VĂN KIỆN CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II

Bản dịch Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia



1- Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium)

2- Sắc Lệnh về các Phương Tiện Truyền Thông Xă Hội (Inter Mirifica)

3- Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội (Lumen Gentium):

  • Lời Giới Thiệu
  • Chương I
  • Chương II
  • Chương III
  • Chương IV
  • Chương V
  • Chương VI
  • Chương VII
  • Chương VIII
  • Thông Tri Và Trí Thức Sơ Khởi

4- Sắc Lệnh về các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương (Orientalium Ecclesiarum):

  • Lời Giới Thiệu
  • Toàn Văn Sắc Lệnh

5- Sắc Lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio):

  • Lời Giới Thiệu
  • Lời Mở Đầu
  • Chương I
  • Chương II
  • Chương III

6- Sắc Lệnh về Nhiệm Vụ Mục Vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội (Christus Dominus)

  • Lời Giới Thiệu
  • Lời Mở Đầu
  • Chương I
  • Chương II
  • Chương III

7- Sắc Lệnh về Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Ḍng Tu (Perfectae Caritatis)

  • Lời Giới Thiệu
  • Toàn Văn Sắc Lệnh

8- Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục (Optatam Totius)

  • Lời Giới Thiệu
  • Toàn Văn Sắc Lệnh

9- Tuyên Ngôn về Giáo Dục Ki-tô Giáo (Gravissimum Educationis):

  • Lời Giới Thiệu
  • Toàn Văn Tuyên Ngôn

10- Tuyên Ngôn về Liên Lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo Ngoài Ki-tô Giáo (Nostra Aetate):

  • Lời Giới Thiệu
  • Toàn Văn Tuyên Ngôn

11- Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải của Thiên Chúa (Dei Verbum):

  • Lời Giới Thiệu
  • Chương I
  • Chương II
  • Chương III
  • Chương IV
  • Chương VI

12- Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem):

  • Lời Giới Thiệu
  • Lời Mở Đầu
  • Chương I
  • Chương II
  • Chương III
  • Chương IV
  • Chưong V
  • Chương VI

13- Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo (Dignitatis Humanae):

  • Lời Giới Thiệu
  • Lời Mở Đầu
  • Chương I
  • Chương II

14- Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội (Ad Gentes)

  • Lời Giới Thiệu
  • Chương I
  • Chương II
  • Chương III
  • Chương IV
  • Chương V
  • Chương VI

15- Sắc Lệnh về Chức Vụ và Đời Sống các Linh Mục (Presbyterorum Ordinis)

  • Lời Giới Thiệu
  • Chương I
  • Chương II
  • Chương III

16- Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium Et Spes):

  • Lời Giới Thiệu
  • Lời Mở Đầu
  • Nhập Đề
  • Phần I
  1. Chương I
  2. Chương II
  3. Chương III
  4. Chương IV
  • Phần II
  1. Chương I
  2. Chương II
  3. Chương III
  4. Chương IV
  5. Chương V

 

 


 

Lời Giới Thiệu Tổng Quát Về Công Đồng

 

I. Một Vài Khái Niệm Về Các Công Đồng

 

A. Định Nghĩa Công Đồng:

Công Đồng là ǵ? Đó là câu hỏi mà thiết tưởng cần được trả lời trước hết.

Một cách tổng quát Công Đồng là một hội nghị gồm các Giám Mục cùng một số chức vị trong Giáo Hội chính thức nhóm họp với mục đích bàn luận và quyết định những vấn đề thuộc giáo lư hoặc qui luật của Giáo Hội.

Có những cấp bậc Công Đồng khác nhau, được kể trong hai loại tổng quát: Công Đồng phổ quát và Công Đồng riêng. Công Đồng phổ quát c̣n được gọi là Công Đồng Chung. Theo pháp chế hiện hành của Giáo Hội, Công Đồng Chung là một hội nghị toàn thể các Giám Mục của Giáo Hội, được triệu tập do và dưới thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng. Từ ngữ "chung" được dịch từ một tỉnh từ Hy Lạp mang ư nghĩa "thuộc về mọi phần đất có người ở": nghĩa là chỉ toàn thể thế giới.

Trước Công Đồng Vaticanô II, chỉ có những Giám Mục tông ṭa mới có quyền tham dự Công Đồng Chung. Nhưng ngày nay, Sắc lệnh về Nhiệm Vụ Giám Mục xác định lại: "Thánh Công Đồng chế định: mọi Giám Mục đều có quyền tham dự Công Đồng Chung, v́ là thành phần của cộng đoàn Giám Mục" (GM 4). Thứ đến, được gọi là Công Đồng riêng, một hội nghị gồm các Giám Mục của khu vực nào đó trong Giáo Hội. Công Đồng riêng được gọi là Đại Công Đồng, nếu hội nghị gồm các Giám Mục của nhiều giáo tỉnh khác nhau, dưới quyền chủ tọa của Sứ Thần Ṭa Thánh. Nếu chỉ có các Giám Mục của một giáo tỉnh, dưới quyền chủ tọa của Tổng Giám Mục hay một Giám Mục thâm niên công vụ, th́ Công Đồng được gọi là Công Đồng tỉnh. Ngoài ra, chúng ta c̣n có thể kể thêm vài loại khác như Công Đồng toàn quốc, Công Đồng toàn miền, v.v...

Chúng ta c̣n thấy có những hội nghị Giám Mục khác, chẳng hạn như các thượng hội đồng. Thượng hội đồng giáo phận được dùng để chỉ những phiên họp của vị Giám Mục giáo phận với hàng giáo sĩ của ḿnh. C̣n thượng hội đồng Giám Mục là một hội nghị, được thành lập ngay sau Công Đồng Vaticanô II, gồm những Giám Mục được chọn trong số các Giám Mục toàn thế giới, do chính Đức Giáo Hoàng triệu tập, với mục đích cùng t́m hiểu và cố vấn cho Ngài trong những vấn đề có tính cách thời sự của Giáo Hội.

B. Thẩm quyền của Công Đồng:

Công Đồng giữ thẩm quyền tối thượng trong Giáo Hội. Nền tảng này dựa vào chính ư muốn của Chúa Kitô là Đấng đă ban quyền cho các Tông Đồ và những người kế vị các Ngài, để dạy dỗ và điều khiển Giáo Hội.

Công Đồng Chung là cơ quan lập pháp và giáo huấn tối cao của Giáo Hội. Thực ra, đó chính là Giám Mục Đoàn qui tụ về một nơi. Những sắc lệnh giáo lư của Công Đồng này giữ một giá trị giáo thuyết rất cao: với một vài điều kiện, chúng thành bất khả ngộ.

Những sắc lệnh Công Đồng có thể chia làm hai loại: giáo lư hoặc qui luật. Sắc lệnh về qui luật đề cập đến luật lệ, tập quán, nghi lễ v.v... Sắc lệnh về giáo lư nhằm ngay đến giáo lư mạc khải, làm sáng tỏ những điểm c̣n nghi ngờ, xác quyết những chân lư bị lạc giáo chối từ v.v... V́ thế, trong những sắc lệnh về loại này, chúng ta thấy có những "định thức". Gọi là định thức, những công thức ngắn về một điểm của giáo lư, hoặc xác quyết một chân lư, hoặc lên án một lạc giáo, và kết thúc bằng phán quyết "tuyệt thông". Giáo lư ở các định thức thuộc về tín điều: chối bỏ sẽ bị liệt vào hàng lạc giáo.

C. Các Công Đồng trong lịch sử:

Trước hết chúng ta nói đến Công Đồng "Giêrusalem". Đó là cuộc hội nghị của các Tông Đồ và những môn đồ khác, vào khoảng năm 48-50 (x. CvSđ 15). Giáo Hội sơ khai đă bắt đầu tổ chức hội nghị công đồng rất sớm, v́ thực sự đó chính là sự thể hiện tính cách cộng đoàn của Giám Mục. Ngay trước thời kỳ thanh b́nh dưới đời vua Constantinô, đầu thế kỷ thứ IV, cũng đă có Công Đồng Elvira (Tây Ban Nha), nổi tiếng trong quyết nghị công bố luật độc thân giáo sĩ. Sau đó, do lệnh vua Constantinô, Công Đồng Arles (Pháp) được nhóm họp để chống lại lạc giáo Đonatô. Cũng chính vị Hoàng Đế này triệu tập Công Đồng Chung thứ nhất ở Nicea (Nikaia) vào năm 325.

Bảy Công Đồng Chung đầu tiên đă có một thẩm quyền đặc biệt: ngày nay Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương cũng như nhiều người Tin Lành đều nh́n nhận. Tất cả bảy Công Đồng đó đều được triệu tập do hoàng đế (hay nữ hoàng) chứ không do Đức Giáo Hoàng: và đôi khi chống lại Đức Giáo Hoàng, như Công Đồng Chung thứ II thành Constantinopla. Thẩm quyền của những Công Đồng Chung đó dựa vào sự chấp nhận của Giáo Hội phổ quát, bởi Giáo Hội nh́n thấy ở đó sự phản chiếu trung thành của Mạc Khải. Sau đây là danh sách:

1. Công Đồng Nicea (Nikaia) năm 325: thành phần tham dự gồm khoảng 300 Giám Mục Đông Phương, 4 Giám Mục Tây Phương, với 2 linh mục Roma giữ chức vụ sứ thần cho Đức Giáo Hoàng Silvester I. Công Đồng lên án lạc giáo Ariô, và định tín rằng Ngôi Lời đồng bản tính với Đức Chúa Cha.

2. Công Đồng Constantinopla I, năm 381: do Hoàng Đế Theođosiô triệu tập. Khoảng 186 Giám Mục Đông Phương tham dự. Không có một Giám Mục Tây Phương nào. Đức Giáo Hoàng Đamasô không được phép chủ tọa. Công Đồng lên án lạc giáo Maceđôniô, và tuyên bố thiên tính của Chúa Thánh Thần.

3. Công Đồng Êphesô, năm 431: do Hoàng Đế Theođosiô II triệu tập. Thành phần tham dự: khoảng 250 Giám Mục Đông Phương, 1 Giám Mục Tây Phương và 1 phó tế thành Carthagô, cùng với 3 Sứ thần của Đức Giáo Hoàng Celestinô I (2 Giám Mục và 1 linh mục). Công Đồng lên án 2 thủ lănh lạc giáo: Nestoriô và Pelagiô. Công Đồng tuyên bố Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, và xác định sự Ngôi hiệp nơi Chúa Kitô.

4. Công Đồng Calceđonia (Khalkedon), năm 451. Hoàng Đế Marcianô đứng ra triệu tập. Thành phần tham dự: có lẽ khoảng 600 Giám Mục Đông Phương, 2 Giám Mục Phi Châu và 3 Sứ thần của Đức Giáo Hoàng Lêô I (2 Giám Mục và 1 linh mục). Công Đồng lên án thủ lănh lạc giáo Eutiches, và tuyên bố Chúa Kitô có một ngôi vị và hai bản tính.

5. Công Đồng Constantinopla II, năm 553, do Hoàng Đế Giustinianô I triệu tập. Thành phần tham dự: khoảng 150 Giám Mục Đông Phương, 8 Giám Mục Phi Châu. Đức Giáo Hoàng Vigiliô không muốn tham dự (mặc dầu Ngài có mặt ở Constantinopla cùng với 16 Giám Mục La tinh). Công Đồng lên án "Ba Giảng Thuyết" tức các tác giả: Origenes, Theođoretô và Ibas.

