quốc gia của địa cầu (đáng tiếc là việc Ngài muốn thăm
Việt Nam nhân dịp mừng 200 năm linh hiển của Đức Mẹ La Vang đă bị Hà Nội
từ chối).
John Paul II ra đời tại Ba Lan, dưới tên Karol Jozef Wojtyla (đọc là
Voi-Ty-Oa), và làm nhiều nghề nhất trước khi khóac áo đi tu: làm
thợ, làm thơ, duễn kịch và có biệt tài ca hát.
Ngài là vị Giáo Hoàng thế giới ngày nay biết đến như một người già yếu
bệnh tật, và chỉ sống bằng ư chí sắt thép là tranh đấu cho ḥa b́nh nhân
loại. Thực ra, John Paul II là vị Giáo Hoàng có nhiều sinh hoạt thể
thao nhất: Ngài là thủ môn bóng tṛn, bơi thuyền vượt thác, leo núi,
và là lực sĩ bơi lội.
Ngài bị bệnh Parkinson sau khi bị mưu sát hụt, lănh hai viên đạn và bị ung
thư ruột, trong người c̣n đầy thép để ǵn ǵữ xương đùi sau nhiều lần giải
phẫu. Cơ thể đó gần như hứng chịu rất nhiều bệnh tật của nhân thế mà chỉ
làm tinh thần đó thêm sáng suốt, kiên tŕ.
Sinh ra trong một gia đ́nh b́nh dân, cha là cựu chiến binh làm thợ may, mẹ
là giáo viên, John Paul II có tuổi thơ bần hàn vất vả nhưng cũng có kinh
nghiệm trực tiếp với cả hai chế độ hà khắc nhất của Thế kỷ 20 là chế độ
Quốc xă và Cộng sản.
Ngài là người thông thái và hiếu học, khi lên lănh đạo Giáo hội Công giáo
năm 1978, Ngài kết hợp tất cả những kiến thức và sự khôn khéo để mở ra một
cuộc vận động lịch sử cho sự chuyển ḿnh của Ba Lan vào thập niên 80, dẫn
tới sự sụp đổ của Chế dộ Xô viết vào đàu thập niên 90.
John Paul II cũng là người ra sức canh tân Giáo hội, đă chính thức bày tỏ
sự ăn năn hối lỗi về những sai lầm của Giáo hội trong quá khứ, nhằm ḥa
giải với các tôn giáo và sắc tộc khác. Ngài có tinh thần tiên phong
nhất trong sứ mạng hàn gắn những đổ vỡ với các tôn giáo khác và 5 năm
trước đă vào Cuba gặp gỡ lănh tụ Fidel Castro để thực tế sửa soạn cho thời
hậu Cộng sản một khi Castro qua đời.
Là vị Giáo hoàng đă bát tuần, di chuyển và ăn nói khó khăn, John Paul II
vẫn là thần tượng của giới trẻ. Sự xuất hiện của Ngài trong các Đại hội
Giới trẻ luôn luôn có không khí vui tươi náo nhiệt, với sự tham dự của
hàng triệu thanh niên thiếu nữ, vượt xa khung cảnh của các buổi tŕnh diển
nhạc trẻ của những tài danh về nhạc Rock.
John Paul II là người có làm thay đổi bộ mặt của thế giới, và Ngài tin
rằng đó là một ân sủng của Thiên Chúa, phần ḿnh, Ngài chỉ là một vị chủ
chăn trong một giai đoạn thiếu an lành của loài người.
CHÚC THƯ CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
Bản dịch của www.thanhlinh.net
"Totus Tuus ego sum" (Tiếng
La-tinh "Con hoàn toàn ở trong tay Người"
Trong Danh Ba Ngôi Cực
Thánh. Amen.
“Hăy tỉnh thức v́ ngươi không biết giờ nào Chúa đến” (Mt 24:42) - những
lời này nhắc nhở tôi về tiếng gọi sau cùng, sẽ đến vào thời gian Chúa chọn.
