|
Thượng Hội Đồng Giám Mục Phi châu kỳ 2 (5) |
||
|
VATICAN -. Hôm 12-10-2009, Thượng HĐGM Phi Châu kỳ 2 bắt đầu tuần lễ thứ 2
trong 3 tuần nhóm họp, với 2 phiên khoáng đại thứ 11 và 12, sáng và chiều,
trước sự hiện diện của ĐTC và hơn 220 nghị phụ. Mọi người đă lắng nghe các
bài phát biểu của 20 nghị phụ, sau đó ư kiến của nhiều dự thính viên nam
nữ.
Các vị đă đề cập đến vấn đề di dân nội địa, quan hệ với các tôn giáo truyền thống ở Phi châu. Hai GM người Nigeria kêu gọi Thượng HĐGM này đẩy mạnh việc giáo dục các tín hữu về sự hiện hữu c]ua ma quỷ, và loại bỏ các tṛ phù phép, phù thủy, và các h́nh thức mê tín khác. Một GM Congo tố giác các vụ bạo hành, hăm hiếp ồ ạt chống lại các phụ nữ ở Phi châu như một ”vơ khí chiến tranh”. ĐHY Napier, người Nam Phi, cảnh giác chống lại các chế độ độc tài, độc đảng, v.v. Sáng thứ ba hôm nay, 13-10, trong phiên họp khoáng đại thứ 13, các nghị phụ sẽ tiếp tục lắng nghe các ư kiến, đặc biệt là các bài phát biểu của đại biểu các Giáo Hội Kitô anh em, gồm Chính Thống, Anh giáo và Tin Lành. Sau đó, trong phiên họp ban chiều, ĐHY Turkson, người Ghana, Tổng tường tŕnh viên của Thượng HĐGM hiện nay sẽ đọc bản đúc kết các bài phát biểu trong 10 ngày trước đó, đồng thời xác định các vấn đề cần được đào sâu trong các phiên họp nhóm kể từ sáng thứ tư ngày mai, 14-10-2009. Sau đây chúng tôi xin gửi đến quí vị nội dung các bài phát biểu của một số nghị phụ trong những ngày qua: ĐHY Bernard Agré , nguyên TGM giáo phận Abidjan, Côte d'Ivoire, tố giác nhiều tổ chức tài chánh quốc tế đưa các quốc gia trẻ tại Phi châu vào ṿng nợ nần. Ngài nói: ”Cũng như tất cả các nước đă có tổ chức, các quốc gia trẻ tại Phi châu đă phải t́m đến các ngân hàng quốc tế và các tổ chức tài chánh khác để thực hiện nhiều dự án nhắm phát triển đất nước. Rất nhiều khi các giới lănh đạo ít được chuẩn bị của các nước này không để ư nên đă rơi vào tṛng của những người có thể được gọi là 'những kẻ sát nhân tài chánh', những kẻ bóc lột do các tổ chức đầy kinh nghiệm gửi tới, và đề nghị những hợp đồng thiếu lương thiện, nhắm làm giầu cho các tổ chức tài chánh quốc tế, vốn được sự nâng đỡ khéo léo của các quốc gia hoặc các tổ chức khác, can dự vào âm mưu im lặng và gian dối. Những kẻ sát nhân tài chánh thu được những lợi lộc kếch xù. Cũng vậy đối với các công ty liên quốc và một số nhân vật hùng mạnh của chính quốc gia đó, họ làm b́nh phong cho các công việc kinh doanh với nước ngoài như vậy. Thế là phần lớn các nước Phi châu tiếp tục ṃn mỏi trong nghèo đói và trong sự thất vọng mà hệ thống bất chính ấy gây ra. ”Những kẻ sát nhân tài chánh ấy” mang những số tiền to lớn cho vay mượn, thỏa thuận với những nhà lănh đạo địa phương, làm sao để với hệ thống lăi xuất, các nước nghèo ấy không bao giờ có thể hoàn toàn hoàn trả số tiền vay mượn trong thời gian ngắn. Các khế ước thi hành và bảo tŕ thường được dành cho các đại diện của chủ nợ, dưới h́nh thức độc quyền. Các nước vay mượn tiền phải cho các nước chủ nợ độc quyền khai khác các nguồn tài nguyên của ḿnh. Và thế là dân chúng tại các nước đó, qua bao thế hệ, bị ràng buộc, trở thành tù nhân cho hệ thống bóc lột như vậy trong nhiều năm trời. Để trả những món nợ không bao giờ cạn ấy, giống như chiếc gươm của Democles trên đầu ḿnh, các quốc gia con nợ phải dành từ 40 đến 50% tổng sản lượng quốc gia. ”Bị ḱm kẹp như thế, quốc gia con nợ thật là khó thở, phải thắt lưng buộc bụng trước vấn đề đầu tư, và