6. Công Đồng Constantinopla III, năm 680. Thành phần tham dự: 165 Giám Mục Đông Phương, 6 Giám Mục Tây Phương, và 3 Sứ thần của Đức Giáo Hoàng Agathon (2 linh mục và 1 phó tế). Công Đồng lên án lạc giáo nhị-tính-nhất-ư và dạy rằng Chúa Kitô có 2 ư chí.

7. Công Đồng Nicea II (Nikaia), năm 787. Hơn 300 Giám Mục Đông Phương và 2 Sứ thần của Đức Giáo Hoàng Hadrianô I (1 linh mục hạt trưởng và 1 linh mục) tham dự. Công Đồng lên án phái chủ trương bác bỏ việc tôn kính ảnh tượng.

Đối với 7 Công Đồng vừa kể trên, người ta không đặt vấn đề nghi ngờ về giá trị. Nhưng với Công Đồng thứ 8 mà chúng ta sắp nói đến, có nhiều bất đồng ư kiến.

8. Công Đồng Constantinopla IV: Theo Công Giáo, Công Đồng được nhóm họp năm 870, do Hoàng Đế Basiliô triệu tập, có 102 Giám Mục Đông Phương, 3 Sứ thần của Đức Giáo Hoàng Hađrianô II (2 Giám Mục và 1 phó tế). Công Đồng lên án Đức Thượng Phụ Photios. Nhưng theo Giáo Hội Đông Phương, Công Đồng này đă bị Công Đồng năm 880 hủy bỏ, và đây mới thực là Công Đồng Chung giá trị.

Sau đây chúng ta sẽ kể đến những Công Đồng nhóm họp ở Tây Phương; không có Giáo Hội Đông Phương tham dự, trừ ở hai Công Đồng Lyon và Firenze (Florentinô).

9. Công Đồng Lateranô I, năm 1123. Đức Giáo Hoàng Callitô II triệu tập, và gồm 300 Giám Mục Tây Phương tham dự. Công Đồng bàn luận về vấn đề "ban chức".

10. Công Đồng Lateranô II, do Đức Giáo Hoàng Innocentiô II triệu tập vào năm 1139. Khoảng 1,000 nhân vật tham dự. Công Đồng lên án các giáo phái ly khai, và đề cập tới vấn đề qui luật.

11. Công Đồng Lateranô III, năm 1179, do Đức Giáo Hoàng Alexanđrô III triệu tập. 300 Giám Mục và 400 giáo sĩ tham dự. Công Đồng bàn về việc bầu Giáo Hoàng, và lên án lạc giáo Albigenses (hoặc Cathari).

12. Công Đồng Lateranô IV, năm 1215, do Đức Giáo Hoàng Innocentiô III triệu tập. Thành phần tham dự: 412 Giám Mục và 388 giáo sĩ. Công Đồng lên án lạc giáo Albigeois, và các lạc giáo do P. de Vaux và do Joachim khởi xướng.

13. Công Đồng Lyon I, năm 1245, do Đức Giáo Hoàng Innocentiô IV triệu tập, với sự tham dự của 140 Giám Mục và nhiều giáo sĩ. Công Đồng cách chức Hoàng đế Frederic II.

14. Công Đồng Lyon II, năm 1274, do Đức Giáo Hoàng Gregoriô X triệu tập. Thành phần tham dự: khoảng 500 Giám Mục và 570 giáo sĩ (có Thánh Tôma và Thánh Bonaventura) với Hoàng Đế Đông Phương Michael Paleologô. Công Đồng bàn luận về vấn đề hiệp nhất giữa Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương.

15. Công Đồng Vienne, năm 1321, do Đức Giáo Hoàng Clementê V triệu tập. Người ta không rơ thành phần tham dự: có người cho là 114, người khác bảo 300. Công Đồng hủy bỏ ḍng tu Đền Thờ và lên án lạc giáo do Lambert de Bègue chủ xướng.

16. Công Đồng Constance, từ năm 1414 đến 1418, do Hoàng Đế Segismunđô triệu tập, với sự tham dự của 32 Hồng Y, 183 Giám Mục, 100 linh mục và 350 giáo sĩ. Công Đồng băi nhiệm 3 Đức Giáo Hoàng đang tranh chấp nhau, chấm dứt t́nh trạng ly khai ở Tây Phương, lên án Wiclef và Huss. Sau hết, Công Đồng chọn Giáo Hoàng Martinô V.

17. Công Đồng Firenze, từ năm 1438 đến 1445, do Đức Giáo Hoàng Eugentiô IV triệu tập. Đều tiên Công Đồng nhóm ở Basel, sau rời về Ferrara và cuối cùng ở Firenze. Thành phần tham dự: 150 Giám Mục Tây Phương, với 30 Giám Mục Đông Phương. Các Giám Mục tham dự kư một bản công thức hiệp nhất.

18. Công Đồng Lateranô V, năm 1512-1517, do Đức Giáo Hoàng Giuliô II triệu tập, gồm 115 Giám Mục Tây Phương. Công Đồng bàn về vấn đề canh tân Giáo Hội và lên án những nhà tân thuyết Aristoteles (Neo-aristotelismô).

19. Công Đồng Triđen, từ năm 1545 đến 1563, do Đức Giáo Hoàng Phaolô III triệu tập. Lúc đầu 70 Giám Mục tham dự và lúc cuối có 252 Giám Mục, với nhiều giáo sĩ khác. Công Đồng lên án giáo phái Tin Lành và tuyên bố nhiều định tín khác. Công Đồng ra lệnh canh tân Giáo Hội.

20. Công Đồng Vaticanô I, năm 1870, do Đức Giáo Hoàng Piô IX triệu tập, với sự tham dự của 747 Giám Mục. Công Đồng lên án thuyết duy lư và thuyết chủ trương Giáo Hội Pháp độc lập. Công Đồng tuyên bố tính cách bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng.

21. Công Đồng Vaticanô II, do Đức Gioan XXIII triệu tập và kết thức ở thời Đức Phaolô VI.

Ngoài những Công Đồng Chung kể trên, chúng ta biết c̣n có nhiều Công Đồng riêng ảnh hưởng lớn lao trong Giáo Hội, như Công Đồng Cathagô (do Thánh Cyprianô khởi xướng năm 256) và Công Đồng Toleđô. Trong thời Trung Cổ, các Công Đồng và Thượng Hội Đồng được triệu tập rất thường.

 

II. Công Đồng Vaticanô II

 

A. Vaticanô II, một ư nghĩ cá nhân của Đức Gioan XXIII:

Nguồn tin Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII loan báo triệu tập Công Đồng đă làm cho toàn thế giới ngạc nhiên; hầu như không một ai chờ đón và nghĩ tới sự kiện đó. Lúc đó là ngày 25 tháng Giêng năm 1959. Đức Giáo Hoàng và một vài Hồng Y đến tham dự một nghi lễ tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô ngoại thành. Sau buổi lễ, trong một pḥng khách của tu viện cạnh thánh đường, khi ngỏ lời với các Hồng Y, Đức Thánh Cha nói Ngài đă có ư định triệu tập một Công Đồng Chung, một Thượng Hội Đồng giáo phận Roma và muốn cải tổ giáo luật.

Lúc đó, người ta bắt đầu nói đến một "Công Đồng Hiệp Nhất" mọi Kitô hữu; thực vậy chính Đức Thánh Cha muốn Công Đồng trở thành một lời mời gọi đến hiệp nhất. Cũng ngày 25 tháng Giêng năm 1959, Đức Gioan XXIII bế mạc tuần lễ hiệp nhất, và bốn ngày sau Ngài đă tuyên bố về Công Đồng như sau: "Chúng ta hăy hiệp nhất với nhau và chúng ta hăy chấm dứt mọi bất ḥa". Tinh thần hiệp nhất đă trở nên niềm hy vọng và là động lực hướng dẫn cho Công Đồng, cũng như sau này sẽ là một trong những thành quả hiển nhiên nhất của Công Đồng.

Ư nghĩ triệu tập Công Đồng là một linh ứng đặc biệt của Đức Gioan XXIII. Ngài không thổ lộ với ai, cũng như chưa có ai đề nghị cho ngài ư tưởng đó. Hơn thế, lúc ấy người ta nghĩ rằng các Công Đồng sẽ không c̣n cần thiết nữa. Sau Công Đồng Vaticanô I với định tín ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng, nhiều người đă ngầm chấp nhận "luận đề" của Bismark cho rằng từ nay Công Đồng trở nên vô ích. Và trong suốt thế kỷ sau Công Đồng Vaticanô I, uy quyền Giáo Hoàng vươn dần tới chỗ độc tôn đến nỗi ai cũng công nhận rằng ngay cả quyền giáo huấn thông thường của Giáo Hoàng vẫn là "mực thước của đức tin" cho tín hữu thực hành. Bởi thế, do ơn quan pḥng, Đức Gioan XXIII, "vị Giáo Hoàng chuyển tiếp", như người ta vẫn gọi thế, đă đưa Giáo Hội thoát xa "duy giáo hoàng thuyết", để đến gần với "nguồn Phúc Âm" hơn.

B. Tổng luận về Công Đồng Vaticanô II:

Vaticanô I phải chấm dứt vào ngày 20 tháng 10 năm 1870, khi giáo phận Roma bị sát nhập vào vương quốc Ư. Công Đồng đành đ́nh hoăn vô thời hạn. Chương tŕnh các vấn đề bàn căi c̣n dang dỡ. Tối thượng quyền và ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng là những vấn đề không nằm trong chương tŕnh ban đầu, lại được Công Đồng định tín trước; c̣n nhiều tiết mục quan trọng khác về Giáo Hội, nhất là về vấn đề truyền giáo, về nhiệm vụ các Giám Mục v.v... chưa được bàn căi tới. V́ thế, Công Đồng Vaticanô I là một Công Đồng đă ngưng trệ nhưng chưa hoàn tất.

Đức Piô IX, Đức Leô XIII và cả Đức Piô X h́nh như đă không nghĩ tới việc tiếp tục và hoàn tất Công Đồng. Sau trận đại chiến, Đức Piô XI đă quan tâm đến vấn đề: trong Thông Điệp đầu tiên Ubi arcano (23-12-1922), ngài có đề cập tới vấn đề tiếp tục tiến hành công việc c̣n dang dỡ của Công Đồng (AAS 14 (1922) 692). Ngài đă đề cử một ủy ban để t́m hiểu các văn kiện của Công Đồng Vaticanô I và t́m cách thức tiến hành.

Rồi đến Đức Piô XII, ngay khi vừa nhận chức Giáo Hoàng, ngài đă được Hồng Y Ruffini đề nghị tiếp tục Công Đồng. Đă có một nhóm chuyên viên làm việc trong nhiều năm với mục đích chuẩn bị Công Đồng, cho tới khi Đức Piô XII băng hà.

Đức Gioan XXIII đă tiếp tục. Tuy nhiên, điều mới mẻ nơi ngài là ư định triệu tập Công Đồng không phải phát sinh từ việc học hỏi các tài liệu, nhưng từ những nhu cầu cấp bách thực tế của Giáo Hội. Và đó cũng là hướng đi đặc biệt của Vaticanô II.