Tôi ao ước được theo Ngài, và ước mong tất cả mọi phần trong đời sống
dương thế của tôi sẽ chuẩn bị cho tôi vào giây phút này. Tôi không biết
bao giờ giây phút này sẽ đến, thế nhưng cũng như mọi điều khác, tôi đặt
giây phút này trong đôi bàn tay Người Mẹ của Chủ tôi: Totus Tuus (mọi sự
dâng về Mẹ). Cũng cùng đôi tay Từ mẫu của Mẹ, tôi xin đặt tất cả những
người liên hệ gắn bó với đời sống và với ơn gọi của tôi. Trong Đôi Tay này,
tôi để lại trên hết tất cả là Giáo hội, cũng như đất nước tôi và mọi dân
tộc.
Tôi tạ ơn tất
cả mọi người. Xin mọi người tha thứ cho tôi. Và tôi xin mọi người
cầu nguyện để xin ḷng thương xót của Thiên Chúa rộng lớn bao la hơn là
các yếu đuối và bất xứng của tôi.
Trong những buổi tĩnh tâm, tôi suy niệm
dựa trên chúc thư của Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô VI. Từ sự học hỏi này đă
dẫn tôi viết ra những lời di chúc hiện tại.
Tôi chẳng để
lại tài sản đáng giá nào để chia cả. Những đồ vật sử dụng hằng ngày tôi để
lại và chia cho nhau đúng nghĩa. Những bản văn viết tay xin đốt hết. Tôi
xin cha Don Stanislaw Stanislao Dziwisz điều hành việc này (thư kư riêng
của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Dziwisz),
tôi cám ơn ngài về sự cộng tác và giúp đỡ
kéo dài suốt nhiều năm qua
và quá hiểu nhau. Tất cả những lời tri ân khác, thay vào đó, tôi đặt vào
trái tim tôi mang tới trước chính Thiên Chúa, bởi v́ khó diễn tả những
điều đó được.
C̣n về tang lễ, tôi lập
lại cùng cách thức đă được Đức Thanh Cha Phaolô VI đề ra là chôn dưới ḷng
đất, không phải trong ḥm đá
(chỗ này được
bổ túc vào ngày 13.3.1992).
"Totus Tuus ego sum" (Tiếng
La-tinh "Con hoàn toàn ở trong tay Người")
Gioan Phaolô II
Rôma, ngày 6 tháng 3 năm 1979
Sau khi tôi chết, tôi xin có những Thánh Lễ và các lời cầu nguyện (cho tôi).
Ngày 5 tháng 3 năm 1990
*****
Một trang không đề ngày
Tôi bày tỏ niềm tin sâu xa rằng bất kể mọi sự yếu đuối của tôi, Thiên Chúa
sẽ ban cho tôi tất cả những ân huệ cần thiết để đối diện theo Thánh Ư Ngài
bất kể nhiệm vụ, thử thách hay đau khổ nào mà Chúa đ̣i hỏi người tôi tớ
của Ngài trong cuộc đời của tôi. Tôi cũng có niềm tin rằng Không bao giờ
Ngài sẽ cho phép - qua thái độ của tôi: những lời nói, việc làm hay những
điều thiếu sót - tôi phản bội lại nghĩa vụ của ḿnh trên Ngai Ṭa Thánh
Phêrô.
*****
Ngày 24 tháng - 1tháng 3 năm 1980
Cũng trong những buổi tĩnh tâm này, tôi đă suy niệm về sự thật của Chức Tư
Tế của Đức Kitô trong viễn ảnh sự Qua Đi dành cho mỗi người chúng ta trong
giờ chết. Đối với sự ra đi khỏi thế giới này, là được sinh ra trong thế
giới khác, thế giới tương lai, dấu chỉ hùng hồn cho chúng ta là sự Phục
sinh của Đức Kitô.
V́ thế, tôi đă đọc bản văn chúc thư của tôi hồi năm ngoái, cũng được viết
trong một cuộc tĩnh tâm - Tôi so sánh nó với chúc thư của vị đại tiền
nhiệm của tôi là Đức Thanh Cha Phaolô VI, với chứng tá cao siêu đó với sự
chết của một Kitô hữu và một Giáo Hoàng - và tôi đă biến đổi nhận thức
trong tôi về những vấn đề được đề cập đến trong bản văn ngày 6 tháng 3 năm
1979 do tôi soạn thảo (trong một cách cách thức tạm thời).