những chi tiêu cần thiết cho việc giáo dục, y tế, phát triển nói chung. “T́nh trạng nợ nần ấy nhiều khi trở thành một cái b́nh phong chính trị để không thỏa măn những đ̣i hỏi chính đáng, từ đó nảy sinh t́nh trạng bất măn nơi dân chúng, và những xáo trộn xă hội, v.v. Ông John Perkins (Ed. Al Terre) đă mô tả rất rơ hậu trường của viện trợ quốc tế vốn không bao giờ hữu hiệu trong việc trợ giúp phát triển lâu dài. ĐHY Agré nói thêm rằng: ”Vấn đề chủ yếu ngày nay là ước muốn, là ư chí băi bỏ mọi h́nh thức nô lệ. Các thế hệ mới, những người trẻ tại một vài nước đă phát triển và tại thế giới thứ ba, đang ư thức rằng thay đổi thế giới, thay đổi những huyền thoại và những ảo tưởng của thế giới là một dự phóng thực tế và có thể thực hiện được. Từ đó đă nảy sinh các tổ chức Phi chính phủ để bảo vệ môi sinh và bênh vực quyền lợi của các dân tộc bị áp bức. Giáo Hội, trong tư cách là ánh sáng thế gian, có thể thi hành vai tṛ ngôn sứ của ḿnh, phải dấn thân cụ thể trong cuộc chiến đấu này để làm cho sự thật trổi vượt lên. Từ nhiều năm nay, các chuyên gia biết rằng phần lớn các món nợ đă được trả lại rồi. Xóa bỏ hoàn toàn các món nợ ấy không phải là một hành vi bác ái, nhưng là điều thuộc về đức công bằng. V́ thế, Thượng HĐGM này cần cứu xét vấn đề nợ nần đang ảnh hưởng nặng nề tới một số dân tộc. Để không chỉ dừng lại ở khía cạnh t́nh cảm, tôi đề nghị lập một Ủy ban quốc tế gồm các chuyên gia tài chánh, các mục tử am tường vấn đề, những người thuộc các nước giàu và nước nghèo, để cứu xét vấn đề. Ủy ban này được ủy thác 3 sứ mạng: - nghiên cứu xem hoạt động có thể hủy bỏ nợ nần hay không, v́ hiển nhiên là hoàn cảnh khác nhau mỗi nơi. - đề ra các biện pháp pḥng ngừa để tránh rơi vào cùng một t́nh trạng nợ nần. - canh chừng một cách cụ thể việc sử dụng minh bạch những số tiền tiết kiệm được, để thực sự mưu ích cho tất cả những yếu tố trong các tầng lớp xă hội: các nông dân và dân chúng tại thành thị. - Tránh làm sao để những người, những nơi và những người ngoại quốc được lợi lộc từ những nguồn dồi dào như vậy vẫn là những người cũ như từ trước đến nay. Đức Cha Ignatius Chama , GM giáo phận Mpika bên Zambia, trong bài phát biểu cũng tố giác những bất công trong nền kinh tế và nông nghiệp mà nhiều miền quê ở Phi châu, trong đó có giáo phận của ngài phải chịu. Đức Cha nói: ”Tôi muốn nhấn mạnh nơi đây cuộc khủng hoảng kinh tế địa phương mà tôi và dân tộc chúng tôi đang trải qua trong giáo phận miền quê ở miền đông bắc Zambia. Đó là cuộc khủng hoảng về nông phẩm thu hoạch của các nông dân. Họ làm việc không biết mệt mỏi, nhưng nông phẩm của họ không đi vào thị trường được hoặc không được trả giá đúng mức. Nguyên do cuộc khủng hoảng là v́ những nhà đầu tư nước ngoài cung cấp cho các siêu thị của họ những nông sản nhập khẩu từ nước ngoài. Cuộc khủng hoảng này là do những đường lối thương mại, nội địa hoặc quốc tế, với những hàng hóa được tài trợ, nhập khẩu từ Âu châu, bán với giá rẻ khiến cho các nông sản địa phương không cạnh tranh nổi. Đây là một sự cạnh tranh bất chính. Ngoài ra, tại Zambia ngày nay, các miền quê của chúng tôi c̣n phải đương đầu với chiến dịch đón nhận một kiểu mẫu nông nghiệp biến thái hệ di truyền. Đây là điều đă bị tài liệu làm việc của Thượng HĐGM này phê b́nh trong số 58. Những động thái bất chính ấy là dấu hiệu cho thấy có hố chia cách ngày càng sâu rộng giữa thành thị và thôn quê, đe dọa sự phát triển toàn diện và lâu dài