Thông thường, Công Đồng là một giải đáp của Giáo Hội trước một khủng hoảng rơ ràng, chẳng hạn một lạc giáo hay một cuộc ly khai v.v... Thế nhưng vào năm 1959, người ta có cảm tưởng rằng Giáo Hội không phải bận tâm về một khó khăn nào: không có lạc giáo, không có bách hại. Hơn thế, uy quyền Giáo Hội lớn mạnh hơn lúc nào hết. Tuy nhiên, phải nh́n thẳng vào bề mặt của Giáo Hội, người ta mới nhận thấy rằng hơn bao giờ hết. Giáo Hội đang đương đầu với những vấn nạn cực kỳ khó khăn. Từ Vaticanô I, thế giới đă đổi thay c̣n nhanh hơn 19 thế kỷ qua. Cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật đă có hấp lực hướng về viễn ảnh tương lai, mà đối với họ, h́nh như đang ở trong tầm tay. Con người đặt trọn niềm hy vọng của ḿnh nơi thế giới vật chất này, v́ đối với họ, những hứahẹn của các tôn giáo đều tan vỡ. Nhưng đồng thời và hơn bao giờ hết, con người lại cảm thấy luôn bị đe dọa do chính những khám phá của họ: hiểm nguy tiêu diệt của bom nguyên tử, bầu khí thiếu lành mạnh và nhiễm độc của môi trường văn minh, chiến tranh liên lỉ...

Đang khi đó, các Kitô hữu, thành phần thiểu số của thế giới, lại chia rẽ hơn bao giờ hết. Giáo Hội Công Giáo đă mất đi những cơ hội truyền giáo hứa hẹn nhất, và đau đớn v́ những rạn nứt nội bộ không ngừng xảy ra nơi các xứ Kitô giáo lâu đời.

V́ sự hiệp nhất Kitô hữu đă trở nên hết sức cần thiết. Nhưng sự hiệp nhất không thể đương nhiên thành tựu, mà trái lại chính người Kitô hữu phải bắt đầu và khởi sự đi dần tới hiệp nhất. Bởi vậy, cần phải thay đổi nhiều và "tự cải hóa"...

Những vấn đề ấy là những lư do đủ để khai mở một Công Đồng.

1. Giai đoạn tiền chuẩn bị (từ 17-5-1959 đến 5-6-1960)

Công Đồng bao giờ cũng là công việc rất quan trọng, cho nên ngay cả công cuộc chuẩn bị, người ta cũng phải sửa soạn trước. Do đó có giai đoạn được gọi là "tiền chuẩn bị".

Trong giai đoạn này, người ta có thể theo hai phương pháp làm việc: hoặc tiếp tục công tŕnh của Vaticanô I, hay khởi sự từ những vấn đề mới. Trong phương pháp thứ hai, người ta c̣n có thể bàn luận những đề mục do Ṭa Thánh Roma đề nghị hay hỏi ư kiến các Giám Mục về những đề mục. Phương pháp thứ hai được áp dụng cho giai đoạn này của Công Đồng Vaticanô II.

Để thực hiện việc này Đức Gioan XXIII đă đề cử một Ủy Ban do Hồng Y Tarđini làm chủ tịch. Và đây là lần đầu tiên trong lịch sử, các Nghị Phụ Công Đồng tương lai được tham khảo ư kiến (ở Công Đồng Vaticanô I, chỉ có 35 Giám Mục được hỏi ư kiến). Các Đại Học cũng được thăm ḍ. Hơn thế, một sự kiện chưa từng có là không có vấn đề giới hạn các đề mục. Con số trả lời lên tới 2,109, làm thành 8 quyển. Tổng kết gồm 8,972 đề nghị.

Để khai triển những đề nghị trên, Đức Giáo Hoàng ra tự sắc Superno Dei nutu ngày 5-6-1960, ngày Lễ Hiện Xuống, trong đó, ngài thành lập 12 Ủy Ban và 3 Văn Pḥng. Các Ủy Ban này tương đương với những Thánh Bộ của Giáo Triều Roma, cũng có một bộ trưởng tướng ứng. Ủy Ban Trung Ương do chính Đức Giáo Hoàng làm Chủ Tịch, và Tổng Thư Kư lúc đó là Đức Cha Felici, sau này trở thành Tổng Thư Kư của Công Đồng. Thành phần các Ủy Ban được tuyển chọn trong toàn thế giới, mặc dầu phần đông thuộc Âu Châu, v́ lư do tài chánh và kỹ thuật.

C̣n về tên gọi của Công Đồng, người ta bàn căi không biết đó có phải là một Công Đồng khác, hay là kế tiếp Vaticanô I. Cuối cùng, vào ngày 7 tháng 12 năm 1959, Đức Giáo Hoàng chính thức đặt tên là Vaticanô II.

2. Quá tŕnh giai đoạn chuẩn bị (từ 14-11-1960 đến 11-10-1962)

Ngày 14-11-1960, Đức Giáo Hoàng đọc diễn văn khai mạc giai đoạn chuẩn bị trước 33 Hồng Y và hàng trăm Giám Mục: mục đích của Công Đồng là "đem lại chân giá trị cho tư tưởng con người, cũng như cho đời sống nhân loại và Kitô giáo", trong một tinh thần biết t́m về nguồn và biết vâng theo Chúa Thánh Thần (AAS 59 (1960) 1004-1014).

Ngay trước khi khai mạc, các Ủy Ban đă phải làm việc ngày đêm. Họ lo soạn thảo các lược đồ hội nghị. Để hoàn thành một lược đồ, các thành phần của Ủy Ban phải họp lại với nhau, dưới quyền chủ tọa của một Hồng Y; bên họ luôn có những nhà chuyên môn tài giỏi. Trong 8 quyển chứa đựng các đề nghị, họ phải chọn lựa ra những chất liệu căn bản, dựa theo tầm quan trọng và theo con số những người đề nghị v.v...

Sau đó, họ bàn căi để đi đến chấp nhận cách tổng quát những đề tài và những tiêu chuẩn làm việc. Thế rồi, để tiến hành công việc, các chất liệu lại được phân chia thành những tiểu đề do các tiểu ban hoặc các nhóm chuyên viên đảm trách.

Các nhóm và tiểu ban này một lần nữa sẽ đúc kết các tiểu dề và phân thành chương, rồi cuối cùng soạn thành một bản sơ thảo. Bản sơ thảo này sẽ được chính tiểu ban soạn thảo bàn căi một lần nữa, tu bổ lại, hoặc có khi loại bỏ. Sau đó, tiểu ban sẽ soạn lại một sơ thảo mới. Khi tiểu ban đă đồng ư, bản sơ thảo sẽ được cho in và gởi đến mọi thành phần của Ủy Ban và các cố vấn; những vị này sẽ gởi nhận xét đến tiểu ban. Một số các cố vấn; những vị này sẽ gởi nhận xét đến tiểu ban. Một số các nhà chuyên môn sẽ t́m hiểu các nhận xét đó, sắp xếp và chuyển về cho các thành phần tiểu ban. Tiểu ban sẽ xem xét các nhận xét, chấp thuận hay loại bỏ. Cuối cùng lược đồ sẽ được Ủy Ban nhóm họp lại bàn căi tự do và bỏ phiếu quyết định.

Một lược đồ đă được Ủy Ban chấp thuận c̣n phải đệ tŕnh lên Ủy Ban Trung Ương. Ủy Ban này do chính Đức Giáo Hoàng chủ tọa, được coi như một tiểu Công Đồng: gồm nhiều Hồng Y, Thượng Phụ và Giám Mục... của 57 quốc gia. Lại có một tiểu ban đặc biệt chuyên xem xét các lược đồ thuộc các Ủy Ban khác nhau để tránh sự lập lại chất liệu.

Khi một lược đồ được đệ tŕnh, Ủy Ban Trung Ương sẽ cẩn thận duyệt xét, để xem có đáp ứng đủ với những tiêu chuẩn đă ấn định hay không. Sau đó Ủy Ban sẽ bỏ phiếu: đồng ư, không đồng ư, hay đồng ư với vài sửa đổi. Nếu hơn một phần ba không đồng ư, lược đồ bị loại bỏ; và Ủy Ban có trách nhiệm phải soạn thảo một lược đồ khác. Nếu được chấp thuận, lược đồ sẽ được đệ tŕnh lên Đức Giáo Hoàng, và chính Ngài sẽ quyết định cho đem tŕnh bày với các Nghị Phụ ở Công Đồng.

Thành quả của những công việc lâu dài này là 70 dự án được chấp thuận, làm thành 2,060 trang giấy in. Tuy nhiên, các chất liệu vẫn c̣n quá bao la, nên đ̣i hỏi phải lược tóm hơn nữa.

3. Kỳ họp đầu tiên của Công Đồng (từ 11-10 đến 8-12-1962)

Trong Tông Hiến Humanae Salutis (ngày 25-12-1961), Đức Giáo Hoàng quyết định triệu tập Công Đồng vào năm 1962; và ngày giờ chính xác để khai mạc được ấn định trong Tự Sắc Concilium (ngày 2-2-1962).

Có tất cả 2,904 Nghị Phụ được mời gọi tham dự, và con số các Nghị Phụ có mặt lên rất cao (trong các lần họp, nhiều nhất là 2,449 vị và ít nhất là 2,086 vị tham dự). Vài ngày trước khi khai mạc, Đức Thánh Cha đă hành lương đến Loretto và Assisi (vào ngày 4-10-1962) để cầu xin Ơn Trên.

Trong bài diễn văn khai mạc, Đức Gioan XXIII đă đưa ra những tôn chỉ hướng dẫn Công Đồng: cởi mở với thế giới; thông cảm chứ không lên án tuyệt thông; xót thương hơn là khắt khe; nhận chân rằng thế giới cũng rất nhậy cảm, không chấp nhận sai lầm: loan truyền Phúc Âm với niềm hy vọng hơn là với tâm trạng của "những tiên tri loan báo sự dữ".

Khoảng thời gian từ ngày 13 đến 20-10, các Nghị Phụ tuyển chọn những thành phần các ủy Ban Công Đồng. Mỗi Ủy Ban gồm 16 thành phần tuyển chọn và 9 thành phần do Đức Giáo Hoàng chỉ định. Vị chủ tịch chính là Hồng Y chủ tịch của Ủy Ban trong giai đoạn chuẩn bị, do Đức Giáo Hoàng đề cử. Có tất cả 10 Ủy Ban, cộng với Hội Đồng chủ tịch điều hành, Ủy Ban đặc vụ và Văn Pḥng thống nhất. Tất cả các thành phần là 273 Nghị Phụ: 54 vị thuộc Âu Châu, 66 vị thuộc Mỹ Châu, 38 vị thuộc Á Châu, 12 vị thuộc Phi Châu và 3 vị thuộc Đại Dương Châu.

Ngày 20 tháng 10, trong phiên họp khoáng đại lần thứ ba, Công Đồng đă gởi "một sứ điệp cho thế giới". Sau đó, các Nghị Phụ bắt đầu công việc theo các lược đồ đề nghị. Bảy lược đồ đă được phân phát cho các Nghị Phụ, và các Ngài bắt đầu lược đồ về Phụng Vụ. Những cuộc bàn luận không phải lúc nào cũng dễ dàng, v́ có nhiều giờ phút thật căng thẳng, giằng co. Cuối cùng vào ngày 14 tháng 11 lược đồ đầu tiên này được bỏ phiếu và được chấp thuận với 2,162 phiếu thuận, và 46 phiếu chống. Công Đồng đă đạt được một bước thắng lợi.