Hôm nay, tôi ước mong chỉ thêm vào điều này là: mỗi người chúng ta phải
nhớ đến viễn tượng của sự chết. Và phải chuẩn bị ra tŕnh diện chính ḿnh
trước mặt Thiên Chúa và Đấng Phán Xét - Đấng đồng thời cũng là Đấng Cứu
Chuộc và là Cha. Cả tôi cũng liên tục nghĩ đến điều này, để phó thác giờ
phút quyết định ấy cho Mẹ Chúa Kitô và là Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của niềm hy
vọng của tôi.
Thời điểm chúng ta đang sống khó khăn và rối ren khôn tả. Khó khăn và căng
thẳng cũng đă trở thành đời sống của Giáo hội, dấu hiệu thử thách của
những thời điểm này - cả cho các Tín Hữu lẫn các Chủ chăn. Trong nhiều
Quốc Gia (chẳng hạn, trong nước mà tôi đă đọc trong những cuộc tĩnh tâm
này), Giáo Hội thấy ḿnh đang phải trải qua một thời kỳ bị bách hại không
thua kém ǵ các thế kỷ ban đầu, trái lại, mức độ tàn ác và hận thù c̣n lớn
lao hơn. "Sanguis martyrum - semen christianorum.". Và c̣n vượt quá điều
này - nhiều người vô tội phải chết vô tội, ngay cả trong Quốc Gia mà chúng
ta đang sống.
Một lần nữa, tôi muốn tín thác chính ḿnh tôi hoàn toàn cho ḷng thương
xót Chúa. Chính Ngài sẽ quyết định khi nào và cách nào tôi phải chấm dứt
cuộc sống nơi dương thế và sứ vụ mục tử của tôi. Dù sống và dù chết Tất Cả
Thuộc Về Mẹ Maria Vô Nhiễm. Đă chấp nhận cái chết, ngay cả bây giờ, tôi hy
vọng rằng Đức Kitô sẽ ban cho tôi ân huệ cho chặng đường vượt qua cuối
cùng, đó là Lễ Phục Sinh. Tôi cũng hy vọng rằng nó sẽ sẽ trở nên lợi ích,
đồng thời v́ mục đích quan trọng này mà tôi đang nỗ lực phục vụ: ơn cứu độ
cho con người, bảo vệ cho gia đ́nh nhân loại, và của mọi quốc gia và dân
tộc (trong số này tôi đặc biệt nói tới Quê Hương trần thế của tôi), và lợi
ích cho những ai Ngài đă trao phó cho tôi, cho các vấn đề của Giáo Hội, và
cho vinh quang của chính Thiên Chúa.
Tôi không muốn thêm điều ǵ hơn những ǵ tôi đă viết trước đây một năm -
chỉ muốn bày tỏ sự sẵn sàng này, và đồng thời, niềm tin này, mà cuộc tĩnh
tâm đă chuẩn bị cho tôi.
Gioan Phaolô II
Ngày 5 tháng 3 năm
1982
Liên quan đến câu cuối cùng trong chúc thư đề ngày 6 tháng 3 năm 1979 ("liên
quan đến địa điểm / nghĩa là địa điểm chôn cất /Xin Hồng Y Đoàn và Đồng
Bào quyết định") - Tôi muốn làm sáng tỏ điều tôi nghĩ trong đầu về Đức
Tổng Giám Mục Chính Ṭa Krakow hay Hội Đồng Giám Mục Ba Lan - Trong lúc
này tôi xin Hồng Y Đoàn đáp ứng tối đa có thể được các yêu cầu sau cùng
của các vị đă kể trên.
*****
Ngày 1 tháng 3 năm 1985 (trong tuần tĩnh tâm)
Lần nữa - về cụm từ “Hồng Y Đoàn và Đồng Bào”: “Hồng Y Đoàn” không buộc
phải tham vấn “Đồng Bào” về vấn đề này, tuy nhiên trong bất cứ trường hợp
có thể cần làm thế, nếu Hồng Y Đoàn thấy cần phải như thế.