của Zambia ngày nay. Cả chính phủ Zambia cũng nói với chúng tôi rằng sự nghèo đói tại thành thị giảm bớt trong những năm gần đây, nhưng nạn nghèo đói tại miền quê th́ lại gia tăng đáng kể. Đức Cha Chama đặt câu hỏi: ”Nhưng Thượng HĐGM này có thể làm được ǵ đứng trước t́nh trạng như vậy? Tôi chỉ muốn nhắc nhở anh em GM của tôi rằng chính Thượng HĐGM năm 1994 đă đón nhận một yêu cầu tương tự về sự công bằng kinh tế qua lời mời gọi hăy ủng hộ chiến dịch trong Năm Thánh kêu gọi xóa nợ, và lời kêu gọi ấy đă trở thành tại Zambia bước tiến quan trọng hướng đến sự nhân bản hóa lănh vực kinh tế tại Zambia và các nơi khác. Ngày nay chúng ta cũng cần một lời kêu gọi tương tự về công bằng, chẳng hạn trong việc đương đầu với chính sách thương mại như Hiệp định đối tác kinh tế giữa Phi châu và Âu Châu, cũng như những quan tâm về môi sinh như sự hâm nóng trái đất. ”V́ thế, tôi xin Thượng HĐGM này ủng hộ những lời thỉnh cầu thực hiện một nền kinh tế công bằng hơn, bảo vệ các quyền lợi và tương lai dân chúng tại miền quê.” Đức Cha Martin Munyanyi, GM giáo phận Gweru bên Zimbabwe ở miền nam Phi châu, cũng nói đến những bất công và nghèo đói đồng thời kêu gọi thực thi ḥa giải lâu bền và công bằng trong bối cảnh khó khăn ấy. Ngài nói: ”Giáo Hội tại Zimbabwe đánh giá rất cao tài liệu làm việc của Thượng HĐGM này, để ư đến những vấn đề mà đất nước chúng tôi rất quan tâm, như nạn nghèo đói, bạo lực, thái độ không nh́n nhận phụ nữ, trẻ em và các nhóm thiểu số, và cả những vấn đề liên quan đến công bằng trong Giáo Hội, như những điều kiện làm việc của những người làm việc cho Giáo Hội. ”Zimbabwe đă trải qua những kinh nghiệm xă hội chính trị rất khó khăn và vô nhân đạo, có từ thời thuộc địa và hậu thuộc địa, những vấn đề này cần cấp thiết được giải quyết. Trong khi t́m kiếm ḥa giải lâu bền, thật là điều sai lầm khi yêu cầu dân chúng phải quên đi quá khứ. “Cần có sự ḥa giải không những trong quốc gia nói chung nhưng cả trong Giáo Hội nữa, xét v́ chúng ta thấy sự căng thẳng gia tăng tại một số giáo xứ chúng tôi do sự khác biệt ngôn ngữ và chủng tộc. ”Tại Phi châu, khi chúng ta nói về công bằng, công lư, chắc chắn là chúng ta nói về những phe liên hệ, và gồm cả các gia đ́nh nữa. Các cộng đoàn cần tụ họp lại để thảo luận những vấn đề của ḿnh, theo phong tục của Phi châu. Cần có một sự công bằng phân phối và chữa lành trước khi một phe liên hệ bị tử vong. Các vấn đề công bằng trong Giáo Hội có liên hệ tỏ tường tới sự kiện các công nhân của chúng ta không được trả lương xứng đáng và có những linh mục sử dụng tiền bạc của Giáo Hội một cách sai trái, gây thiệt hại cho cộng đoàn. Ngoài ra trong Giáo Hội địa phương, vẫn c̣n những thành kiến đối với trẻ nữ, ví dụ trẻ nữ th́ bị phạt c̣n trẻ nam th́ không. Trong tư cách là Giáo Hội địa phương, chúng tôi đă thành lập các cơ cấu Ủy ban công lư và ḥa b́nh để cứu xét các khía cạnh lịch sử tiêu cực trong kinh nghiệm chúng ta. Toàn thể các công tác ấy phải bắt đầu từ gia đ́nh, như ĐTC Biển Đức 16 đă nói rất đúng: ”Gia đ́nh là nhà giáo dục đầu tiên và không thể thay thế được về ḥa b́nh.. v́ gia đ́nh giúp có được những kinh nghiệm quan trọng về ḥa b́nh”. Khi làm như thế, cần phải coi trọng những lời ĐGH Gioan Phaolô 2 đă nói: ”Không có ḥa b́nh nếu không có công lư, và không có công lư nếu không có tha thứ”. Đó là vương quốc công lư mà Tài liệu làm việc đă cổ vơ khi tóm tắt sứ điệp tin mừng về ḥa giải, công lư và ḥa b́nh”.
|