Ngay sau đó, cuộc bàn căi được tiếp tục với lược đồ về các nguồn mạc khải. Đây là vấn đề gai góc hơn v́ tầm quan trọng của nó trong lănh vực thần học. Có một nguồn hay hai nguồn? Đó là vấn đề, và thực tế hai trường phái thần học đều phải đương đầu trước khó khăn của quan niệm về "mạc khải", về "chân lư", về "linh ứng", về "thánh truyền" và về những tương quan của chúng. Các ư kiến bênh vực hay chống đối đă được phát biểu trong bầu không khí thật sôi động và căng thẳng. Nhưng rồi lược đồ bị đa số bác bỏ và Đức Giáo Hoàng đă phải gởi trả về cho Ủy Ban liên hệ.

Ngày 23 tháng 11, các Nghị Phụ đề cập tới lược đồ về phương tiện truyền thông xă hội, nhưng cũng bị gởi trả về cho ủy Ban soạn thảo để sửa lại. Lược đồ về hiệp nhất các Kitô hữu cũng bị bác bỏ, lư do là v́ lược đồ này chỉ được Ủy Ban phụ trách các Giáo Hội Đông Phương soạn thảo, đang khi đáng lư nó thuộc thẩm quyền của Ủy Ban về hiệp nhất. Và chính Ủy Ban này cũng đang soạn thảo một lược đồ. Lại nữa, một Ủy Ban thần học khác lại cũng đề cập đến vấn đề hiệp nhất này trong một lược đồ về Giáo Hội. Cuối cùng, các Nghị Phụ bỏ phiếu tổng hợp cả ba lại thành một lược đồ duy nhất về vấn đề này.

Vào cuối tháng 11, các Nghị Phụ lại nhận được một lược đồ về Giáo Hội (123 trang), gồm cả một chương về Đức Trinh Nữ Maria. Một số Nghị Phụ muốn bàn luận ngay về chương này; nhưng v́ các lư do hiệp nhất và giáo hội học, lược đồ về Giáo Hội được khởi sự bàn căi ngay từ chương đầu vào ngày 1 tháng 12 năm 1962. Cuộc bàn căi mang lại nhiều lợi ích và chuẩn bị cho công việc giữa hai kỳ họp.

Ở cuối kỳ họp, các Nghị Phụ nhận thấy rằng chất liệu c̣n quá bao la, số lược đồ lại tăng lên tới 73, và nếu so sánh với tất cả những Công Đồng trước, số trang tài liệu của các lược đồ đă nhiều hơn gấp ba lần. V́ thế, Đức Giáo Hoàng quyết định rút lại c̣n 20 lược đồ. Các Nghị Phụ có chín tháng để lo đúc kết các lược đồ này và soạn thảo công việc cho kỳ họp tới.

Nhưng trong thời gian đó, Đức Gioan XXIII, Người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, đă được cất về Trời. Đức Hồng Y Montini lên ngôi Giáo Hoàng kế vị, lấy danh hiệu Phaolô VI.

4. Kỳ họp thứ hai (từ 29-9 đến 4-12-1963)

Có những dư luận đối nghịch nhau về vị Tân Giáo Hoàng. Nhiều người cho rằng Ngài "bảo thủ", một số khác tiên đoán Ngài thuộc phái "cấp tiến". Người ta có cảm tưởng những hướng đi đầu tiên của triều đại Giáo Hoàng của ngài nằm trong con đường "bảo thủ". Nhưng về sau, mọi người mới nhận ra tinh thần của ngài vượt trên mọi thành kiến và c̣n tiến xa hơn cả Đức Gioan XXIII: Ngài cải tổ lại các qui tắc của Công Đồng để đem đến nhiều hiệu năng hơn; Ngài mạnh dạn tuyên bố chỉnh đốn lại giáo triều Roma vào ngày 21-9-1963, đó là điều Đức Gioan XXIII không dám nghĩ tới.

Trong bài diễn văn khai mạc, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă cụ thể hóa chương tŕnh làm việc của Công Đồng; ngài tuyên bố: "Thánh Công Đồng phải đào sâu giáo lư về chức Giám Mục, về những nhiệm vụ và những liên lạc của chức vụ đó với Phêrô". Giáo lư cần trở nên thiết thực và thích ứng hơn. Ngài nói đến "những anh em bất ḥa (chứ không phải "ly khai") là những người được kêu mời để trở nên đồng tâm nhất trí với Giáo Hội"; và một điều được xem là táo bạo, mới lạ chưa từng có từ bao nhiêu thế kỷ qua đó là chính Đức Giáo Hoàng lên tiếng cầu xin sự tha thứ của Thiên Chúa và của những anh em bất ḥa này v́ những lỗi lầm của Giáo Hội Roma trong việc chia rẽ Kitô giáo.

Phiên họp bắt đầu với những bàn căi về lược đồ Giáo Hội. Lược đồ được chấp thuận như là nền tảng cho các cuộc tranh luận sau này, với 2,301 phiếu thuận và 43 phiếu chống. Trong suốt thời gian tranh luận, phiên họp đă có những lúc thật căng thẳng, những cuộc bênh vực cũng như những cuộc chống đối đều rất dữ dội, đến nỗi lúc đó người ta gọi là "cơn sốt tháng 10". Sau cùng, vào cuối tháng 10, các Nghị Phụ bỏ phiếu quyết định về "vấn đề Đức Maria": lược đồ về Đức Trinh Nữ được sát nhập vào lược đồ về Giáo Hội với 1,114 phiếu thuận và 1,074 phiếu chống.

Ngày 5 tháng 11, lược đồ về "các Giám Mục và sự điều khiển giáo phận" được đưa ra bàn luận. Khái niệm và sự thực thi "cộng đoàn tính của các Giám Mục" đă gây ra nhiều cuộc tranh  luận sôi nổi. Rồi từ ngày 18 đến 21 tháng 11, các Nghị Phụ đi đến một vấn đề tế nhị, quan trọng và sôi nổi nhất: vấn đề hiệp nhất. Chương về những người Do Thái do Đức Hồng Y Bea viết đă bị các Nghị Phụ Ả Rập chống đối mănh liệt. Chương về tự do tôn giáo, được Đức Cha De Smedt tŕnh bày khéo léo, cũng là đối tượng của cuộc bàn căi sôi nỗi nhất.

Trong thời gian đó, Sắc Lệnh về các phương tiện truyền thông xă hội và những đề nghị tu chỉnh của Hiến Chế về Phụng Vụ được bỏ phiếu. Ngày 4 tháng 12, sau Thánh Lễ, các Nghị Phụ đă bỏ phiếu và cả hai đều được chấp thuận. Sau đó Đức Thánh Cha chính thức công bố các văn kiện được chấp thuận. Trước đó theo luật qui định th́ công thức ban hành sẽ là: "Ta ra sắc lệnh, thiết lập và phê chuẩn... với sự chấp thuận của Thánh Công Đồng" (kh 46). Như thế có nghĩa là chính Đức Giáo Hoàng công bố và Công Đồng chỉ có việc chấp nhận, và như vậy "cộng đoàn tính" của các Giám Mục vẫn c̣n là một vấn nạn. Bởi đó, Đức Phaolô VI đă sử dụng một công thức khác: "Tất cả và từng điều được ban bố trong Hiến Chế... này đều được các Nghị Phụ Thánh Công Đồng chấp thuận. Và, dùng quyền Tông Đồ Chúa Kitô trao ban, hiệp cùng các Nghị Phụ khả kính... Chúng Tôi phê chuẩn...". Đó là một bước tiến biểu lộ tính cách cộng đoàn của các Giám Mục.

Cho tới cuối kỳ họp lần thứ hai này, chương tŕnh dự định vẫn chưa được hoàn thành. Bốn lược đồ về Giáo Hội, về Giám Mục, về Giáo Dân và về Hiệp Nhất kéo dài từ kỳ họp đầu tiên và cho đến kỳ họp này vẫn c̣n nhiều phần chưa được giải quyết.

5. Giai đoạn giữa kỳ họp thứ hai và kỳ họp thứ ba

Vào cuối kỳ họp thứ hai người ta có cảm tưởng Công Đồng như thất bại. Và cuộc hành hương của Đức Giáo Hoàng đến Palestina ngày 4 và 5 tháng 1 năm 1964, đối với nhiều người, đó là một chuyến đi nhằm thoái thác công tŕnh dang dở.

Tuy nhiên, thực sự th́ lúc đó t́nh trạng phải được coi là đáng lạc quan hơn.

Dĩ nhiên, c̣n rất nhiều công việc phải làm, và các Nghị Phụ bắt đầu thực hiện chương tŕnh mà người ta gọi là "Dopfner", và đó cũng chính là ư kiến trước kia của Đức Hồng Y Montini. Theo chương tŕnh đó, tất cả các lược đồ của Công Đồng sẽ được bố cục lại dựa theo một trục chính là Giáo Hội.

Trong thực tế, các Nghị Phụ vẫn giữ nguyên các lược đồ quan trọng như lược đồ về Giáo Hội, Giám Mục, Giáo Dân, Mạc Khải, Hiệp Nhất và "Lược đồ XIII" rất nổi tiếng. Những lược đồ khác đều được rút gọn thành những đề mục ngắn. Các ủy Ban, nhất là Ủy Ban Thần Học, đă làm việc cách tuyệt hảo, đă cộng tác với nỗ lực của Đức Giáo Hoàng để đem lại can đảm và hy vọng cho Công Đồng (diễn văn của Đức Giáo Hoàng cho hàng Giám Mục Ư ngày 14-3-1964, và Thông điệp Ecclesiam suam).

6. Kỳ họp thứ ba (từ 14-9 đến 21-11-1964)

Kỳ họp được khai mạc bằng một Thánh Lễ đồng tế, là kết quả đầu tiên của việc canh tân phụng vụ. Trong bài diễn văn khai mạc, Đức Thánh Cha một lần nữa xác quyết giáo lư về tính cách cộng đoàn của Giám Mục. Qui luật của Công Đồng lại được sửa đổi cho thích hợp trong việc thẩm định quyền của các Nghị Phụ điều hành. Các Nghị Phụ phải báo trước 5 ngày những ư kiến muốn phát biểu trong các phiên họp, với mục đích tránh những ư kiến lập lại; các Hồng Y cũng mất đặc ân phát biểu không cần báo trước v.v... Nhờ đó các công việc tiến hành nhanh hơn. Trong kỳ họp đầu tiên, có 33 điểm được bỏ phiếu, ở kỳ họp thứ hai có 94 và trong kỳ họp thứ ba này có 150 điểm được chung quyết.

Phiên họp bắt đầu với những tranh luận về chương VII của lược đồ Giáo Hội nói đến sự cánh chung. Đề mục này đă được chính Đức Gioan XXIII đề nghị, với mục đích minh chứng bộ mặt siêu việt hơn của Giáo Hội. Nhưng rồi cuộc tranh luận đă đưa tới thất vọng: chỉ có 17 diễn giả phát biểu và một số Nghị Phụ lại không thấu triệt được vấn đề.

Từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 9, Công Đồng đề cập trở lại đề mục về Đức Trinh Nữ, chương sau cùng của lược đồ về Giáo Hội. Bản văn lại phải tu chỉnh v́ phần đầu của đề mục bị chống đối quá mạnh; cũng chỉ có 33 Nghị Phụ phát biểu về vấn đề này, v́ sự khe khắt của luật phát biểu.

Nhiệm vụ mục vụ của Giám Mục được bàn căi từ ngày 13 đến 23 tháng 9. Nhờ đă sửa đổi ở các lần tranh luận trước, bản văn này được các Nghị Phụ bàn căi và chấp thuận dễ dàng hơn.