Gioan Phaolô II
******
Cuộc tĩnh tâm Đại Năm Thánh 2000 (ngày 12-18 tháng 3
(chú thích của Vatican: cho lời di chúc)
1. Vào ngày 16/10/1978, khi mật nghị các Hồng Y chọn Gioan Phaolô II, Giám
Mục Ba Lan, Đức Hồng Y Stefan Wyszynski bảo tôi: “Nhiệm vụ của Tân Giáo
Hoàng sẽ là dẫn đưa Giáo Hội vào Ngàn Năm Thứ Ba”. Tôi không biết là tôi
đang lặp lại những câu này chính xác, nhưng ít nhất đó là cảm giác khi tôi
nghe vào lúc đó. Câu ấy đă được nói bởi Con Người đă bước vào lịch sử là
một Giám Mục của Thiên Niên Kỷ. Một Giám Mục cao cả. Tôi được chứng kiến
cho sứ mạng, cho sự tín thác hoàn toàn của chính Ngài. Cho những chiến đấu
của Ngài. Cho chiến thắng của Ngài. “Chiến thắng, khi nó đến, sẽ là một
chiến thắng qua Mẹ Maria” - những lời này, và những lời của vị tiền nhiệm
của ngài là Đức Hồng Y August Hlond, Giám Mục của Thiên Niên Kỷ đă thường
quen lập lại.
Trong cách này, tôi đă chuẩn bị ở mức độ nào đó cho nghĩa vụ đă được đặt
trước tôi vào ngày 16/10/1978. Trong khi tôi viết những lời này, Đại Năm
Thánh 2000 đă là một thực tại rồi. Đêm 24/12/1999 Cánh cửa tiêu biểu của
Đại Năm Thánh tại Đền Thờ Thánh Phêrô đă được mở ra, sau đó đến cửa đền
thờ Thánh Gioan Latêranô, rồi đến Đền Thờ Đức Bà Cả trong đêm giao thừa
Đầu Năm và Đền Thờ Thánh Phaolô "Ngoài Tường Thành" hôm 19 tháng Giêng.
Biến cố sau này cho thấy tính chất đại kết của nó đă để lại ấn tượng trong
kư ức tôi cách đặc biệt.
2. Ở mức độ khi Đại Năm Thánh 2000 tiến bước, ngày qua ngày thế kỷ 20 lùi
dần sau lưng chúng ta và thế kỷ 21 mở ra. Theo những kế hoạch Quan Pḥng
của Thiên Chúa, tôi được ban tặng để sống trong một thế kỷ khó khăn đang
qua đi, và giờ đây, trong năm mà tuổi đời đă tới 80 năm ('octogesima
adveniens'), điều cần được hỏi là nếu không phải là lúc để lặp lại những
lời ông Simêôn trong Thánh Kinh 'nunc dimittis'.
Hôm 13 tháng năm 1981, ngày xảy ra vụ ám sát Giáo Hoàng trong buổi triều
kiến chung tại quảng trường Thánh Phêrô, Thiên Chúa đă cứu tôi khỏi chết
cách lạ lùng. Chính Đấng là Cứu Độ Duy Nhất của sự sống và sự chết cách
nào đó đă kéo dài cuộc sống ấy và trong một cách nhất định nào đó đă cho
tôi sự sống khác. Từ lúc đó, đời sống càng thuộc về Ngài hơn nữa. Tôi hy
vọng Ngài sẽ giúp tôi nhận ra thời giờ cho tới khi tôi phải tiếp tục sứ vụ
này mà tôi đă được kêu gọi ngày 16 tháng 10 năm 1978. Tôi xin Ngài gọi tôi
khi Ngài muốn. “Dù sống dù chết chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Chúng ta là
của Ngài” (x Rm 14,8). Tôi cũng hy vọng rằng bao lâu tôi c̣n được mời gọi
để thi hành sứ vụ của Thánh Phêrô trong Giáo Hội, Ḷng Thương Xót của
Thiên Chúa sẽ cho tôi sức mạnh cần thiết cho sứ vụ này.
3. Như tôi vẫn làm hằng
năm trong những buổi tĩnh tâm, tôi đọc chúc thư của tôi từ ngày 6 tháng 3
năm 1979. Tôi tiếp tục giữ chiều hướng trong bản văn này. Điều sau này
ngay cả trong những lần tĩnh tâm kế tiếp được thêm vào tạo thành một sự
suy niệm về t́nh trạng khó khăn và căng thẳng đánh dấu của những năm 80.