Từ ngày 23 đến 28 tháng 9, các Nghị Phụ bàn căi lần thứ hai về Tự Do Tôn Giáo. Trước kia, đề mục này là chương thứ ba của lược đồ Hiệp Nhất, bây giờ đă trở thành một Tuyên Ngôn riêng biệt. Có thể nói đây là một vấn đề gây nhiều ngộ nhận, nghi ngờ và dè dặt nhất. Thông thường trên nguyên tắc các nhà thần học vẫn chủ trương rằng sự lầm lẫn tôn giáo của những người ngoài công giáo đều bị kết án; nhưng theo hoàn cảnh thực tế người ta cảm thấy cần có sự khoan hồng, nhượng bộ và chấp nhận. Các ư kiến bênh vực và bác bỏ của các Nghị Phụ rất sôi nổi và xung khắc nhau. Dư luận bên ngoài cũng chia làm hai phe và hồi hộp theo dơi. Đồng thời, các Nghị Phụ cũng tranh luận nẩy lửa "về những người Do Thái". Cuối cùng các Nghị Phụ quyết định bỏ phần tố cáo "tội giết Thiên Chúa" của toàn dân Do Thái, cũng như băi bỏ tất cả những đoạn nào mang ư nghĩa kết án tương tự đối với các tôn giáo ngoài Kitô giáo.

Ngày 30 tháng 9, Công Đồng bàn lại lược đồ về Mạc Khải; cuộc tranh luận kéo dài tới ngày 6 tháng 10. Khi lược đồ này bị bác bỏ ở kỳ họp đầu tiên và không được nhắc tới ở kỳ họp thứ hai, người ta cứ nghĩ rằng vấn đề có lẽ thông qua. Nhưng Đức Phaolô VI cương quyết cho soạn thảo lại lược đồ v́ nó có tầm mức quan trọng về thần học cũng như về hiệp nhất. Đức Hồng Y Ottaviani và Bea hợp tác với nhau trong việc soạn thảo. Và trong kỳ họp thứ ba này, cuộc tranh luận đă đem lại nhiều đề nghị mới, giúp cho lược đồ hoàn mỹ hơn. Tuy thế, lược đồ này vẫn chưa được bỏ phiếu.

Ngày 7 tháng 10, Công Đồng đề cập tới lược đồ về Tông Đồ Giáo Dân. Phải nói rằng Giáo Hội Tây Phương đă quên lăng giáo dân, những thành phần của dân Thiên Chúa. Ngay cả những văn kiện chính thức cũng chấp thuận phân chia Giáo Hội thành hai cấp, như trong "Tự điển biện giáo Đức Tin Công Giáo": Truyền lệnh là quyền của hàng giáo sĩ và vâng lời là bổn phận của giáo dân (DAFC, bộ II, cột 1769). Vaticanô II là Công Đồng đầu tiên đề cập tới vấn đề này, và các Nghị Phụ đă hăng say bàn luận: có đến 65 lần phát biểu ư kiến, và c̣n nhiều đề nghị viết khác. Tuy nhiên, v́ bản văn chưa mỹ măn, các Nghị Phụ quyết định sẽ hoàn tất trong kỳ họp sau.

Lược đồ về Linh Mục đă được rút ngắn thành một vài tiểu đề, và được bàn căi từ ngày 13 đến 15 tháng 10; nhưng lại phải gởi trả về cho Ủy Ban liên hệ v́ có tới 930 phiếu chống với 1,199 phiếu thuận. Sau đó các Nghị Phụ khảo cứu lược đồ về các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, từ ngày 15 đến 20 tháng 10. Lược đồ được chấp thuận.

Ngày 20 tháng 10, Công Đồng bắt đầu cuộc bàn căi về lược đồ XIII sẽ trở thành Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Đây là vấn đề quan trọng nhất trong kỳ họp thứ ba này và được thế giới hồi hộp theo dơi. Các nghị Phụ đă thành thật nh́n nhận sự chia cách của Giáo Hội với thế giới, và cảm thấy cần phải góp phần giải quyết những vấn nạn của xă hội; nhưng các Ngài không biết phải làm thế nào. Lược đồ được khen ngợi nhiều nhưng cũng bị chỉ trích mạnh mẽ. Tính cách pháp chế tuyệt đối trong nhiều giới luật của Giáo Hội bị đă kích và chê bai. Các Nghị Phụ yêu cầu đời sống các giáo sĩ nên mang sắc thái đơn giản hơn theo tinh thần Phúc Âm. Các Ngài đề cập tới những vấn đề sôi nổi như quyền lợi của nhân vị con người, sự điều ḥa sinh sản, sự chênh lệch trầm trọng về văn hóa và kinh tế trong thế giới v.v... Bản văn của lược đồ bị bác bỏ; và Công Đồng thành lập một hội đồng với mục đích soạn thảo lại lược đồ, để đem ra bàn căi trong kỳ họp tới và cũng là kỳ họp sau cùng của Công Đồng.

Trong lúc lược đồ XIII c̣n dang dỡ, vào ngày 6-11-1964 chính Đức Giáo Hoàng đă đến Đại Hội Đường và bằng những lời khen ngợi, Ngài giới thiệu lược đồ về Truyền Giáo. Nhưng sau nhiều cuộc tranh luận, các Nghị Phụ đă thẳng tay bác bỏ lược đồ khái quát gồm 14 mệnh đề đó, bởi quá cô đọng và giản lược đối với tầm mức lớn lao của công việc truyền giáo. Sự kiện này đă cho chúng ta hai bài học đáng nhớ: sự tự do của Thánh Công Đồng đối với Đức Giáo Hoàng, và mối quan tâm đối với công việc truyền giáo.

Trong những ngày sau hết của kỳ họp, các Nghị Phụ đă bắt tay làm việc gấp rút về những lược đồ ngắn. Từ ngày 10 đến 11 tháng 11, lược đồ về Ḍng Tu được bàn luận và được chấp thuận với 1,155 phiếu thuận và 882 phiếu chống; nhưng lại có tới 1,000 đề nghị tu chỉnh, và như vậy đ̣i hỏi phải duyệt xét lại lược đồ. Ngày 12, 14, 16 và 17 tháng 11, các Nghị Phụ bàn về lược đồ Chủng Viện, và dầu có những phê b́nh khắt khe, lược đồ vẫn được chấp thuận với 2,117 phiếu thuận và 41 phiếu chống. Ngày 17, 18 và 19 tháng 11, lược đồ về Giáo Dục Kitô Giáo được đưa ra và được chấp thuận dễ dàng. Trong phiên họp cuối cùng, các Nghị Phụ bàn tới bản văn ngắn nhất nói về các Bí Tích, hay đúng hơn về qui luật hôn phối. Nhưng v́ không đủ thời giờ, các Nghị Phụ gởi trả bản văn lại cho Đức Giáo Hoàng. Bởi vậy, không có sắc lệnh của Công Đồng về vấn đề này.

Trong buổi lễ kết thúc kỳ họp, ngày 21 tháng 11, Thánh Công Đồng đă công bố ba văn kiện: Hiến Chế về Giáo Hội, Sắc Lệnh về Hiệp Nhất và Sắc Lệnh về các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương. Dịp này, Đức Giáo Hoàng chính thức tuyên bố Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, và loan báo kỳ họp tới sẽ là kỳ họp kết thúc.

Nh́n lại thành tích của kỳ họp thứ ba này, người ta phải nh́n nhận có một bầu khí bi quan vây phủ, v́ những nguyên do đáng chú ư. Trước hết, bản chú thích sơ khởi được thêm vào Hiến Chế Giáo Hội dường như làm giảm giá trị của bản văn Công Đồng. Thứ đến, 19 đề nghị tu chỉnh của Đức Giáo Hoàng xen kẽ vào Sắc Lệnh về Hiệp Nhất tạo cho niềm hy vọng hiệp nhất bớt hứng khởi. Đàng khác, người ta cũng cảm thấy hơi bất b́nh v́ sự tŕ hoăn việc chung quyết lược đồ về Tự Do Tôn Giáo. Sau cùng, việc Đức Giáo Hoàng tuyên bố nhận Đức Maria làm Mẹ Giáo Hội không được tham khảo ư kiến của Thánh Công Đồng và có nguy hiểm gây đụng chạm anh em Tin Lành.

Tuy nhiên, về phương diện tích cực, kỳ họp này cũng đă đem lại những thành quả mỹ măn: các văn kiện giá trị được công bố, những lược đồ c̣n lại được cải tiến khả quan sẵn sàng chuẩn bị cho kỳ họp tới; v́ thế, bầu không khí bi quan cảm thấy lúc đầu tan biến dần dần với thời gian.

7. Kỳ họp thứ tư (từ 14-9 đến 8-12-1965)

Trong bài diễn văn khai mạc kỳ họp, Đức Phaolô VI loan báo quyết định thành lập Thượng Hội Đồng Giám Mục. Quyết định này đă gây ngạc nhiên cho mọi người. Ngày hôm sau, trong phiên họp khoáng đại lần thứ 128, Tự Sắc "Apostolica Sollicitudo" được long trọng đọc trước Thánh Công Đồng, dưới sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng. Đây là một bước tiến đáng kể trên con đường canh tân Giáo Hội.

Sau đó, cuộc tranh luận bắt đầu với lược đồ về Tự Do Tôn Giáo. Lần này t́nh thế có vẻ lạc quan hơn. Tuy nhiên, lược đồ cũng phải qua nhiều khó khăn v́ các Nghị Phụ chống đối vẫn đưa ra những lư luận cũ. Kết cuộc, vào ngày 21 tháng 9 các Nghị Phụ thử bỏ phiếu lược đồ, và kết quả cho thấy 1,997 phiếu thuận, 224 phiếu chống, 1 phiếu bất hợp lệ.

Sau đó, các Nghị Phụ đề cập tiếp lược đồ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Trước kia, các Nghị Phụ đă chấp thuận cách tổng quát vấn đề này, nhưng các Ngài đ̣i hỏi phải thay đổi nhiều, và kết quả lần này cho thấy lược đồ đă đổi mới, nhất là về kết cấu và mạch văn (nguyên văn của lược đồ bằng Pháp ngữ và do Đức Cha Haubtmann viết). Lược đồ bây giờ được gọi tên là "Hiến Chế Mục Vụ", và đây là một tựa đề mới trong lịch sử các Công Đồng, mặc dầu có nhiều Nghị Phụ chỉ muốn gọi là "Sắc Lệnh". Và thực sự Hiến Chế đă bị một số Nghị Phụ tố cáo có tính cách lạc quan ngây thơ với thái độ im lặng trước những hậu quả của tội lỗi. Một số khác cho rằng Hiến Chế có tính cách quá Tây Phương, quá lư thuyết trong vấn đề vô thần, và quan niệm về "thế giới" không minh bạch. Một bản kiến nghị gồm 334 Nghị Phụ kư tên thỉnh nguyện thêm vào Hiến Chế một khoản lên án rơ ràng chủ thuyết cộng sản. Ngày 7 tháng 10, Công Đồng chấm dứt các tranh luận về vấn đề này, nhưng cho măi cuối kỳ họp, lược đồ mới được hoàn tất và chung quyết.

Ngày 7 tháng 10, Công Đồng bàn đến Sắc Lệnh về Truyền Giáo. Lược đồ được soạn thảo lại và chỉ c̣n 5 chương. Quan điểm thần học về sứ mệnh truyền giáo là công tŕnh của cha Y. Congar và J. Ratzinger, đặt nền tảng trên Giáo Hội học của Hiến Chế về Giáo Hội. Bản văn về cải tổ Thánh Bộ Truyền Bá Đ ức Tin (số 27; bản văn chung quyết là số 29) đă được ủy ban phụ trách thay đổi, và trở thành đối tượng cho những cuộc bàn căi sôi nổi ở nghị trường. Ngày 12 tháng 10, các Nghị Phụ bỏ phiếu thuận trên nguyên tắc bản văn ấy với 2,070 phiếu thuận và 15 phiếu chống.

Ngày 13 tháng 10, vấn đề Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục được đưa ra bàn luận, với bản tường tŕnh của Đức Cha Marty.

Trong suốt thời gian này, các Nghị Phụ lần lượt bỏ phiếu chung quyết các bản văn đă bàn căi và chấp thuận.

Ngày 6 tháng 10, Sắc Lệnh về Giám Mục được bỏ phiếu chấp thuận với 2,167 phiếu thuận và 14 phiếu chống. Ngày 11 tháng 10, Sắc Lệnh về đời sống Ḍng Tu được chấp thuận do 2,161 phiếu, có 13 phiếu chống. Ngày 13 tháng 10 các Nghị Phụ chấp thuận Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh Mục với 2,196 phiếu thuận, 15 phiếu chống và 1 phiếu bất hợp lệ. Ngày hôm sau tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo được bỏ phiếu thuận với 1,912 phiếu và 183 phiếu chống (Tuyên Ngôn này đă gặp sự chống đối gắt gao của nhiều Nghị Phụ Châu Mỹ La Tinh và Indonesia). Cùng ngày, Đức Hồng Y Bea đọc bản tường tŕnh lược đồ về Các Tôn Giáo ngoài Kitô giáo, và cuộc bỏ phiếu ngay sau đó với kết quả 1,763 phiếu thuận, 250 phiếu chống, 10 phiếu bất hợp lệ.

Ngày 28 tháng 10, khóa VII được khai mạc. Dịp này, Đức Giáo Hoàng đă cử hành Thánh Lễ đồng tế cùng với 24 Nghị Phụ (trong số này có Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh) và nhân danh "Thiên Chúa Ba Ngôi rất thánh và cả vị là Cha, Con và Thánh Thần", Ngài chính thức công bố 5 văn kiện đă được chấp thuận.

Đức Cha De Smedt một lần nữa giới thiệu Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo; cuộc bỏ phiếu diễn ra trong ṿng 2 ngày và cuối cùng bản văn được chấp thuận nhưng với 1,640 đề nghị tu chỉnh. Ngày 29 tháng 10, các Nghị Phụ bỏ phiếu, và 27 phiếu chống. Từ ngày 9 đến 10 tháng 11, các Nghị Phụ lại bỏ phiếu cho Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân. Công Đồng có bàn căi một "quan điểm" về các ân xá, và có nhiều ư kiến gay gắt chống lại quan điểm chính thức của Giáo Hội. Nhưng xem ra giới thẩm quyền đă ngăn cản cuộc tranh luận. Cuối cùng Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân được chấp thuận với đa số phiếu tuyệt đối: 2,201 phiếu thuận với 2 phiếu chống.

Từ ngày 10 đến 12 tháng 11, Sắc Lệnh về Truyền Giáo được bỏ phiếu chấp thuận với đa số tuyệt đối, ngoại trừ vấn đề cải tổ Thánh bộ truyền bá Đức Tin (số 29) có tới 712 đề nghị tu chỉnh. Kế đó, các Nghị Phụ lại bỏ phiếu chấp thuận Sắc Lệnh về Chức Vụ và Đời Sống các Linh Mục (bỏ phiếu 15 lần). Như vậy, đến lúc này, Công Đồng đă thu lượm được kết quả của công việc lâu dài. Ngày 15 tháng 11, các Nghị Phụ lại được nghe đọc 2 bản tường tŕnh về Hiến Chế Giáo Hội trong thế giới ngày nay, do Đức Cha Garrone và Đức Cha Mc. Grath viết; sau đó các Nghị Phụ bỏ phiếu chấp nhận. Trong khóa VIII ngày 18 tháng 11, Đức Giáo Hoàng công bố 2 văn kiện mới: Hiến chế về Mạc Khải và Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân.

Vào thời gian cuối Công Đồng, công việc được giới hạn trong vấn đề xem xét lại các đề nghị tu chỉnh của 4 văn kiện c̣n lại. Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo vẫn c̣n gặp nhiều khó khăn. Nhóm Coetus internationalis patrum (các Nghị Phụ bảo thủ) đă cho đó là một trong những "thành phần gây bế tắc cho công tŕnh chung", và ngày 18 tháng 11 đă cho in một truyền đơn nhằm chống lại tuyên ngôn đó, đồng thời họ cũng đệ đơn lên Đức Giáo Hoàng để phản đối. Kế đến, hai bản văn về Truyền Giáo và về Linh Mục được đưa ra xem xét; cả hai được chấp thuận dễ dàng hơn (trừ số 29 của Sắc Lệnh Truyền Giáo vẫn c̣n khúc mắc).

Bản văn sau cùng được bỏ phiếu quyết định Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Ủy Ban liên hệ đă phải làm việc tối đa để sửa đổi Hiến Chế v́ có đến 2,247 đề nghị tu chỉnh.

Tuy thế, sau những cố gắng tu chỉnh, tất cả những văn kiện kể trên đều đă sẵn sàng để được bỏ phiếu quyết định, và để được công bố, trong khóa IX, vào ngày 7 tháng 12.

Những ngày sau hết của Công Đồng được đánh dấu bằng những sự kiện mang ư nghĩa hiệp nhất đáng nhớ. Ngày 4 tháng 12, Đức Cha Felici, Tổng thư kư Công Đồng, đọc một sứ điệp ca ngợi và tin tưởng của tất cả các quan sát viên gởi đến các Nghị Phụ, trong đó họ đặc biệt thán phục tinh thần hiệp nhất của các Ngài. Trong khi ấy, tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô, cùng với các quan sát viên ngoài Công Giáo, Đức Giáo Hoàng đă dự một lễ nghi cầu cho hiệp nhất. Tinh thần hiệp nhất đạt tới mức độ tuyệt vời khi Đức Phaolô VI ở Roma và Đức Thượng Phụ Athenagoras ở Istambul, vào ngày 7 tháng 12, đă cùng một lúc xóa bỏ án tuyệt thông lẫn nhau, một nguyên do phát sinh sự ly khai vào năm 1054. Chính sự kiện này cũng đă là thành quả tốt đẹp và giá trị nhất của Công Đồng!

C. Một vài đặc điểm tiêu biểu của Công Đồng Vaticanô II

Với mục đích giúp thấu triệt hơn Công Đồng quan trọng này, chúng ta nêu ra đây một vài đặc điểm tiêu biểu:

1. Công Giáo tính

Chưa có một Công Đồng nào đă tạo được tính cách "Công Giáo" đầy đủ như Vaticanô II. Hăy tạm miễn bàn vấn đề "giáo lư về công giáo tính" mà chỉ đề cập đến các sự kiện. Chưa có một Công Đồng nào đă đề cập tới nhiều vấn đề phức tạp và phong phú cùng với những tầm mức rộng răi như vậy. Chỉ cần nh́n vào những con số biểu trưng, chúng ta cũng có đủ lư do để xác nhận sự kiện này.

Trước hết chúng ta nói đến thành phần các Nghị Phụ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử mà chúng ta có quyền quả quyết rằng toàn thế giới có mặt ở Công Đồng. Con số các Nghị Phụ được triệu tập là 3,058, trong đó có 129 Bề Trên Tổng Quyền các ḍng. Trong kỳ họp đầu tiên, có 2,449 Nghị Phụ tham dự trong số 2,904 vị được triệu tập, như vậy tỉ số tham dự là 84.34%. Ở kỳ họp thứ hai, có 2,488 Nghị Phụ đến tham dự, trong số 3,022 vị được triệu tập, tức 82.34% tham dự. Và trong số 3,074 vị được mời cho kỳ họp thứ ba, có mặt 2,466 Nghị Phụ, nghĩa là 80.23% tham dự. Cuối cùng ở kỳ họp thứ bốn, trong số 3,093 vị được triệu tập, có 2,625 Nghị Phụ đến Công Đồng, và như thế tỉ số tham dự lên tới 84.88%. Như vậy chúng ta có thể kết luận rằng đại đa số thành phần Giám Mục Đoàn đă tham dự Công Đồng.

Nếu xét qua nguồn gốc địa dư, chúng ta thấy rằng các Nghị Phụ từ khắp năm châu trên toàn thế giới đều tựu về: 1,060 vị ở Âu Châu, 408 Nghị Phụ ở Á Châu, 351 ở Phi Châu, 416 ở Bắc Mỹ, 89 ở Trung Mỹ, 531 ở Nam Mỹ, và 74 vị ở Đại Dương Châu.

Trong các phiên họp, có tất cả 695 Nghị Phụ lên tiếng tại nghị trường. Tổng cộng tất cả, các ngài đă nói tới 2,234 lần; trong đó các Nghị Phụ Pháp 231 lần, các Nghị Phụ Đức 141 lần, các Nghị Phụ Ba Lan 75 lần v.v..., các Nghị Phụ Việt Nam lên tiếng 16 lần. Nghị Phụ được xem là hùng biện nhất là Hồng Y Ruffini, ngài lên tiếng 36 lần.

Trong thời gian họp Công Đồng có 253 Nghị Phụ qua đời, và cùng lúc có 296 người được tấn phong Giám Mục.

Ngoài sự tham dự của các Nghị Phụ, chúng ta c̣n phải kể đến sự có mặt của những phần tử khác của Dân Chúa. Trước hết phải nói đến các nhà chuyên môn, v́ họ đă tích cực góp phần cho công việc có kết quả. Được đề cử từ giai đoạn chuẩn bị Công Đồng, các nhà chuyên môn này đă tham gia vào công việc của các Ủy Ban, trong việc soạn thảo các lược đồ, thăm ḍ ư kiến của các Giám Mục v.v... Con số các nhà chuyên môn lên tới 460 vị, gồm 235 linh mục giáo phận, 45 tu sĩ Ḍng Tên, 42 tu sĩ Đa Minh, 15 tu sĩ Phanxicô, 12 đan sĩ Ḍng Đức Mẹ Vô Nhiễm, 6 tu sĩ Biển Đức, 5 tu sĩ Ḍng Don Boscô, với nhiều thành phần Tu Hội và giáo dân.

Công Đồng cũng kêu mời nhiều Cha Sở, với tư cách là cộng tác viên thân cận của các Giám Mục. Thực sự họ chỉ được mời gọi sau các dự thính viên giáo dân. Trong kỳ họp thứ ba, có tất cả 39 vị, chia ra: Hoa Kỳ và Ư mỗi nước 5 vị; Tây Ban Nha, Pháp, Canađa, Đức, mỗi nước 4 vị; Argentina, Úc, Brazil, Liban, mỗi nước 2 vị; Bỉ, Nhật, Mexicô, Ḥa Lan, Palestina, mỗi nước 1 vị. Ở kỳ họp thứ bốn con số các cộng tác viên này lên tới 45 vị. Và ngày 27 tháng 10 năm 1965, cha sở Thomas Fall, thuộc giáo phận Philadelphia Hoa Kỳ, lên tiếng trước nghị trường.