Từ mùa Thu năm 1989, th́ t́nh trạng này đă thay đổi. Vào Thập niên cuối
cùng của thế kỷ th́ không c̣n những căng thẳng như trước kia nữa; điều đó
không có nghĩa là nó không mang đến những trở ngại và những khó khăn mới.
Trong một cách đặc biệt, ước ǵ Thiên Chúa được ca ngợi về điều này, rằng
thời gian được gọi là "chiến tranh lạnh" đă chấm dứt mà không có sung đột
nguyên tử, một nguy hiểm đă đè nặng thế giới trong thời gian trước đây.
4. Ở trước ngưỡng cửa của
Ngàn năm thứ ba "in medio Ecclesiae", tôi mong được một lần nữa bày tỏ
ḷng tri ân đến Chúa Thánh Thần cho ân sủng lớn lao của Công Đồng Vaticanô
II, mà cùng với toàn Giáo hội - và trên tất cả chức cai quản Giáo hội -
tôi cảm thấy mang ơn Ngài. Tôi tin rằng thời gian dài tới đây những thế hệ
mới sẽ hưởng sử giàu có mà Công đồng này trong thế kỷ 20 đă mang lại cho
chúng ta. Là một vị Giám mục đă tham dự biến cố công đồng ngay từ ngày đầu
cho tới ngày cuối, tôi ước mong tin thác di sản lớn lao này nơi tất cả
những người đang và sẽ được kêu gọi trong tương lai nhận ra công đồng ấy.
Phần tôi, tôi cám ơn vị Chủ Chăn hằng hữu đă cho phép tôi được phục vụ đại
nghĩa rất lớn lao này trong suốt thời gian của những năm giáo hoàng của
tôi.
"In medio Ecclesiae" (giữa
ḷng Giáo Hội)... từ những năm đầu của mục vụ là một Giám mục, cách riêng
xin cám ơn Công Đồng - chính nhờ đó tôi đă có thể kinh nghiệm sự hiệp
thông huynh đệ của các chức vụ cai quản Giáo hội. Là một linh mục của Tổng
Giáo phận Krakow, tôi đă kinh nghiệm sự hiệp thông giữa các linh mục với
nhau - và Công Đồng đă mở ra một chiều hướng mới qua kinh nghiệm này.
5. Bao nhiêu người tôi có
thể liệt kê ra cho hết được! Có thể Thiên Chúa đă gọi về với Ngài đại đa
số họ rồi - và cho những người vẫn c̣n ở bên (thế giới) này, ước ǵ những
lời của chúc thư này nhắc nhở họ, mọi người và mọi nơi, bất kể nơi nào họ
đang ở.
Trong thời gian hơn 20
năm mà tôi đang hoàn thành sứ vụ của Thánh Phêrô "In medio Ecclesiae" (giữa
ḷng Giáo Hội) tôi đă kinh nghiệm ḷng từ tâm và ngay cả sự cộng tác dồi
dào của rất nhiều Hồng Y, các Tổng Giám mục, các Giám mục, rất nhiều linh
mục, rất nhiều tu sĩ tận hiến - các thầy, các sơ - và, sau hết, rất nhiều,
nhiều lắm các giáo dân, người trong Giáo Triều, trong sở hạt giáo phận
Rôma, cũng như ngoài lănh vực này.
Làm sao tôi không thể ấp
ủ những kỷ niệm đầy ḷng biết ơn đối với tất cả các Giám mục trên thế giới
mà tôi đă gặp trong những lần thăm viếng “viếng Mộ các Thánh Tông Đồ” "ad
limina Apostolorum". Làm sao tôi không thể nhớ rất nhiều anh em ngoài Kitô
giáo! Và giáo sĩ Do thái Rôma và rất nhiều đại diện của những tôn giáo
ngoài Kitô giáo! Và bao nhiêu đại diện của các văn hóa, khoa học, chính
trị và tất cả mọi phương tiện truyền thông xă hội trên thế giới!