Các giáo dân được mời tham dự với tư cách là những dự thính viên. trong thời gian chuẩn bị cho kỳ họp thứ hai, Đức Giáo Hoàng đă đề cử một nhóm gồm 13 giáo dân cả nam lẫn nữ giới, được chọn lựa trong các tổ chức tông đồ quốc tế Công Giáo. Ở kỳ họp cuối cùng, số dự thính viên này lên tới 42. Ngoài ra, c̣n có sự tham dự của 10 nữ tu dự thính. sau cùng, để đại diện cho gia đ́nh Kitô giáo hai vợ chồng Mexicô, J. Alvarez Icaza, được mời tham dự. Tất cả các dự thính viên giáo dân này đă lên tiếng 6 lần ở Công Đồng, và đă góp ư kiến về nhiều vấn đề cho các Ủy Ban.

2. Tinh thần hiệp nhất

Một trong những ư tưởng chính yếu của Đức Gioan XXIII khi ngài triệu tập Công Đồng Vaticanô II là nỗ lực nối lại ṿng dây thân ái giữa các Kitô hữu. Chúng ta nhận thấy Công Đồng đă đạt được mục đích này, qua những văn kiện giáo lư và các cuộc gặp gỡ thân thiện từ bầu khí Công Đồng.

Thật vậy, Sắc Lệnh về Hiệp Nhất, Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo và Tuyên Ngôn về các Tôn Giáo ngoài Kitô giáo đều nhấn mạnh đến tinh thần hiệp nhất. Quan niệm mới mẻ này cũng xuất hiện ở Hiến Chế tín lư về Giáo Hội, nhất là ở Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, khi Công Đồng đề cập tới thái độ phải có của Giáo Hội đối với thế giới.

T́m hiểu qua những ư kiến của các Nghị Phụ phát biểu ở nghị trường, chúng ta cũng thấy các ngài ư thức rơ rệt tinh thần này.

Sau hết, một sáng kiến đă tạo được thành quả tốt đẹp cho mối dây hiệp nhất, đó là việc mời các quan sát viên ngoài Công Giáo. Sáng kiến này do Đức Hồng Y Ben khởi xướng và chính Ngài đă cố gắng can thiệp với Ủy Ban Trung Ương Chuẩn Bị Công Đồng. Sau đó ít lâu, Hội Đồng Thế Giới các Giáo Hội (CME) đă mời 5 quan sát viên Công Giáo đến tham dự Đại Hội Quốc Tế ở Tân Đề Ly, với sự chấp thuận của Giáo Triều Roma, mặc dầu gặp nhiều khó khăn. Dựa vào đó, Văn Pḥng Hiệp Nhất gởi lời mời các quan sát viên ngoài Công Giáo đến tham dự Công Đồng. Ban đầu, một số giáo hội từ chối; nhưng cuối cùng sau thời gian đắn đo, họ đă gởi các đại diện đến Công Đồng. Như vậy, trong kỳ họp đầu tiên, con số quan sát viên ngoài Công Giáo được gởi tới là 46 người, cộng với 8 quan sát viên do Văn Pḥng mời: họ đại diện cho 17 Giáo Hội và Cộng Đồng Kitô Giáo. Ở kỳ họp thứ hai, có 59 quan sát viên đại diện và 9 vị do Văn Pḥng mời. Trong kỳ họp thứ ba, có 70 quan sát viên đại diện và 13 do Văn Pḥng mời. Ở kỳ họp cuối cùng, con số quan sát viên ngoài Công Giáo lên tới 90, cộng với 16 người do Văn Pḥng mời; và họ đại diện cho 29 Giáo Hội và Cộng Đồng Kitô Giáo.

D. Một vài con số tiêu biểu trong công việc của Công Đồng

Để ư thức được công tŕnh vĩ đại của Công Đồng, chúng ta lược nh́n qua vài con số tiêu biểu nhất.

Trước hết, chúng ta nói đến các cuộc bỏ phiếu. Có tất cả 538 cuộc bỏ phiếu toàn phần hay từng phần: 33 lần được tổ chức ở kỳ họp đầu tiên, 94 lần ở kỳ họp thứ hai, 150 lần ở kỳ họp thứ ba và 261 lần ở kỳ họp cuối cùng.

Ủy Ban ấn loát của Ṭa Thánh phải làm việc ngày đêm. Ở giai đoạn tiền chuẩn bị, họ đă phát hành 19 quyển sách và mỗi quyển gồm 2,000 bản. Tổng cộng các lần phát hành các lược đồ, câu hỏi thăm ḍ, các bản tường tŕnh, các đề nghị tu chỉnh v.v... mỗi thứ 3,000 bản, lên tới 40 triệu trang. Ngoài ra có khoảng 16 triệu trang khác được in cho các Nghị Phụ sử dụng. Tổng cộng: 150 tấn giấy in. Đài phát thanh Vaticanô cũng đă làm việc ngày đêm liên miên để thâu băng các phiên họp của Công Đồng; và để hoàn tất, các chuyên viên đài đă tiêu thụ tới 712 cuốn băng, dài 284,000 mét.

Như vậy, các con số ghi được khả dĩ cho chúng ta thấy tầm mức khổng lồ của các công việc ở Công Đồng.

E. Những ư hướng chính yếu của Vaticanô II

Bất cứ Công Đồng nào cũng đều xoay quanh một trục ư thức hệ: hoặc lên án một lạc giáo, hoặc định tín một tín điều. Chẳng hạn ở Công Đồng Calcedonia, trục ư thức hệ là Kitô học, và ở Vaticanô I là vấn đề tối thượng quyền của Đức Giáo Hoàng. Vậy với Vaticanô II, đâu là trục ư thức hệ? Để có thể có câu trả lời chính xác, dĩ nhiên chúng ta phải chờ đợi lịch sử trong tương lai phê phán. Thế nhưng, hiện tại với những viễn ảnh trông thấy của giai đoạn hậu Công Đồng, chúng ta cố gắng đưa lên vài điểm chính yếu và chắc chắn làm nền tảng cho Công Đồng.

1. Vaticanô II: một Công Đồng của Giáo Hội nói về Giáo Hội

Giáo Hội là trung tâm điểm cho mọi giáo lư của Vaticanô II. Thật vậy, đây là lần đầu tiên trong lịch sử một Công Đồng bận tâm về đề mục này: Giáo Hội đi t́m định nghĩa cho chính ḿnh.

Dĩ nhiên, như chúng ta đă biết, Đức Gioan XXIII tha thiết lưu tâm tới vấn đề hiệp nhất các Kitô hữu. Nhưng đồng thời ngài cũng biết rằng Công Đồng này chưa có thể là một Công Đồng tái tạo sự hiệp nhất theo đúng nghĩa; v́ trên bước đường hiệp nhất, Giáo Hội sẽ gặp không biết bao nhiêu chướng ngại vật và vượt qua được những chướng ngại vật ấy là một điều không thể thực hiện được một sớm một chiều.

Bởi thế, ngài đă quan niệm rằng trước hết phải đổi mới bộ mặt của Giáo Hội, làm tươi trẻ lại các cơ cấu và đem lại nhựa sống cho thân thể xem ra đă già nua của Giáo Hội, sao cho hợp với nhựa sống luôn mới mẻ của Phúc Âm. Lúc đó, theo Đức Thánh Cha, chúng ta mới có quyền nói với các anh em ly khai rằng: "Đây, Giáo Hội thật của Chúa Kitô, xin anh em hăy nh́n vào, hăy chiêm ngưỡng, v́ đó cũng chính là Giáo Hội của anh em. Vậy chúng ta hăy hiệp nhất với nhau".

Bởi vậy, Thánh Công Đồng đă lưu tâm đặc biệt tới Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội, không những v́ tầm quan trọng của nó, nhưng Hiến Chế này c̣n là ánh sáng chiếu soi cho các văn kiện khác. Các văn kiện được công bố không theo lược đồ có sẵn của Ủy Ban soạn thảo, nhưng được kết tạo bằng những đề nghị của các Nghị Phụ mà đời sống nội tâm của Thánh Công Đồng đă thôi thúc các Ngài chọn lựa và xếp đặt cho thích hợp theo suy tư của các ngài về Giáo Hội.

Giáo Hội do đó được định nghĩa dựa theo các h́nh ảnh khác nhau của Thánh Kinh. Giáo Hội trước tiên là Dân Thiên Chúa, định nghĩa này bao hàm các khía cạnh xă hội và lịch sử của Giáo Hội. Giáo Hội là Thân Thể Chúa Kitô, v́ Giáo Hội muốn làm nổi bật khía cạnh Kitô học, và huyền nhiệm của ḿnh. Giáo Hội là Nước Thiên Chúa để diễn tả tính cách cánh chung và nhiều h́nh ảnh khác được ám chỉ Giáo Hội như đoàn chiên của Chúa Kitô, cánh đồng, công tŕnh kiến trúc, gia đ́nh của Thiên Chúa, đền thờ của Chúa Thánh Thần. Sau hết, Giáo Hội được quan niệm như Hiền Thê của Chúa Kitô, để cho thấy sự khác nhau cũng như sự thân mật của Giáo Hội với vị Hôn Phu là Chúa Giêsu.

Chúng ta có thể nói tất cả những văn kiện của Vaticanô II xoay quanh vấn đề Giáo Hội. Hiến Chế về Giáo Hội là một văn kiện Công Đồng c̣n lại, cách trực tiếp hay gián tiếp, đề cập tới đời sống của Giáo Hội. Thật vậy, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh nhằm diễn tả nhiệm vụ thánh hóa của Giáo Hội; các Sắc Lệnh về Nhiệm Vụ Giám Mục và các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương có mục đích minh định chức vụ điều khiển của Giáo Hội và Hiến Chế về Mạc Khải cũng như Tuyên Ngôn về Giáo Dục đều muốn giải thích quyền Giáo Huấn của Giáo Hội. Lại nữa, để phác họa các chức bậc cũng như cách sống khác nhau trong Giáo Hội, Công Đồng đă ban hành nhiều văn kiện khác: hai Sắc Lệnh về đời sống và đào tạo Linh Mục đề cập đến các Linh Mục; các ḍng tu có Sắc Lệnh về Ḍng Tu và giáo dân có Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân. Cuối cùng, một số văn kiện khác đề cập tới sứ mệnh của Giáo Hội. Sắc Lệnh về Hiệp Nhất nhằm diễn tả mối liên lạc với các người ngoài Kitô giáo. Sau hết, với toàn thể thế giới nói chung, Công Đồng ban hành Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay và Tuyên Ngôn về các phương tiện truyền thông xă hội.

Như thế, chúng ta không do dự khi nói rằng Giáo Hội là trung tâm điểm của Vaticanô II.

2. Vaticanô II: Công Đồng của tự do và đối thoại

Nói lên điều này, chúng ta không muốn ám chỉ rằng những Công Đồng khác thiếu tự do hoặc thiếu tinh thần đối thoại; v́ thực ra Công Đồng nào tự nó cũng đă là một cuộc đối thoại rồi. Điều mà chúng ta muốn nhấn mạnh ở đây là Vaticanô II được coi là Công Đồng đầu tiên đă biết sử dụng sự tự do như một đề mục để dạy dỗ và lấy tinh thần đối thoại với người ngoài làm chương tŕnh. Ở đây chúng ta cũng phải nhấn mạnh rằng sự tự do sung măn này không phải là không có nền tảng Thánh Truyền; không một Nghị Phụ nào nghi ngờ các tín lư cổ truyền của Giáo Hội.