6. Cuối đời của tôi đang
tới, tôi trở về với kư ức của tôi từ thuở ban đầu, với cha mẹ tôi, với anh
tôi, với chị tôi (Tôi không biết chị v́ chị đă chết trước khi tôi sinh ra),
với cộng đoàn ở Wadowice, nơi tôi chịu Phép rửa, với thành phố tôi yêu mến,
với những người đồng nhiệp, bạn bè trường tiểu học, trung học và đại học,
cho tới thời gian làm việc khi tôi c̣n là một công nhân, và rồi trong cộng
đoàn Niegowic, rồi đến St. Florian's in Krakow, với các giáo sư học viện,
với môi trường xă hội của... với tất cả các môi trường... với giáo phận
Krakow và với Rôma... với tất cả những người đă tín thác nơi tôi trong một
cách đặc biệt do Thiên Chúa gởi tới.
Với tất cả mọi người,
tôi muốn nói một điều thôi: "Xin Thiên Chúa trả công cho quư vị"
"In
manus tuas, Domine, commendo spiritum meum."
"Trong tay
Ngài, lạy Chúa! con phó dâng linh hồn con."
A.D.
ngày 17 tháng 3 năm 2000
ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II: CHÚC THƯ
LỜI CẦU TẠ ƠN VÀ PHÓ THÁC
(Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II)
Lời ngỏ: Đức Thánh Cha yêu dấu của chúng ta đă
ĺa trần tối hôm thứ bảy 2 tháng tư, 2005, vào lúc 21g37, đúng vào ngày
Chúa Nhật mục vụ Ḷng Thương Xót Chúa. Hơi thở cuối cùng của Ngài là một
« hơi thở t́nh yêu », theo như sự ước nguyện của Ngài, trong lời kinh mà
ngài dâng lên Chúa nhân từ nhân dịp ngày sinh nhật thứ 65 của ngài :
Lạy
Chúa, Chúa đă ban cho con một đặc ân vô giá của sự sống, và từ khi con được
sinh ra đời, Chúa đă không ngừng ban tặng cho con muôn vàn hồng ân và t́nh
yêu vô cùng của Chúa. Trong những năm qua, lẫn lộn biết bao điều xăy đến
cho con cũng như cho bao nhiêu người khác: nào là những niềm vui lớn lao,
nào là những thử thách, những thành công và thất bại, sự thăng trầm của sức
khỏe, và sự ra đi của những người thân yêu.
Nhờ
hồng ân và sự trợ giúp của Chúa, con đă vượt qua được những trở ngại đó và
tiến lên với Chúa. Ngày hôm nay, con cảm thấy ḿnh được lớn lên trong kinh
nghiệm đó và được tràn đầy an ủi v́ đă được Chúa yêu thương. Linh hồn
con ca ngợi và cảm tạ Chúa.
Nhưng
con gặp hằng ngày chung quanh con những người già yếu đang chịu bao thử
thách mà Chúa gởi đến: người này bị tê liệt, tật nguyền, mất khả năng suy
nghĩ và thường khi không c̣n sức để cầu nguyện, người khác lại không thể đạt
đến Chúa qua thế giới ảo tưởng của họ. Con nh́n họ hành động và tự nhủ :
« Nếu con là họ th́ sao?»
Vậy
xin Chúa, ngay ngày hôm nay, khi con c̣n có đủ khả năng di động và suy
nghĩ, con xin chấp nhận vâng theo Thánh ư Chúa, và kể từ nay, con mong ước
rằng bất cứ biến cố nào xảy đến cho con, đều được dùng để tôn vinh Chúa và
cứu chuộc các linh hồn. Và cũng kể từ nay, xin Chúa ban cho con hồng ân của
Chúa để con có thể đến với những người đang cần con giúp đỡ.
Nếu một
mai, khi bệnh tật lan tràn trí năo con khiến con không c̣n sáng suốt, con
xin dâng lên Chúa ngay bây giờ sự phục tùng của con trước Nhan Thánh Chúa,
tiếp theo đó là sự tôn thờ trong thinh lặng.
Nếu một
ngày nào đó, con ở trong trạng thái tâm thần vô ư thức, con ao ước rằng mỗi
một giờ con phải sống, sẽ là một chuỗi lời cảm tạ tri ân không ngừng và
hơi thở sau cùng của con sẽ là một hơi thở t́nh yêu. Giờ đây, linh hồn
con được d́u dắt trong tay Mẹ Maria, và được tŕnh diện trước mặt Chúa để
ca ngợi Chúa đến muôn đời. Amen.
ĐTC Gioan Phaolô II
Tháng hai, 1985

|
|