Nhiều nhà thần học chủ trương rằng sự bàn căi lại một vài "chân lư", một số quan niệm và một số thái độ được coi là cổ truyền của Giáo Hội là một vấn đề không thể chấp nhận được nên khi soạn thảo các lược đồ, họ đă mặc nhiên đem tất cả vào bản văn v́ coi như những điều chắc chắn. Thế nhưng các Nghị Phụ đă tự do bác bỏ chủ trương đó, v́ đối với các ngài, một số các điều ấy vẫn phải được đem ra mổ xẻ lại. Hơn thế nữa, các Nghị Phụ cũng đă nhiều lần bác bỏ các đề nghị sửa đổi của chính Đức Giáo Hoàng và ngay cả một lược đồ mà Đức Giáo Hoàng khuyến khích chấp thuận.

Trong cuộc tranh luận về tự do tôn giáo, lần đầu tiên Thánh Công Đồng đă minh chứng cho thế giới thấy rằng Giáo Hội không úp mở cũng như không e ngại khi phải đề cập tới tự do, bởi chính nhân phẩm của con người đ̣i hỏi điều đó. Giáo Hội cố gắng thoát ra khỏi "pháo đài" của ḿnh, khỏi "chủ trương khép kín huy hoàng" của ḿnh, để đối thoại và thông cảm với anh em Kitô hữu, với các tôn giáo khác và ngay với anh em vô thần. Giáo Hội nh́n nhận và kính trọng những giá trị, những nền văn hóa khác nhau cũng như các hệ thống chính trị khác nhau của thế giới.

Vaticanô II là Công Đồng đầu tiên không có đề mục nào lên án tuyệt thông. Đây là nét độc đáo của Công Đồng này trong lịch sử Giáo Hội.

3. Vaticanô II: Công Đồng Mục Vụ

Đức Gioan XXIII mong mỏi Công Đồng này sẽ là Công Đồng "mục vụ". Ngài không muốn Công Đồng dề cập tới vấn đề lên án tuyệt thông cũng như không bận tâm đến các tín điều. Thực tế, dầu Công Đồng có hai Hiến Chế Tín Lư (Hiến Chế về Giáo Hội và về Mạc Khải), đó cũng chỉ là những điều được xác định lại, chứ không có một tín điều nào mới.

Dĩ nhiên, nếu cần, Thánh Công Đồng phải nhắc lại những chân lư tín lư và phải bác bỏ các sai lầm trong các văn kiện. Nhưng hướng đi của Công Đồng nhằm ở Mục Vụ. Thay v́ đưa ra các qui tắc từ những suy luận tiên thiên nơi các "nguyên lư vĩnh cửu", Thánh Công Đồng đă đi t́m những tiêu chuẩn hướng dẫn thuộc loại đoàn sủng mới nơi những trạng huống thực tại.

Trong tinh thần đó và để dung ḥa các khía cạnh trái ngược nhau của các vấn đề, thay v́ dùng công thức "hoặc là... hoặc là...", Thánh Công Đồng chọn công thức "cả... cả...". Như vậy Công Đồng có thể giảm bớt t́nh trạng chú trọng đến khía cạnh này mà lăng quên những khía cạnh kia, như Giáo Hội đă gặp phải trong quá khứ. Trong mức độ đứng đắn, Công Đồng đă t́m dung ḥa cả tối thượng quyền Giáo Hoàng cả cộng đoàn tính của các Giám Mục. Công Đồng đă đặt đúng chỗ cả hàng giáo phẩm cả hàng giáo dân, đă giữ quân b́nh giữa cả Giáo Hội phổ quát cả Giáo Hội địa phương, giữa cả các giá trị tu tŕ cả các giá trị phàm trần...

Sau hết tinh thần mục vụ thể hiện rơ rệt nhất trong chiều hướng chung của Thánh Công Đồng khi chủ trương không chống lại một phần tử nào nhưng nhằm lợi ích cho mọi người, khi Giáo Hội tŕnh bày tất cả sứ mệnh của ḿnh dưới ánh sáng tinh thần phục vụ, Giáo Hội nhận ḿnh như nữ t́, như kẻ được sai đến đem ơn cứu độ cho nhân loại.

4. Vaticanô II: nguồn sáng mới

Công Đồng không mang lại một tín điều nào mới. Thế nhưng, trong những văn kiện đă công bố, Công Đồng tạo được một đặc điểm độc đáo khi nỗ lực xác định rơ một số khía cạnh của kho tàng chân lư. Ở đây chúng ta chỉ nêu lên một vài nét điển h́nh cho đặc điểm này.

Trước hết Công Đồng đă tŕnh bày một nền thần học về Chúa Thánh Thần, mà từ lâu hầu như bị lăng quên trong Giáo Hội Tây Phương. Việc này được xem là công lao của các Nghị Phụ Đông Phương. Chẳng hạn ở các văn kiện về Giáo Hội (ví dụ các số 4, 19, 48) và về Truyền Giáo (ví dụ số 4), Công Đồng đă tŕnh bày rơ ràng quan điểm này. Thứ đến, trong thần học về Mạc Khải, Công Đồng lại đưa ra một quan niệm mới về chân lư của Thánh Kinh và về linh ứng (x. MK 11).

Nhưng phải nh́n vào quan điểm thần học về Giáo Hội, chúng ta mới thấy rơ những ánh sáng huy hoàng của Công Đồng. Sự trở về với cộng đoàn tính giám mục, quan niệm về Giáo Hội như bí tích cứu rỗi, như dân Thiên Chúa, hay thái độ mới đối với thế giới v.v... đều là những ánh sáng độc đáo. lại nữa, Công Đồng cũng đă giải chiếu ánh sáng mới cho tính cách bí tích của hàng GiámMục, cho chức phó tế. Sau cùng, với các bí tích khác. Công Đồng đă thực sự đem đến bộ mặt mới, sáng sủa. Công Đồng đă quan niệm bí tích Giải Tội là sự ḥa giải không những với Thiên Chúa mà c̣n với Giáo Hội. Bí Tích Hôn Phối được nhấn mạnh hơn ở khía cạnh t́nh yêu nhân loại và các mục đích chính yếu; Công Đồng cũng đưa ra qui chế mới cho các cuộc hôn nhân tạp giáo v.v... Trong bí tích Thánh Thể, Công Đồng đă khéo léo đổi mới các nghi thức Thánh Lễ. C̣n về quan điểm thần học chủ trương giáo lư mới về "chức linh mục phổ quát nơi mọi giáo dân", th́ chúng ta cần phải đợi thời gian mới thấy kết quả. Sau hết, tính cách cánh chung là một ánh sáng mới được đưa vào trong tất cả các lănh vực thần học, ví dụ khía cạnh cánh chung của Giáo Hội lữ hành (x. GH ch 7), của hoạt động truyền giáo (x. TG 9) của đời sống ḍng tu (x. GH 44) v.v...

 

III. Có Thể Có Vaticanô III Không?

 

Đặt câu hỏi trên, chúng ta không nghĩ rằng Công Đồng Vaticanô II đă lỗi thời. Nhưng ư kiến của chúng ta được nêu lên có mục đích t́m hiểu chỗ đứng hiện tại của Công Đồng này trong lịch sử Giáo Hội.

Ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, một Công Đồng phải được quan niệm như là một bổ túc cho Công Đồng trước và trở thành nhịp cầu để nối kết Công Đồng mới trong tương lai. Thế giới tiến bộ nhanh chóng và Giáo Hội cần thích ứng không ngừng theo ḍng lịch sử, nếu Giáo Hội không muốn lùi bước. Đàng khác, ngay từ Công Đồng Nicea, trong định thức số 5, Giáo Hội cũng đă đ̣i hỏi rằng các Giám Mục trong một giáo tỉnh phải họp nhau mỗi năm hai lần. Dĩ nhiên, nguyên tắc điều khiển giáo tỉnh theo thể chế Công Đồng nói ở đây phải ḥa hợp với tối thượng quyền của Giáo Hoàng trong những phạm vi thuộc toàn thể Giáo Hội: tuy nhiên tính cách cộng đoàn của Giám Mục được Vaticanô II cổ vơ nói lên phương thức làm việc theo thể chế Công Đồng từng thịnh hành trong nhiều thời đại trước.

Vào thế kỷ thứ XIX, v́ quan tâm t́m kiếm một bảo đảm vững chắc cho giáo lư của Giáo Hội, Công Đồng Vaticanô I lúc đó đă đi tới định tín quyền bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng. Do định tín ấy, người ta đă lầm tưởng rằng thời đại Công Đồng đă chấm dứt. Thế rồi, trong thời đại hiện tại của chúng ta, v́ nhu cầu của tính cách cộng đoàn Giám Mục đ̣i hỏi, Giáo Hội đă thiết lập các Thượng Hội Đồng Giám Mục rồi cũng v́ đó, nhiều người hiện nay nghĩ rằng không cần thiết phải triệu tập các Công Đồng Chung nữa. Họ đă lầm tưởng, một lầm tưởng sâu xa. Thực ra Công Đồng Vaticanô II đă khai mào những viễn ảnh mới, báo hiệu cho một Công Đồng trong tương lai để bổ túc, cũng như Vaticanô II đă làm nhiệm vụ bổ túc cho Công Đồng trước.

Nh́n vào thực tại, chúng ta thấy rằng nếu Vaticanô II đă cố gắng dung ḥa sự chia cách giữa Giáo Hoàng và Giám Mục th́ cũng cần phải có một Công Đồng trong những ngày sắp tới để t́m lại mức quân b́nh cho hàng Giám Mục với hàng linh mục mà thực tế đang cách biệt trầm trọng. Nói tổng quát hơn, cần đến một Công Đồng trong tương lai để t́m ra những dây liên lạc chân thực giữa giáo sĩ và giáo dân, nghĩa là có mục đích t́m hiểu và đề cập đến các vấn đề liên quan tới linh mục và giáo dân, cũng như Vaticanô II đă đặt vấn đề ấy với các Giám Mục.

Hơn nữa, ư hướng hiệp nhất của Vaticanô II chỉ mới ở những bước đầu. Công Đồng này đă rộng mở những cánh cửa mới để có lẽ với cố gắng của một Công Đồng trong tương lai, những ai c̣n ở ngoài Giáo Hội sẽ vào trong Giáo Hội. Sự hiện diện của "các quan sát viên" ở Công Đồng Vaticanô II tiên báo sự tham dự của toàn thế giới trong một Công Đồng mới hoàn toàn hiệp nhất, ở đó tính cách Công Giáo sẽ đạt tới sung măn. Rồi nếu các cộng đoàn anh em ly khai là những Giáo Hội chân thật, họ sẽ cần hiện diện thực sự với Giáo Hội chúng ta. Hơn thế nữa, bởi v́ các Giám Mục các Giám Mục Chính Thống cũng là những người kế vị thật của các Tông Đồ, không có lư do ǵ họ lại không có quyền đến họp vớ anh em thật của họ, với người kế vị Thánh Phêrô, trong một Công Đồng thật sự hiệp nhất mà chúng ta mong ước.

Chúng ta đặt trọn niềm hy vọng vào sự hướng dẫn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, để tất cả chúng ta đều tiến theo con đường tươi đẹp nhất, cho dầu nẻo đường đó có thể không phù hợp với những tính toán nhân loại và giới hạn của chúng ta.